1. Đại cương về dịch tễ học
Dịch tễ học (DTH) là khoa học lý luận cơ bản của y học và được ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu khoa học cũng như trong thực tiễn lâm sàng. Có thể coi DTH là một môn học quan tâm tới sự tương tác giữa cơ thể con người và môi trường. Sức khỏe của con người là sản phẩm của mối tương tác đó. Sự tương tác đó có thể mang tới kết quả hoặc là tích cực (khỏe mạnh) hoặc là tiêu cực (bệnh, chết). Dịch tễ học có nhiệm vụ khảo sát, trình bày các hiện tượng đó, cho nên có thể nhấn mạnh rằng: DTH không phải chỉ có liên quan tới truyền nhiễm; không phải chỉ là khoa học của các vụ đại dịch; cũng không phải chỉ là nghiên cứu về vi sinh học hay chỉ quan tâm tới tìm nguyên nhân bệnh hoặc thống kê ứng dụng chính sách y tế mà DTH có một tầm nhìn rộng hơn, tổng quát hơn, quan tâm tới tất cả các yếu tố sinh học, môi trường, xã hội học liên quan tới con người; nhằm tìm ra sự can thiệp tốt nhất có lợi cho cuộc sống cộng đồng .
Dịch tễ học có thể được xem xét dựa trên hai giả định cơ bản (1) bệnh tật ở con người không xảy ra một cách tình cờ, ngẫu nhiên; (2) bệnh tật ở con người có các yếu tố nguyên nhân và các yếu tố phòng ngừa có thể được xác định dựa trên khảo sát một cách hệ thống các quần thể người khác nhau hoặc các nhóm người thuộc các quần thể khác nhau, tại các địa điểm khác nhau, hoặc tại các thời điểm khác nhau .
Điều này đưa tới một định nghĩa tổng hợp, toàn diện về dịch tễ học: “ Dịch tễ học là khoa học nghiên cứu sự phân bố và xác định tần suất xuất hiện của bệnh trong quần thể loài người” .
2. Bệnh lao và các phương pháp nghiên cứu dịch tễ học
Bệnh lao là một bệnh có từ rất lâu đời, có thể nói bệnh lao gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người, bằng chứng cho thấy người ta đã phát hiện ra di tích bệnh lao xương trong các xác ướp Ai Cập cổ đại cách đây hàng ngàn năm .
Từ thời kỳ Hypocrate {Thế kỷ thứ V trước công nguyên (600-372 tr.CN)} đã đề cập đến bệnh lao, nhưng chưa phân biệt được với các bệnh phổi khác. Vào thời kỳ đó bệnh đã gây ra thảm họa lớn, cứ 7 người chết thì trong đó có 1 người chết do lao và người ta đã gọi đó là bệnh "Dịch hạch trắng".
Năm 1882 (ngày 24/3) Robert Koch (người Đức) đã tìm được nguyên nhân gây bệnh lao là một loại trực khuẩn bằng một phương pháp nhuộm đặc biệt (nhuộm Ziehl Neelsen) và gọi là trực khuẩn lao, viết tắt là BK (Bacillus de Koch). Ông cũng tìm ra được chất Tuberculine và hiện tượng Koch (năm 1893) đã mở đầu cho việc nghiên cứu miễn dịch học bệnh lao sau này .
Năm 1908 Mantoux đã dùng phương pháp tiêm Tuberculine trong da để phát hiện sự nhiễm lao, đến nay vẫn còn là phương pháp được dùng phổ biến .
Từ 1908, Calmette và Guérin bắt đầu nghiên cứu và công bố tìm ra vaccine BCG có tác dụng phòng ngừa bệnh lao vào năm 1921 (sau 13 năm nghiên cứu) .
Vào thập niên 80, 90 của thế kỷ XX người ta đã áp dụng những phương tiện kỹ thuật hiện đại giúp cho việc chẩn đoán bệnh lao như: ELISA, PCR (polimerase chain reaction) và cho đến những kĩ thuật sinh học phân tử nghiên cứu về cấu trúc gene của vi khuẩn lao đã có những bước nhảy vọt như kĩ thuật Hain’s test, GeneXpert cho phép chẩn đoán chính xác và nhanh bệnh lao cũng như xác định tính kháng thuốc của vi khuẩn lao .
Những kĩ thuật đó đã góp phần cho việc nghiên cứu dịch tễ học bệnh lao ngày một chính xác và có bằng chứng khoa học .
Tuy nhiên còn một khía cạnh cơ bản của dịch tễ học bệnh lao là những biện pháp can thiệp nhằm kiểm soát bệnh. Đó là phương pháp can thiệp điều trị bệnh. Mãi đến năm 1944 Waksman tìm ra Streptomycine, là thuốc được dùng trong điều trị các vết thương của các binh sĩ trong chiến tranh Thế giới II, nhưng phát hiện ra có tác dụng để chữa bệnh lao. Năm 1952 hiệu quả điều trị lao của rimifon (INH, Isoniazide) được xác định mặc dù thuốc đã được phát hiện từ năm 1912. Năm 1952 pirazinamide (PZA) được sử dụng điều trị lao song thuốc chỉ được đánh giá cao về hiệu quả điều trị lao vào năm 1978 sau khi đã hiểu rõ cơ chế tác dụng của thuốc. Năm 1961 thuốc ethambutol (EMB) được phát hiện. Vào năm 1965 người ta đã bán tổng hợp được rifampicine (RMP) là một loại thuốc kháng lao mạnh. Từ khi có thuốc RMP, thời gian điều trị được rút ngắn xuống còn 6-8 tháng đối với lao phổi mới phát hiện .
Khác với một số bệnh truyền nhiễm khác, tính “xã hội” của bệnh lao rất rõ nét. Bệnh lao tồn tại ở khắp mọi nơi trên thế giới, bất kì ở đâu, bất kì thời gian nào, với các mức độ lưu hành rất khác nhau. Con người ở bất kì lứa tuổi nào, giới tính nào, tầng lớp xã hội nào, nghề nghiệp nào đều có thể nhiễm và mắc bệnh lao. Vi khuẩn lao có thể gây bệnh bất cứ tại cơ quan nào của cơ thể con người; tại phổi, ngoài phổi, xương khớp. Bệnh lao có thể biều hiện cấp tính hoặc mạn tính. Khả năng lây truyền từ người sang người có thể rất mạnh (các thể lao phổi) hoặc không lây truyền (các thể lao ngoài phổi). Do vậy, đánh giá dịch tễ lao phụ thuộc rất nhiều các yếu tố và dịch tễ bệnh lao rất khác nhau ở mỗi vùng, mỗi quốc gia, mỗi tộc người .
Dịch tễ học bệnh lao là nghiên cứu tình hình nhiễm (infection) mức độ lưu hành của bệnh (morbidity), tình hình tử vong (mortality) và các yếu tố nguy cơ (risk factors) của bệnh lao và ứng dụng những hiểu biết đó trong công tác nghiên cứu, phòng và chống bệnh lao.
2.1. Một số định nghĩa về phân loại bệnh lao
- Xác định một trường hợp bệnh lao: là người có Mycobacterium tuberculosis complex được phân lập từ bệnh phẩm lâm sàng (kể cả bằng phương pháp cấy cổ điển hoặc từ các phương pháp sinh học phân tử hiện đại mới). ở các quốc gia không có đủ điều kiện các phòng xét nghiệm hiện đại để định danh Mycobacterium tuberculosis thì có thể sử dụng phương pháp soi đờm, nếu có 1-2 mẫu đờm có trực khuẩn kháng cồn, kháng toan (AFB) thì được coi là một ca bệnh. Tuy nhiên năng lực của phòng xét nghiệm đó cần phải được kiểm định chất lượng "từ bên ngoài" (External Quality Assessment-EQA) .
- Xác định ca bệnh: theo định nghĩa trên hoặc khi người bệnh đó được một bác sĩ chuyên khoa lao chẩn đoán là lao và được điều trị thuốc lao đủ liệu trình .
- Xác định một trường hợp lao phổi: là người bệnh có phổi bị tổn thương do vi khuẩn lao gây ra .
- Xác định một trường hợp lao phổi AFB (+): người bệnh có 1 hoặc 2 mẫu đờm ban đầu khi soi bằng kính hiển vi cho kết quả dương tính, hoặc có 1 mẫu đờm dương tính cùng với hình ảnh tổn thương trên Xquang được bác sĩ chuyên khoa xác định là tổn thương do lao hoạt động. Những bệnh nhân có AFB trong đờm là nguồn lây cho cộng đồng nên đó là đối tượng ưu tiên phát hiện và quản lý của Chương trình chống lao quốc gia .
- Xác định một trường hợp lao phổi AFB(-): là những bệnh nhân lao phổi không có các tiêu chuẩn vi khuẩn học như trên .
Lao phổi AFB (-) được xác định bằng:
- ít nhất có 2 mẫu đờm âm tính nhưng có tổn thương trên Xquang được bác sĩ chuyên khoa xác định là tổn thương lao hoạt động .
- Có kết quả AFB (-) khi soi kính hiển vi nhưng có Mycobacterium tuberculosis khi nuôi cấy .
- Không đáp ứng với một liệu trình kháng sinh phổ rộng (trừ bệnh nhân có HIV) .
- Đã được bác sĩ chuyên khoa điều trị hoàn chỉnh một phác đồ chống lao .
- Lao ngoài phổi: Là một bệnh nhân có tổn thương do lao gây ra ở một hay nhiều cơ quan khác ngoài phổi (màng phổi, màng não, hạch bạch huyết, ổ bụng, xương khớp, tiết niệu sinh dục). Tiêu chuẩn xác định là có nuôi cấy hoặc mô bệnh học của bệnh phẩm lấy từ bộ phận bị bệnh của cơ thể, được xác định là do lao; hoăc đã được bác sĩ chuyên khoa điều trị đầy đủ một liệu trình thuốc lao. Một bệnh nhân có cả lao phổi và lao ngoài phổi sẽ được xếp loại là lao phổi .
- Lao đa kháng thuốc (MDR-TB): là bệnh nhân lao có vi khuẩn kháng đồng thời với ít nhất 2 loại thuốc là rifampicin và isoniazid .
- Lao đa kháng thuốc mở rộng (Extensively Drug resistant TB) hay lao siêu kháng thuốc: Là trường hợp lao đa kháng thuốc (MDR) và kháng thêm một thuốc bất kì thuộc họ quinilon và ít nhất 1 trong các thuốc chống lao hàng thứ 2 dạng tiêm như kanamycin, capreomycin, hoặc amikacin .
- Lao phổi mới: Là một bệnh nhân lao chưa bao giờ được điều trị bằng thuốc chống lao hoặc đã được điều tri dưới 01 tháng .
- Lao tái phát: Lao tái phát được xác định là những người trước kia mắc lao đã được chữa khỏi hoặc hoàn thành điều trị, nay bị mắc lại. Lao tái phát có thể là tái phát thực sự hoặc tái nhiễm .
- Lao điều trị lại: Có 3 thể bệnh của “lao điều trị lại”. (i) Điều trị lại sau thất bại lần điều trị trước đó (điều trị sau thất bại). (ii) Điều trị lại sau bỏ trị và (iii) điều trị lao tái phát .
2.2.Các chỉ số phản ánh tình trạng nhiễm lao
2.2.1. Tỷ lệ nhiễm lao:
Định nghĩa: là tỷ lệ % số người nhiễm vi khuẩn lao (người có phản ứng với tuberculin dương tính) trong một quần thể (thường tính trong một độ tuổi nhất định) tại một thời điểm xác định .
ý nghĩa của tỷ lệ nhiễm lao: cho biết mức độ bị lây nhiễm lao trong cộng đồng dân cư, phản ánh tình trạng tồn tại nguồn lây trong cộng đồng .
Phương pháp xác định: điều tra tỷ lệ nhiễm lao trong cộng đồng thường sử dụng phản ứng với tuberculin (Phản ứng Mantoux) .
2.2.2. Nguy cơ nhiễm lao hàng năm (Chỉ số R-Annual Risk of Tuberlulus Infection-ARTI)
Định nghĩa: là khả năng một người khỏe mạnh có thể bị nhiễm lao mới hoặc tái nhiễm lao trong khoảng thời gian 1 năm .
Được ước tính dựa trên tỷ lệ nhiễm lao qua điều tra nhiễm lao trẻ em .
Theo K.Styblo, tỷ lệ ARTI được tính như sau:
ARTI ( R) = 1-(1-P) 1/A
Trong đó R : là nguy cơ nhiễm lao hàng năm
P : Tỷ lệ nhiễm lao của quần thể
A : Tuổi trung bình của quần thể được điều tra
ý nghĩa: đánh giá gián tiếp tình hình bệnh lao và xu hướng dịch tễ của bệnh lao. Khi so sánh kết quả nguy cơ nhiễm lao ở các giai đoạn khác nhau có thể cho biết xu hướng dịch tễ lao tăng hay giảm. Trong một thời gian dài, chỉ số này được coi là chỉ số tin cậy để ước tính tỷ lệ mới mắc lao trong cộng đồng; R=1% tương đương với tỷ lệ người bệnh lao phổi có vi khuẩn lao trong đờm (AFB+) mới mắc hàng năm là 50/100.000 dân. Tuy nhiên hiện nay chỉ số này bị tác động bởi nhiều yếu tố, nên độ tin cậy để dùng cho ước tính số bệnh nhân lao không được đánh giá cao .
2.2.3. Chỉ số giảm nguy cơ nhiếm lao hàng năm (A)
Khi xác định được chỉ số R ở các thời điểm khác nhau (thường từ 5-10 năm), có thể áp dụng công thức tính mức độ giảm nguy cơ nhiếm lao:
A=1-(Rt/Ro)1/t.
A: là chỉ số giảm nguy cơ nhiếm lao hàng năm
t: là khoảng cách giữa 2 lần nghiên cứu điểu tra nguy cơ nhiếm lao
Ro: Chỉ số nguy cơ nhiếm lao của lần điều tra trước
Rt: Chỉ số nguy cơ nhiếm lao của lần điều tra ở năm “t”.
Tại các nước phát triển, điều kiện kinh tế xã hội tốt, chỉ số A giảm nhiều >5% mỗi năm .
2.3. Các chỉ số phản ánh tình trạng mắc lao
2.3.1. Tỷ lệ hiện mắc (Prevalence)
Định nghĩa: là toàn bộ số người hiện mắc bệnh lao (tất cả các thể) trong một quần thể dân số nhất định, tại một thời điểm giữa một năm .
Kí hiệu: P (prevalence)
Đơn vị tính : số người hiện mắc/100.000 dân
Phương pháp: điều tra dịch tễ lao
P= Số người mắc bệnh hiện có/dân số trong thời gian x 100.000
ý nghĩa : Tỷ lệ hiện mắc cho thấy mức độ trầm trọng của bệnh về số lượng nguồn lây đang lưu hành trong cộng đồng dân cư, xu hướng dịch tễ và hiệu quả của chương trình chống lao .
2.3.2. Tỷ lệ mắc mới hàng năm (Incidence).
Định nghĩa: là số người mới mắc bệnh lao (mới lần đầu mắc lao và lao tái phát) của một quần thể nhất định trong 1 năm .
Kí hiệu: I (Incidence)
Đơn vị tính: số người mắc bệnh mới xuất hiện trong năm/100.000 dân.
Phương pháp: điều tra dịch tễ lao
I = số người mắc bệnh mới xuất hiện trong năm/Dân số x 100.000
ý nghĩa: biểu hiện mức độ lưu hành nặng nề của bệnh lao. Có 4 loại mắc mới cần chú ý:
- Mắc lao phổi mới AFB(+) bằng soi trực tiếp
- Mắc lao phổi mới AFB(+) bằng nuôi cấy
- Mắc lao phổi mới AFB(-)
- Mắc lao ngoài phổi mới.
Trong đó quan trọng nhất là chỉ số mắc mới của lao phổi có AFB(+) bằng soi trực tiếp, vì có thể dựa vào nó dể phân loại mức độ dịch tễ lao.
2.3.3. Quan hệ giữa tỷ lệ hiện mắc (P) và tỷ lệ mới mắc(I)
Về phương diện dịch tễ, 2 tỷ lệ có mối quan hệ hữu cơ, phụ thuộc vào thời gian mang bệnh.
P = I x D (D là thời gian mang bệnh)
Với bệnh lao, thời gian mang bệnh là thời gian còn vi khuẩn lao trong cơ thể người bệnh và có thể phát hiện qua xét nghiệm đờm.
Giả sử người bệnh lao được phát hiện ngay khi mắc bệnh và được điều trị bằng thuốc chống lao trong 2 tháng tấn công, sau 2 tháng xét nghiệm đờm không còn vi khuẩn lao, không còn khả năng lây cho người khác, khi đó:
P = 2I.
Và giả sử ta có thuốc chống lao mới, mạnh và hiệu lực trong vòng 1 tháng có thể tiêu diệt sạch vi khuẩn lao trong cơ thể người bệnh, thì lúc đó P = I, có nghĩa là tỷ lệ mắc lao mới chính là tỷ lệ hiện mắc và ngược lại. Dịch tễ lao lúc đó trở nên đơn giản hơn và dễ kiểm soát hơn rất nhiều. Đây cũng là mục tiêu của những nghiên cứu nhằm tìm ra vac xin có thể phòng bệnh có tính bền vững, tìm ra các phương pháp phát hiện bệnh nhanh nhất và chính xác nhất và tìm ra các thuốc chống lao mới với hiệu lực mạnh nhất, điều trị bệnh lao khỏi nhanh nhất .
2.4. Tỷ lệ chết do lao
2.4.1. Tỷ lệ chết do lao trong cộng đồng (M- Mortality Rate)
Là tỷ lệ người bệnh lao chết trong một quần thể dân cư trong một khoảng thời gian xác định (thường là 1 năm) nhưng không bao gồm những bệnh nhân đồng nhiễm lao HIV bị tử vong theo định nghĩa được sử dụng trong ICD-10. Những người lao đồng nhiễm HIV bị tử vong sẽ được thống kê riêng .
Đơn vị tính: Số bệnh nhân lao chết do lao mà HIV âm tính /dân số .
Phương pháp: Qua thống kê báo cáo của việc theo dõi, giám sát ca bệnh khi người bệnh lao đang được quản lí .
M = Số người chết do lao trong 1 năm/ dân số x100.000 .
2.4.2. Tỷ lệ chết trong điều trị lao.(F- fatality rate)
Là tỷ lệ người bệnh lao bị chết trong quá trình điều trị lao do bất kì nguyên nhân gì .
F = số người bệnh lao bị chết trong thời gian điều trị/ Tổng số bệnh nhân lao đang quản lí x 100 .
2.5. Một số chỉ số dịch tễ khác
Do dịch tễ bệnh lao chịu tác động từ rất nhiều các yếu tố xã hội khác, cho nên cần được xem xét trên nhiều góc độ như mức thu nhập bình quân đầu người của một quốc gia, mức sống của các nhóm dân cư, hoặc của từng lứa tuổi, giới tính, mối quan hệ giữa các bênh khác như đái đường, HIV, lao kháng thuốc .
2.5.1. Tỷ lệ đồng nhiễm HIV trong bệnh nhân lao (HIV/TB rate)
Định nghĩa: Là tỷ lệ phần trăm người bệnh lao có HIV trong tổng số bệnh nhân lao. Bằng cách thống kê qua sang lọc bằng H test của các bệnh nhân lao tại các điểm tư vấn xét nghiêm HIV tự nguyện hoặc qua giám sát trọng điểm .
HIV/TB rate = % Số bệnh nhân lao có HIV(+)/ Tổng số bệnh nhân lao được quản lý.
ý nghĩa : Cho biết mức độ ảnh hưởng của HIV tới mực độ năng nề của bệnh lao trên 2 góc độ chẩn đoán và điều trị (khó phát hiện và khó điều trị, tỷ lệ tử vong sẽ cao) .
2.5.2. Tỷ lệ bệnh lao kháng thuốc
Định nghĩa: Là tỷ lệ % của những người bệnh mang vi khuẩn lao kháng thuốc/ tổng số người bệnh lao được điều tra tại một thời điểm .
Tỷ lệ lao kháng thuốc = % số người bệnh có vi khuẩn lao kháng thuốc/số người bệnh được nuôi cấy đờm vi khuẩn lao dương tính.
ý nghĩa: Phản ảnh mức độ kháng thuốc, tỷ lệ các loại thuốc chống lao bị kháng. Giúp cho mỗi quốc gia hoạch định chính sách phòng chống lao, hạn chế mức độ kháng thuốc và đa kháng thuốc, lựa chọn các phác đồ phối hợp thuốc thích hợp.
2.5.3. Chỉ số Lao màng não trẻ em <4 tuổi
Định nghĩa: Là số mắc lao màng não ở trẻ < 4 tuổi trong quần thể trẻ cùng lứa tuổi trong một khoáng thời gian .
ý nghĩa: Là chỉ số gián tiếp đánh giá mức độ nặng nề của bệnh lao của quốc gia .
3. Dịch tễ lao trên thế giới
Từ năm 1997 tới nay (2012) đã 16 lần Tổ chức Y tế thế giới có báo cáo dịch tễ lao hàng năm dựa trên các số liệu của 198 quốc gia trên toàn cầu, phân tích dựa trên các yếu tố kinh tế, xã hội, các điều tra cơ bản. Những báo cáo đó đã cung cấp những thông tin cập nhật tình hình dịch tễ và xu hướng bệnh lao toàn cầu với độ bao phủ hơn 99% các ca bệnh lao trên toàn thế giới .

3.1.Tỷ lệ mắc mới
Theo số liệu của báo cáo năm 2011 của Tổ chức y tế thế giới, trong năm 2010 có khoảng 8,8 triệu trường hợp lao mới (incident cases) được phát hiện. Những số liệu hàng năm cho thấy có những dấu hiệu đáng lưu ý trong dịch tễ lao thế giới .
Mặc dù số lượng tuyệt đối các ca bệnh đang giảm dần từ năm 2006, (năm 2009 có khoảng 9,4 triệu người mắc mới thì năm 2010 giảm xuống 8,8 triệu người) song hầu hết số bệnh nhân lao vẫn còn cao thuộc các nước trong khu vực châu á (55%) và châu Phi (30%). Có tới 81% số bệnh nhân lao thuộc 22 quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao nhất (Afghanistan, Bangladesh, Brazil, Cambodia, China, DR Congo, Ethiopia, India, Indonesia, Kenya, Mozambique, Myanma, Negeria, Pakistan, Philippines, Russian Federation, South Africa, Thailan, Uganda, UR Tanzania, Vietnam, Zimbabuwe), trong đó có 5 quốc gia có có số lượng bệnh nhân lao nhiều nhất là India, China, South Africa, Nigeria và Indonesia.) .
Tỷ lệ mắc mới (TB Incidence rate) đã giảm từ 2002, và nhìn chung tỷ lệ mắc mới giảm khoảng 3,4% trong giai đoạn từ 1990 đến nay .
3.2. Tỷ lệ hiện mắc
Ước tính có khoảng 14 triệu người bệnh lao hiện nay, tương đương tỷ lệ 200 ca/100.000 dân. Dựa trên các điều tra dịch tễ của các quốc gia cho thấy tỷ lệ hiện mắc trên toàn cầu đã có xu hướng giảm, từ 215/100.000 dân năm 1990 xuống còn 108/100.000 năm 2010. Tỷ lệ giảm hàng năm khoảng 2,2% trong 10 năm cuối của thế kỉ XX và giảm 4,7% trong 10 năm đầu của thế kỉ XXI .
3.3.Tỷ lệ tử vong
Bằng hai nguồn thu nhận dữ liệu từ các quốc gia qua hệ thống phân loại bệnh tật ICD-10 và điều tra tử vong tại một số quốc gia, tỷ lệ tử vong do lao giảm từ 24% năm 2000 xuống 6% năm 2010. Có 2 lí do làm tỷ lệ tử vong giảm, đó là cùng với việc cải thiện tốt hơn chất lượng điều trị, chăm sóc người bệnh và cải thiện việc báo cáo ca bệnh ngay sau khi được chẩn đoán, đặc biệt từ sau năm 2005. Tính trung bình trong giai đoạn 1990-2010, tỷ lệ tử vong do lao trên toàn cầu là khoảng 8,6%. Riêng năm 2009 có khoảng 9,7 triệu trẻ em dưới 15 tuổi mồ côi hoặc bố hoặc mẹ vì bệnh lao. Năm 2010 vẫn còn tới 1,1 triệu người bệnh lao không nhiễm HIV tử vong và 350.000 người bệnh lao đồng nhiễm HIV tử vong .
3.4. Tình hình lao kháng đa thuốc (Multi-drug- resistant- MDR)
Hiện nay theo số ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, có khoảng gần 500.000 ca lao đa kháng thuốc trên toàn thế giới. Số lượng bệnh nhân lao đa kháng thuốc chủ yếu tại 27 quốc gia (Châu Âu có 15 nước) chiếm tới 86% số bệnh nhân lao đa kháng thuốc. Bốn nước có số bệnh nhân đa kháng thuốc cao nhất là Trung quốc (100.000), ấn Độ (99.000), Liên bang Nga (38.000) và Nam phi (13.000). Trong năm 2010 đã có 58 quốc gia báo cáo là ít nhất đã có 1 trường hợp lao đa kháng thuốc mở rộng (Extensively Drug resistant TB) hay lao siêu kháng thuốc .
4. Dịch tễ lao Việt Nam
Theo Tổ chức Y tế thế giới , Việt Nam xếp thứ 12 trong tổng số 22 quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao. Trong năm 2006-2007, Chương trình chống lao quốc gia đã tiến hành một điều tra dịch tễ tình hình hiện mắc và hiện nhiễm lao. Kết quả điều tra đã cho thấy .
4.1. Nguy cơ nhiễm lao
Chỉ số R của Việt nam 1,67%( 95%CI:1.51-1.84%). Tỷ lệ này tương đương với lần điều tra trước đó năm 1997 (1,7%) .
4.2. Tỷ lệ hiện mắc
Tỷ lệ lao phổi AFB dương tính của người lớn từ 15 tuổi trở lên là 197/100.000 dân (95% CI: 150-244). Với giả định là không có bệnh nhân lao dương tính ở trẻ em dưới 15 tuổi, tỷ lệ hiện mắc lao phổi AFB dương tính trong tổng dân số (tất cả các nhóm tuổi) sẽ là 145/100.000 dân (95% CI: 110-180). Con số này cao hơn 1.6 lần so với ước tính trước đây của Tổ chức Y tế thế giới cho Việt nam năm 2006 (cùng năm điều tra dịch tễ) là 90/100.000 .
Như vậy, gánh nặng bệnh lao tại Việt Nam hiện nay cao hơn nhiều so với ước tính trước đây.

Tính toán theo phân vùng địa lí thì tỷ lệ hiện mắc lao phổi AFB dương tính tại các tỉnh miền Nam cao hơn (256/100.000) so với miền Bắc (163/100.000) và miền Trung (152/100.000) và cao hơn ở khu vực nông thôn (219/100.000) so với thành thị (203/100.000) và khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa (134/100.000) .

So sánh mức độ mắc lao trong 2 giới thì thấy tỷ lệ nam / nữ trong các thể lao là từ 4.5 đến 5.1. Tỷ lệ này cao hơn 1.7 lần so với tỷ lệ nam / nữ trong số bệnh nhân lao phổi AFB dương tính mới được phát hiện và đăng kí điều trị trong Chương trình chống lao quốc gia cùng năm 2006 .
4.3. Lao phổi kháng thuốc
Sau 3 lần điều tra kháng thuốc trên toàn quốc cho thấy Việt nam đã thực hiện chiến lược DOTS rất có hiệu quả, nên đã khống chế tình hình lao phổi kháng thuốc không tăng nhanh chóng. Mặc dù vậy, hiện nay Việt nam đứng thứ 14 trong 27 nước có tỷ lệ kháng thuốc cao .
Kết quả điều tra kháng thuốc sau 3 lần cho thấy số bệnh nhân lao mới kháng đa thuốc lần lượt 2,3% (năm 2000), 3% (năm 2003) và 2,7% (năm 2005).Tỷ lệ kháng đa thuốc trong bệnh nhân lao điều trị lại là 19%.(năm 2005). Điều tra kháng thuốc lao lần thứ 3, (năm 2004-2005), kết quả cho thấy: Tỷ lệ kháng thuốc chung là 30,9%, kháng đa thuốc là 2,7%. Tỷ lệ kháng isoniazid là 19,2%, kháng streptomycine là 23,3%. Nhưng riêng ở lô bệnh nhân điều trị lại, tỷ lệ kháng thuốc chung rất cao: 58,9%, kháng đa thuốc là 19,3%, kháng isoniazid: 43,5%, streptomycine: 50,7%. Hiện nay chúng ta đang tổ chức điều tra lần 4 .
4.4. Bệnh lao và HIV
Một trong các yếu tố làm tình hình dịch tễ lao nặng nề và phức tạp hơn là đại dịch HIV. Mối tương quan giữa lao và HIV đã được ghi nhận trong rất nhiều quốc gia. Với những người không có HIV, nguy cơ mắc lao trong suốt cuộc đời chỉ khoảng 5%, nhưng với những người có HIV, nguy cơ đó tăng tới 30-50%. ở những nguời đồng nhiễm lao/HIV nếu không được quản lý và điều trị đúng, tỷ lệ tử vong sẽ rất cao. Tại Việt Nam, dịch HIV đang nổi lên như một vấn đề y tế công cộng cấp bách. Tính đến hết quý I năm 2010, tỷ lệ hiện mắc HIV ở người lớn là 0,4% năm 2003 và 0,5% năm 2005. Dịch HIV đang ở giai đoạn tập trung, tỷ lệ hiện mắc HIV cao ở đối tượng là người nghiện chích ma túy (trên 25%) và phụ nữ mại dâm (4,5% và 12%). Tính đến hết quý I/2010, Việt Nam có 209.242 người nhiễm HIV. Chương trình chống lao Quốc gia điều tra năm 2005 tại 6 tỉnh Việt Nam cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong những bệnh nhân lao là 8,2%. Năm 2010, một nghiên cứu của Chương trình chống lao trên 10 tỉnh cho kết quả tỷ lệ nhiễm HIV trong những bệnh nhân lao mới là 3,0%. Những đối tượng thuộc nhóm nguy cơ cao có tỷ lệ lây nhiễm HIV cao hơn nhiều so với nhóm bệnh nhân không có nguy cơ, những bệnh nhân lao nghiện chích ma túy có tỷ lệ nhiễm HIV cao gấp 100 lần so với nhóm bệnh nhân không có nguy cơ lây nhiễm HIV. ở những bệnh nhân lao thuộc nhóm mại dâm, mức chênh về tỷ lệ nhiễm HIV so với nhóm không có nguy cơ là 30,9 lần. Đáng lưu ý là số trường hợp có nguy cơ cao đồng ý tham gia khám sàng lọc lao chiếm tỷ lệ rất thấp (27,2%), nhưng trong số này, tỷ lệ mắc lao rất cao (53,3%) .
5. Kết luận
Lao là một bệnh hoàn toàn có thể chữa khỏi được, nhưng vẫn còn là gánh nặng cho sức khỏe cộng đồng. Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra Chiến lược ngăn chặn bệnh lao toàn cầu (The Stop TB Strategy) với tiêu chí là “Vì một thế giới không còn bệnh lao”, nhằm giảm mạnh mẽ gánh nặng lao toàn thế giới vào năm 2015 theo hướng của Mục tiêu thiên niên kỉ và các tiêu chí của Liên minh chống lao toàn cầu. Mục tiêu đó được đo lường bằng 2 chỉ số là:
- Đến năm 2015: Tỷ lệ mắc mới bắt đầu giảm và Giảm số hiện mắc và tử vong do lao xuống 50% so với mức năm 1990 .
- Đến năm 2050: Loại trừ bệnh lao ra khỏi vấn đề sức khỏe cộng đồng. Chuyển từ “ chống lại” sang thành “ loại bỏ” bệnh lao vào năm 2050 (Transforming the Fight towards Elimination of Tuberculosis) .
- Mục tiêu của Chương trinh chống lao Việt nam là sẽ cơ bản thanh toán bệnh lao vào năm 2030.Với những cam kết chính trị mạnh mẽ từ Chính phủ, hỗ trợ có hiệu quả từ các Tổ chức Quốc tế, nỗ lực của toàn ngành y tế và đồng thuận của xã hội, công tác chống lao Việt nam sẽ sớm đạt được mục tiêu thiên niên kỉ, giảm mạnh mức độ dịch tễ lao hàng năm, nhằm góp phần nâng cao sức khỏe nhân dân, đảm bảo công bằng và bền vững trong các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước .












