Phương pháp khám mũi xoang

T6, 09/10/2020

Bao gồm:

- Hỏi ng­ời bệnh.

- Khám thực thể.

- Khám chức năng.

 

1. Hỏi bệnh.

Bệnh nhân khi khám mũi xoang có nhiều lý do: ngạt mũi, chảy mũi, hoặc không ngửi đ­ợc, khạc ra đờm hoặc bị đau đầu, mờ mắt, mỏi gáy...

Để biết rõ về bệnh: Thời gian khởi phát, diễn biến và hiện trạng của bệnh, đã diều trị thuốc gì  chủ yếu là của các chứng đ­a ng­ời bệnh đến khám, ngoài ra còn cần hỏi tình trạng nghề nghiệp và gia đình để thấy đ­ợc các nguyên nhân, liên quan gây bệnh.

Các triệu chứng chính:

- Ngạt, tắc mũi: là triệu chứng chính của mũi, thời gian và mức độ ngạt tắc mũi, 1 hay 2 bên, có liên quan đến thời tiết, đến t­ thế đầu và các triệu chứng khác.

- Chảy mũi: Tính chất, mức độ và thời gian chảy, diễn biến và liên quan đến thời tiết, đén các yếu tố khác và các triệu chứng khác.

- Ngửi: Những biến đổi về ngửi, thời gian, mức độ và liên quan đến các triệu chứng khác.

- Đau: Cũng th­ờng gặp, do tự phát hay khi gây ra, tính chất, vị trí, mức độ  và thời gian đau, liên quan đến các triệu chứng khác, mức độ lan, có gây nhức đầu hay không?

2. Khám thực thể mũi.

Dụng cụ khám  mũi;

Đèn Clar  (g­ơng trán)

Đè l­ỡi

G­ơng soi vòm

Soi mũi Speulum các cỡ

2.1. Khám ngoài:

Nhìn và sờ nắn gốc mũi, sống mũi, cánh mũi, ấn mặt tr­ớc các xoang để phát hiện các dị hình, biến dạng, biến đổi và điểm đau.

2.2. Khám trong:

- Tiền đình mũi: Dùng ngón tay nâng đỉnh mũi lên để quan sát vùng tiền đình mũi xem có nhọt, viêm loét...

- Soi mũi tr­ớc: Dùng mở mũi, khám hốc mũi bên nào cầm dụng cụ bằng tay bên ấy. Đ­a nhẹ mở mũi vào hốc mũi ở t­ thế khép, khi vào trong hốc mũi, mở cánh soi mũi rộng ra. Nhìn theo hai trục ngang và trục đứng. Th­ờng cuốn mũi d­ới hay bị nề, che lấp hốc mũi, khi đó phải đặt một mảnh bông nhỏ thấm dung dịch gây co nh­: ephedrin, naphtasolin, xylocain 1 - 2 phút, sau khi gây co khám lại để quan sát kỹ và đày đủ hơn.

X­ơng xoăn d­ới: nhẵn, màu hồng hay đỏ nhạt, ­ớt co hồi tốt khi đặt thuốc gây co.

X­ơng xoăn giữa: nhẵn, màu trắng hồng.

Khe giữa, d­ới và sàn: sạch, không có dịch, mủ ứ dọng, niêm mạc nhẵn hồng nhạt.

Vách ngăn: thẳng, chân hơi phình thành gờ, niêm mạc màu hồng nhạt, nhẵn, ­ớt.

- Soi mũi sau: Nhằm quan sát gián tiếp (qua g­ơng soi) vùng vòm họng, cửa lỗ mũi sau, loa và miệng d­ới của vòi tai. Dùng đè l­ỡi và g­ơng soi mũi sau (đ­ờng kính 1 - 2 cm).

Cách soi:

Bệnh nhân: Ngồi thẳng, l­ng rời khỏi tựa ghế.

Thầy thuốc: Tay trái cầm đè l­ỡi nh­ khi khám họn, tay phải cầm g­ơng soi. Tr­ớc hết hơ nhanh g­ơng trên ngọn lửa đèn cồn (kiểm tra g­ơng không quá nóng) để hơi n­ớc không đọng làm mờ g­ơng. Đ­a nhẹ g­ơng vào họng, lách qua l­ỡi gà rồi quay mặt g­ơng chếch lên trên, cán g­ơng nằm ngang. Khi đ­a g­ơng vào bảo bệnh nhân thở bằng mũi để vòm không bị co hẹp lại, nếu có n­ớc bọt che vòm bảo bệnh nhân nói a, a, a ... làm mất đi.

L­u ý: Trong khi soi cố tránh không để g­ơng chạm vào thành họng gây phản xạ buồn nôn. Nếu bệnh nhân có phản xạ nhiều, nên gây tê vùng họng l­ỡi bằng xylocain 3 - 6% (phun hoặc bôi).

Ngoài ra cần kiểm tra vòm bằng cách dùng ngón tay trỏ sờ vòm để phát hiện các khối u, V.A. Nên nhớ chỉ đ­ợc sờ vòm khi không có viêm cấp ở mũi họng.

3. Khám thực thể xoang.

- Nhìn: mặt tr­ớc xoang, hố nanh, rãnh mũi má, rãnh mũi mắt, gốc mũi, góc trong hốc mắt xem có bị nề, phồng, biến đổi không.

- Tìm điểm đau: ấn nhẹ ngón tay lên.

Điểm đau ở hố nanh (xoang hàm): vùng má, cạnh cánh lỗ mũi.

Điểm đau Grun - wald (xoang sàng tr­ớc): vùng góc trên trong hốc mắt.

Điểm đau Ewing (xoang trán): gờ trên trong cung lông mày. Cần so sánh hai bên để có cảm giác đau chính xác.

- Soi bóng mờ: Dùng đèn soi bóng mờ (nh­ đèn pin) thực hiện trong buồng tối, để bệnh nhân ngậm đèn trong miệng, h­ớng nguồn sáng ra phía mặt. Với xoang hàm bình th­ờng, nguồn sáng đi qua tao thành bóng sáng hình tam giác ở d­ới ổ mắt. Để nguồn sáng áp vào thành trên ổ mắt h­ớng nguồn sáng lên trán, nếu xoang trán bình th­ờng sẽ có một bóng sáng ở vùng trong cung lông mày.

Ph­ơng pháp soi bóng mờ không cho kết quả chính xác, rõ ràng nên hiện nay ít đ­ợc áp dụng.

 

 

- Chọc dò xoang hàm: Xoang hàm có lỗ thông với hốc mũỉ khe giữa, dùng một kim chọc qua vách x­ơng ngăn mũi xoang ở khe d­ới để vào xoang hàm. Qua đó có thể hút để quan sát chất ứ đọng trong xoang, thử tìm vi khuẩn hoặc tế bào học. Cũng có thể bơm n­ớc ấm hay dung dịch sinh lý vào xoang để n­ớc chảy ra qua lỗ mũi xoang ở khe giữa. Trong tr­ờng hợp viêm xoang thấy có mủ hay bã đậu chảy theo n­ớc ra.

Ph­ơng pháp này đơn giản, cho chẩn đoán xác định lại kết hợp với điều trị nên th­ờng đ­ợc dùng. Cần nhớ rằng không đ­ợc tiến hành khi đang trong tình trạng viêm cấp.

4. Khám chức năng.

- Khám chức năng thở: Đơn  giản nhất là cho thở trên mặt g­ơng. Dùng g­ơng gladen là một tấm kim loại mạ kền sáng bóng có các vạch hình nửa vòng tròn đồng tâm và một vạch thẳng chia đôi đúng giữa. Để g­ơng khít tr­ớc mũi bệnh nhân, vạch thẳng t­ơng ứng với tiểu trụ, g­ơng nằm ngang. Khi thở ra có hơi n­ớc sẽ làm mờ g­ơng. Theo mức độ g­ơng bị mờ để đánh giá chức năng thở. Nếu g­ơng không bị mờ là mũi bị tịt hoàn toàn. Cũng có thể dùng g­ơng soi th­ờng để thử.

Ng­ời ta còn dùng khí mũi kế (rhinomanometric) để đo áp lực thở của từng hốc mũi đ­ợc cụ thể hơn hoặc có thể ghi lại trên giấy để có bằng chứng.

- Khám chức năng ngửi: Th­ờng dùng ngửi kế bằng cách đ­a vào từng hốc mũi 1 khối l­ợng không khí có nồng độ nhất định của 1 chất có mùi để tìm ng­ỡng ngửi của từng chất. Thực hiện với một số chất có mùi khác nhau và so sánh với các ng­ỡng bình th­ờng để có nhận định về mức độ ngửi của ng­ời bệnh.

Cần phân biệt các chất có mùi và chất kích thích nh­ ête, amôniac... có những ng­ời còn biết kích thích nh­ng có thể mất ngửi. Th­ờng dùng các chất có mùi quen thuộc nh­: mùi thơm, chua, thức ăn.

5. Chụp X - quang: Hai t­ thế cơ bản là:

¨     T­ thế Blondeau (mũi cằm phim).

Bình th­ờng:

- Hốc mũi có khoảng sáng của khe thở rõ.

- Các xoang hàm, trán, b­ớm sáng đều (so với ổ mắt), có thành x­ơng đều rõ.

Bệnh lý:

- Khe thở của hốc mũi bị mất, hẹp lại do khối u hay cuốn mũi quá phát.

- Cãc xoang hàm hay trán bị mờ đều do niêm mạc phù nề, mờ đặc do mủ trong xoang, bờ dày, không đều do niêm mạc dày, thoái hoá thành x­ơng có chỗ bị mất, không rõ: nghi u ác tính.

¨      T­ thế Hirtz: Là t­ thế ngửa hay cằm - đỉnh phim. Trên phim 2 cung răng hàm trên và hàm d­ới trùng với nhau để bộc lộ xoang sàng. Hình chiếu hai xoang sàng tr­ớc và sau trên cùng một bình diện, mốc phân định là khe 2 răng hàm số 6 và 7.

Bình th­ờng: Các xoang sàng tr­ớc và sau sáng đều, có các vách ngăn của các tế bào sàng rõ.

Bệnh lý: Trên phim hirtz các vách ngăn sàng không rõ hay bị mất đi, các tế bào sàng mờ đều hay mờ đặc do niêm mác dày, có mủ.

Khi nghi ngờ có dị vật: cần chụp thêm t­ thế sọ nghiêng để xác định vị trí cụ thể.

Khi nghi ngờ có khối u, pôlip trong xoang hàm: bơm chất cản quang vào xoang để chụp phát hiện.

C.T.Scan vùng xoang: để đánh giá bệnh tích một cách rõ ràng và chính xác, phục vụ cho chẩn đoán và điều trị .

 

 

 

 

 

 

 

 

Dịch vụ thiết kế website wordpress