Viêm thanh quản cấp tính

T6, 09/10/2020

I. Đại cương:

Bệnh tích chủ yếu của viêm thanh quản là viêm niêm mạc. Quá trình viêm có thể khu trú ở niêm mạc hoặc lan xuống dưới từ xung huyết, phù nề, loét niêm mạc đến viêm cơ, hoại tử sụn. Viêm thanh quản cấp tính trên lam sàng thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau có thể xếp thành:

- Viêm thanh quản cấp tính ở người lớn.

- Viêm thanh quản cấp tính ở trẻ em.

- Viêm thanh quản hậu phát

- Phù nề thanh quản.

II. Viêm thanh quản cấp tính ở người lớn:

Trong viêm thanh quản cấp tính ở người lớn hay gặp.

- Viêm thanh quản xuất tiết.

- Viêm thanh quản cúm.

- Viêm thanh thiệt.

1. Viêm thanh quản cấp tính xuất tiết thông thường:

  • Nguyên nhân: Hay gặp mùa rét viêm thường nặng, bệnh tích có thể từ mũi xuống thanh quản, nam giới bị nhiều hơn nữ giới vì có điều kiện phát sinh như: hút thuốc, uống rượu, làm việc nơi nhiều bụi, gió lạnh.

Ngoài ra có nguyên nhân là virut.

  • Triệu chứng:

-         Toàn thân: ớn lạnh, đau mình, chân tay mỏi.

-         Cơ năng: Bắt đầu đột ngột bằng cảm giác khô họng, nuốt đau, tiếng nói khàn hoặc mất kèm theo ho, khạc đờm.

-         Thực thể: Niêm mạc xung huyết, dây thanh nề đỏ, lớp dưới niêm mạc phù nề, xuất tiết nhầy đặc đọng ở mép sau và dây thanh.

Bán liệt các cơ căng (cơ giáp phễu) và cơ khép (cơ bên phễu).

  • Diễn biến và điều trị: Bệnh tiến triển trong 3 - 4 ngày triệu chứng sẽ bớt đi, xung huyết nhạt dần, tiếng nói thường phục hồi chậm.
  • Điều trị:

-         Hạn chế nói.

-         Khí dung: KS + Corticoid.

-         Giảm ho.

-         Giảm đau.

-         Phun Adrenalin 1/1000.

-          Đông y ăn quả chanh non đã nướng.

2. Viêm thanh quản cúm:

  • Nguyên nhân: Viêm thanh quản do virut cúm hoặc virut phối hợp với vi khuẩn thông thường. Bênh tích thường lan xuống khí quản.
  • Triệu chứng: Hình thái lâm sàng của viêm thanh quản cúm rất phong phú nó thay đổi tuỳ theo loại vi khuẩn phối hợp.

-         Thể xuất tiết: Triệu chứng giống viêm thanh quản xuất tiết thông thường nhưng chúng ta nghĩ đến nguyên nhân cúm là vì có dich cúm, đôi khi chúng ta thấy những điểm chảy máu dưới niêm mạc (đây là dấu hiệu của viêm thanh quản cúm).

-         Thể phù nề: Thể này thường kế tiếp thể xuất tiết, thể phù nề ở thanh thiệt và mặt sau sụn phễu, niêm mạc bị căng bóng, đỏ, bệnh nhân nuốt đau và đoi khi khó thở.

-         Thể loét: Triệu chứng thực thể có những vết loét nông bờ đỏ ở sụn phễu, nẹp phễu thanh thiệt.

-         Thể viêm tấy: Sốt cao, mạch nhanh. Nuốt khó, đau họng, yiếng nói khàn, khó thử kiểu thanh quản. Vùng trước thanh quản bị sưng đau.

  • Tiên lượng và điều trị: Tuỳ theo bệnh tích và thể bệnh.

-         Thể xuất tiết tiên lượng tốt.

-         Thể phù nề, loét, hoại tử tiên lượng dè dặt.

-         Điều trị: Khí dung KS + Corticoid

Nếu có áp xe phải chích tháo mủ.

3. Viêm thanh thiệt phù nề:

Thanh thiệt là cánh cửa của thanh quản mặt trước rất dễ bị viêm hay phù nề.

  • Triệu chứng: Bệnh nhân có cảm giác bị vướng đờm, khi nuốt đau nhói lên tại. Soi thanh quản gián tiếp thấy thanh thiệt sưng mọng như môi cá mè.
  • Điều trị:

-         Chống viêm, giảm phù nề.

-         Phun thuốc Cocain + Adrenalin.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

VIÊM THANH QUẢN MẠN TÍNH

 

Viêm thanh quản mạn tính không có triệu chứng chức năng gì khác ngoại trừ khàn tiếng kéo dài không có xu hướng tự khỏi và phụ thuộc vào quá trình viêm thông thường không đặc hiệu, có nghĩa là không kể đén bệnh nhân lao thanh quản, giang mai, nấm thanh quản.

I. Nguyên nhân:

-         Do phát âm: Ca sĩ, giáo viên dễ bị viêm do thanh quản làm việc quá sức, phát âm không hợp với âm vực của mình.

-         Do đường hô hấp: Hít phải hơi hoá chất, viêm mũi, viêm xoang mạn tính, uống rượu, hút thuốc.

-         Do thể địa: Người bị bệnh gút, đái đường... có nhiều loại viêm thanh quản mạn tính nhưng có chung một trioêụ chứng là khàn tiếng.

II. Viêm thanh quản mạn tính xuất tiết: Thông thường là hậu quả của viêm thanh quản cấp tính tái diễn nhiều lần và sau mỗi một đợt viêm cấp tính lại khàn tiếng tăng.

  • Triệu chứng chức năng: Tiếng nói không vang, bệnh nhân phải cố gắng mới nói to đượng và chóng mệt về sau tiếng nói rè và khàn, bệnh nhân luôn phải đằng hắng buổi sáng do tiết nhầy ở thanh quản nhiều, ngoài ra bệnh nhân hay có cảm giác ngứa, cay, khô rát ttrong thanh quản.
  • Triệu chứng thực thể:

-         Tiết nhầy hay đọng ở điểm cố định ở 1/3 trước và 2/3 sau lúc bệnh nhân ho thì dịch nhầy đó sẽ rụng đi và tiếng nói được phục hồi trong trở lại.

-         Dây thanh cũng bị xung huyết ở mức độ nặng, hai dây thanh bị quá sản tròn như sợi dây thừng, niêm mạc mất bóng.

-         Các cơ căng hoặc cơ khép bị bán liệt.

  • Tiến triển: Bệnh kéo dài rất lâu, lúc tăng, lúc giảm nhưng không nguy hiểm.
  • Điều trị:

-         Giải quyết ổ viêm nhiễm ở mũi, xoang, tránh những hơi hoá chất.

-         Tại chỗ: Phun dung dich kiềm, bôi Nỉtat bạc vào dây thanh.

III. Viêm thanh quản quá phát:

Viêm thanh quản quá phát mà người ta gọi là dày da voi có sự qua phát của biểu mô và lớp đệm dưới niêm mạc, tế bào trụ có lông chuyển biến thành tế bào lát.

  • Triệu chứng chức năng giống như viêm thanh quản mạn tính xuất tiết thông thường: khàn tiếng, đằng hắng, rát họng khi nói nhiều.
  • Triệu chứng thực thể khi soi thanh quản thấy bốn loại bệnh tích:

-         Viêm thanh đai dày toả lan: thể này hay gặp loại thanh đai bị quá phát toàn bộ biến dạng tròn ginngs như sợi dây thừng màu đỏ.

-         Viêm thanh quản dày từng khoảng: trên dây thanh có những nốt sần đỏ, bờ dây thanh biến thành đường ngoằn ngoèo.

IV. Viêm thanh quản nghề nghiệp:

Những người sống bằng ngề phải nói nhiều: Ca sĩ, dạy học... thường bị viêm thanh quản nghề nghiệp do làm việc quá độ hoặc nói gào suốt ngày, trong giai đoạn đầu bệnh nhân nói không to được, bệnh nhân ráng sức thì sẽ lạc gịọng chứ không to hơn được. Soi thấy thanh quản xung huyết, về sau bệnh diễn biến theo một trong hai thể sau:

-         Viêm thanh quản mạn tính quá phát.

-         Viêm thanh quản hạt: U xơ nhỏ mọc ở bờ tự do của dây thanh (hạt xơ dây thanh).

V. Bạch sản thanh quản hay papillome

Bệnh tích chủ yếu là sự quá sản của các gai nhú được lớp niêm mạc sừng hoá che phủ.

-         Soi thanh quản thấy dây thanh một bên hoặc cả 2 bên có phủ lớp trắng như vôi hoặc lớp gai lổn nhổn ngắn và trắng. Bệnh này có khả năng ung thư hoá cao.

-         Điều trị: Nên coi là một bệnh tiền ung thư và xử trí bằng phẫu thuật mở thanh quản và cắt dây thanh.

VI. Viêm thanh quản teo:

Viêm thanh quản teo thường xuất hiện sau một số bệnh ở mũi và xoang nhưng nguyên nhân chủ yếu là do trĩ mũi (ozen).

-         Triệu chứng: Bệnh nhân có cảm giác khô rát họng, tiếng nói khàn tăng vào buổi sáng thỉnh thoảng có ho cơn khạc ra vẩy vàng, xanh, hơi thở có mùi hôi, niêm mạc thanh quản đỏ, khô có nếp nhăn tiết nhầy và vảy khô đọng ở mép liên phễu, dây thanh thường di động kém.

-         Bệnh diễn biến từng đợt ở phụ nữ sẽ giảm nhẹ trong thời kỳ thai nghén.

-         Điều trị: Phun dung dịch Beratnatri 10%. Chữa ozen mũi nếu có.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KHÓ THỞ THANH QUẢN

 

Khó thở thanh quản là một hội chứng rất hay gặp do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên đặc biệt ở trẻ em có nguy cơ gây tử vong vì thanh quản là nơi hẹp nhất đường hô hấp. Vì vậy đòi hỏi người thầy thuốc phải chẩn đoán nhanh và chính xác và kịp thời xử trí.

I. Đặc điểm của khó thở thanh quản.

-         Khó thở vào.

-         Khó thở nhịp chậm.

-         Có tiếng rit, có co kéo (co rút) ở hõm trên và dưới xương ức, khoang gian sườn.

II. Nguyên nhân của khó thở thanh quản.

2.1. Khó thở thanh quản do viêm nhiễm.

2.1.1.Viêm thamh quản bạch hầu: thường xuất hiện sau bạch hầu họng. Nguyên nhân do vi khuẩn bạch hầu. Đặc điểm của khó thở bạch hầu là khó thở từ từ  và tăng dần.

Lâm sàng:

-         Hội chứng nhiễm trùng: sốt vừa, số lượng bạch cầu đa nhân tăng cao.

-         Hội chứng nhiễm độc: da xanh tái, có hạch ở cổ và vùng góc hàm.

-         Khám họng: có giả mạc trắng ở họng, giả mạc trắng xám, khó bóc dễ chảy máu, không tan trong nước. Tốt nhất là tìm vi khuẩn bạch cầu. Để muộn khi giả mạc lan xuống thanh quản sẽ có viêm.

-         Dấu hiệu khó thở thanh quản diễn biến từ từ.

-         Nói, khóc giọng khàn.

-         Xuất hiện ho, có khi ho ông ổng.

Điều trị:

-         Nếu khó thở phải mở khí quản cấp cứu.

-         Điều trị bằng penicillin liều cao.

-         Huyết thanh chống bạch hầu.

-         Trợ tim.

-         Cần theo dõi sát và điều trị tại khoa truyền nhiễm.

2.1.2. Do lao: bệnh tích chủ yếu ở liên phễu thường gặp ở người lớn, thứ phát sau lao phổi. Toàn thân yếu, khó thở xuất hiện từ từ.

2.1.3. Do vivus (cúm hoắc sởi).

-         Đặc điểm: Viêm thanh, khí phế quản.

-         Lâm sàng: thường xuất hiện sốt 39 - 400 c. Khó thở thường xuất hiện nhanh, trong trạng thái nguy ngập: mặt xám, xanh tái, thở nông, cháu mệt mỏi. Bệnh này có tỷ lệ tử vong cao. Tất cả các dấu hiệu là viêm long đường hô hấp trên. Khi bị nặng sức đề kháng yếu sẽ dẫn tới bội nhiếm sẽ dẫn tới tình trạng khó thở thanh quản cần can thiệp.

 

  • Do cúm:

-         Đặc điểm: viêm thanh quản phù nề hạ thanh môn tién triển rất nhanh. Thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi, bắt đầu là viêm mũi họng (giống như cúm). Rồi xuất hiện khó thở thanh quản, khó thở ngày càng tăng, khó thở có tiếng rít, rồi có ho, giọng khàn.

-         Xử trí: cần tiêm ngay Depersolon 2mg/1kg  tiêm TM, đồng thời giải quyết nguyên nhân viêm nhiễm là tiêm kháng sinh nếu tiến triển xấu phải mở khí quản hoặc đặt nội khí quản.

  • Do sởi: sau khi sởi bay một tuần, có khi xuất hiện cùng với sởi. Chủ yếu là khàn tiếng, tếng ho ông ổng như chó sủa đột nhiên gây khó thở cấp tính

2.1.4. Viêm V.A (Viêm thanh quản rít).

Hay xẩy ra ở trẻ 3-6 tuổi xuất hiện ban đêm. Em bé đột nhiên thức dậy, với hiện tượng khó thở kịch phát, thanh môn như bị co thắt- cơn khó thở xuất hiện trong vài phút, rồi cơn khó thở qua đi, em bé ngủ trở lại. Hôm sau trong trạng thái bình thường. Cơn khó thở có thể xuất hiện trở lại vào những đêm sau, nguyên nhân có thể là do viêm V.A, các cháu này nên nạo V.A.

2.2. Khó thở thanh quản do dị vật thanh quản.

  • Đặc điểm:

-         Có hội chứng xâm nhập, đột nhiên ho dữ dội.

-         Do các dị vật bằng kim loại như đinh gim, kim băng, nắp bút ...

-         Do hít phải  thức ăn khi ăn: như cơm, bột ...

-         Do các dị vật sống khi đi rừng hít phải các loại côn trùng sống ở suối như: tắcte, vắt rừng.

  • Đề phòng: Bằng cách chú ý trông nom các cháu nhỏ chu đáo.

2.3. Khó thở thanh quản do các khối u thanh quản.

Có thể khối lành tính hoặc ác tính xuất phát từ lòng thanh quản như: papilome, pôlip, hoặc bên ngoài thanh quản như: ung thư hạ họng, áp xe thành bên họng ở sâu.

2.4. Khó thở thanh quản do chấn thương thanh quản và sẹo hẹp thanh quản.

-         Chấn thương do đụng dập hoặc phù nề thanh quản như: mảnh bom, đạn, tai nạn giao thông, tai nạn lao động...

-         Sẹo hẹp thanh quản: sau chấn thương, sau mở khí quản, sau phẫu thuật ở thanh quản.

2.5. Khó thở thanh quản do dị vật bẩm sinh ở thanh quản: mền sụn thanh quản.

2.6. Khó thở thanh quản do nguyên nhân thần kinh.

  • Liệt các cơ mở thanh quản (cơ nhẫn phễu sau  do liệt dây hồi qui)
  • Liệt cơ khép thanh quản:

-         Cơ giáp phễu.

-         Cơ liên phễu.

-         Cơ nhẫn phễu bên

3. Thái độ xử trí.

3.1. Viêm thanh quản rít: xẩy ra ban đêm, chỉ cần chăm sóc tại nhà.

3.2. Viêm thanh quản cấp: chỉ khàn tiếng không có khó thở xảy ra trong viêm mũi họng, chỉ chăm sóc tại nhà và điều trị viêm mũi họng.

3.3. Có viêm phổi, viêm phế quản: thở nhanh, khó thở hai thì và nhịp thở > 50 lần/1 phút, co rút lõm xương ức và cơ liên sườn nhất thiêt phải gửi đi bệnh viện cấp cứu. Trước khi gửi đi nên tiêm kháng sinh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dịch vụ thiết kế website wordpress