Bệnh học viêm họng

T6, 09/10/2020

1. Giải phẫu:

1.1. Cấu tạo của họng: Họng là một ống cơ và màng ở trước cột sống cổ. Đi từ mỏm nền tới đốt sống cổ thứ IV, là ngã tư của đường ăn và đường thở, nối liền mũi ở phía trên, miệng ở phía trước với thanh quản và thực quản ở phía dưới. Giống như một cái phễu phần trên loe rộng, phần dưới thu hẹp. Thành họng được cấu trúc bởi lớp cân, cơ, niêm mạc.

Họng chia làm 3 phần:

-         Họng mũi (tỵ hầu) phần họng trên.

-         Họng miệng (khẩu hầu) phần họng giữa.

-         Họng thanh quản (thanh hầu) phần họng dưới.

1.2. Vòng Waldeyer.

Họng có các tổ chức lymphô tạo thành một vòng bao quanh gọi là vòng Waldeyer.

-         Bao gồm: Amiđan khẩu cái, Amiđan lưỡi, Amiđan vòm (luschka), Amiđan vòi (gerlach).

-         Mô học của Amiđan: Giống như cấu trúc của hạch bạch huyết.

-         Chức năng là sinh ra các kháng thể để bảo vệ cơ thể.

1.3. Khoang quanh họng.

Quanh họng có các khoang chứa các tổ chức cân, cơ, mạch máu, thần kinh, hạch bạch huyết và các khoang này có liên quan mật thiết với họng.

-         Khoang bên họng (Sébileau). 

-         Khoang sau họng (Henké).

1.4. Mạch máu: nuôi dưỡng vùng họng thuộc động mạch cảnh ngoài: động mạch hầu lên, động mạch giáp trạng trên, động mạch khẩu cái lên.

1.5. Thần kinh.

-         Thần kinh cảm giác thuộc dây IX, X. Dây IX chi phối nền lưỡi và 1/3 dưới Amiđan. Dây X chi phối thành sau họng và màn hầu.

-         Thần kinh vận động chủ yếu do nhánh trong của dây IX và dây XI.

1.6. Mạch bạch huyết: Các mạch bạch huyết vùng họng đổ vào các hạch sau: hạch Gillete, hạch dưới cơ nhị thân và hạch dãy cảnh.

2. Sinh lý: Họng là ngã tư đường ăn và đường thở. Nên giữ các chức năng sau:

-         Chức năng nuốt.

-         Chức năng thở.

-         Chức năng phát âm.

-         Chức năng nghe.

-         Chức năng vị giác (nếm).

-         Chức năng bảo vệ cơ thể.

 

VIÊM HỌNG CẤP TÍNH

 

Là loại bệnh khá phổ biến, có thể xuất hiện riêng biệt nhưng thường gặp xuất hiện với các bệnh viêm V.A, viêm amiđan, bệnh phát ban, cúm, sởi, bạch hầu, ho gà, vincent, tinh hồng nhiệt hoặc một số bệnh máu. Trên lâm sàng thường thấy có hai loại là: viêm họng đỏ và viêm họng trắng.

1. Định nghĩa: viêm họng cấp tính là viêm cấp tính niêm mạc họng (niêm mạc họng có lớp liên bào, tuyến nhầy và nang lympho).

2. Phân loại: Theo phân loại của Escat chia viêm họng cấp tính làm 3 nhóm:

-         Viêm họng không đặc hiệu có thể khu trú hoặc tỏa lan như: viêm họng đỏ, viêm họng trắng, viêm tấy xung quanh amiđan.

-         Viêm họng đặc hiệu như: viêm họng do bạch hầu, viêm họng vincent.

-         Viêm họng trong các bệnh máu.

 

 

VIÊM HỌNG ĐỎ

 

Thực chất là viêm họng cấp tính ở họng hoặc ở amiđan hay gặp vào mùa lạnh hoặc khi thời tiết thay đổi. Viêm toàn bộ niêm mạc họng có màu sắc đỏ nên đựoc gọi là viêm họng đỏ.

1. Nguyên nhân.

-         Virút: virút cúm, sởi.

-         Vi khuẩn: phế cầu, liên cầu hoặc các vi khuẩn khác sẵn có ở họng.

2. Triệu chứng (do virút).

2.1.Toàn thân: Bắt đầu đột ngột, ớn lạnh, sốt cao 390C - 400C, đau mình, kém ăn và kém ngủ.

2.2. Cơ năng:

-         Lúc đầu có cảm giác khô nóng trong họng dần dần thành cảm giác đau rát tăng lên khi nuốt, khi ho và khi nói, đau lên tai và đau nhói khi nuốt.

-         Ngạt tắc mũi và chảy nước mũi nhầy.

-         Triệu chứng thanh quản: tiếng khàn nhẹ và ho khan.

2.3. Tại chỗ:

-         Toàn bộ niêm mạc họng đỏ rực, màn hầu, trụ trước, trụ sau và thành sau họng phù nề, xung huyết đỏ.

-         Hai amiđan viêm to, trên bề mặt amiđan có chất nhầy trong. Có khi có bựa trắng như nước cháo phủ trên bề mặt amiđan hoặc miệng các hốc.

-         Hạch cổ, hạch dưới hàm sưng, đau.

2.4. Xét nghiệm: Bạch cầu trong máu không tăng.

3. Thể lâm sàng.

3.1. Viêm họng đỏ do cúm: Thành từng vụ dịch với các triệu chứng khá nặng: nhức đầu, đau cổ, xuất huyết ở thành họng.

3.2. Viêm họng đỏ do vi rút A.P.C. (Cọnjunctival) ở trẻ em: Sụt xịt mũi, viêm họng đỏ, viêm màng tiếp hợp và sưng hạch cổ. 

3.3. Viêm họng đỏ do vi khuẩn: Viêm V.A và viêm amiđan biểu hiện sốt cao, co giật, ngạt mũi, nôn mửa, hạch cổ sưng đau.

4. Chẩn đoán: Dựa vào các triệu chứng:

-         Sốt cao đột ngột.

-         Đau họng.

-         Các bệnh tích khám họng.

-         XN: BC không tăng.

5. Điều trị.

5.1. Nghỉ ngơi, giữ  ấm.

5.2. Điều trị tại chỗ và điều trị triệu chứng.

-         Hạ sốt: Aspirin, A.P.C, Analgin, Paracetamol...

-         Chống đau họng: Hàng ngày súc họng bằng các dung dịch kiềm ấm như nước muối, dung dịch clorat kali1% hoặc BBM, trẻ em bôi họng bằng glyxerin bôrat 5%. Nhỏ mũi argyron1%.

-         Dùng kháng sinh toàn thân và tại chỗ khi có biến chứng như viêm thận, khớp, thanh quản, viêm tai giữa, viêm phế quản ...

6. Điều trị  dự phòng.

-         Không dùng chung khăn mặt, bát đĩa cốc chén với bệnh nhân.

-         Rỏ dầu gômênol hoặc tỏi pha loãng khi xung quanh có nhiều người viêm họng.

-         Cắt amiđan khi bị viêm tái phát nhiều lần.

7. Tiến triển.

-         Bệnh diễn biến trong 3-4 ngày, nếu sức đề kháng tốt, bệnh sẽ lui dần, các triệu chứng trên sẽ mất đi rất nhanh.

-         Nếu có bội nhiễm do liên cầu, tụ cầu, phế cầu các biến chứng sẽ xảy ra như viêm tai, viêm mũi, phế quản phế viêm.

 

 

VIÊM HỌNG CÓ BỰA TRẮNG THÔNG THƯỜNG HAY LÀ VIÊM HỌNG DO LIÊN CẦU

Là một bệnh viêm họng nặng và thường có các biến chứng thấp tim, viêm khớp, viêm thận ... cần được phát hiện và điều trị kịp thời. Viêm toàn bộ niêm mạc họng có giả mạc trắng nên được gọi là viêm họng trắng.

1. Nguyên nhân.

Do vi khuẩn thường là liên cầu, đặc biệt là liên cầu khuẩn tan huyết b nhóm A, lây truyền bằng đường nước bọt.

2. Triệu chứng.

2.1. Toàn thân: Diễn biến thường rầm rộ, bệnh nhân sốt cao 380-390C có rét run hoặc ớn lạnh, thể trạng mệt mỏi rõ rệt, nhức đầu nhiều.

2.2. Cơ năng: Đau họng, đau khi nuốt, đau nhói lên tai.

2.3. Thực thể:

-         Hai amiđan to đỏ thẫm, các khe giãn. Một lớp bựa trắng bao phủ miệng khe. Lớp bựa này đầu tiên màu trắng kem sau trở lên vàng xám và chỉ khu trú ở amiđan và có thể dùng bông chùi đi mà không gây ra chảy máu.

-         Trụ trước, trụ sau, lưỡi gà và màn hầu xung huyết đỏ nhưng không nề.

-         Ở thành sau họng có vài đảo lympho bị viêm có bựa trắng.

-         Các hạch ở vùng sau góc hàm bị sưng đau.

2.4. Xét nghiệm:

-         Quyệt họng để soi cấy tìm vi khuẩn thấy liên cầu khuẩn tan huyết b nhóm A.

-         Số lượng BC tăng từ 10.000 tới 12.000.

-         Tốc độ máu lắng tăng cao, có thể có albumin trong nước tiểu.

3. Chẩn đoán:

3.1. Chẩn đoán xác định:

-         Dựa vào các triệu chứng: sốt cao, đau họng và các bệnh tích viêm ở họng.

-         Xét nghiệm: BC tăng cao (N tăng), máu lắng tăng cao, soi cấy tìm thấy liên cầu khuẩn.

3.2. Chẩn đoán phân biệt:

  • Bệnh bạch hầu:

-         Bệnh bạch hầu thường xảy ra thành dịch.

-         Trong bệnh bạch hầu thường có giả mạc, giả mạc gắn chặt vào niêm mạc, khi bóc ra thì chảy máu, giả mạc mọc rất nhanh, lan ra các trụ và màn hầu, giả mạc không tan trong nước.

-         Bệnh cảnh nhiễm trùng, nhiễm độc rõ.

-         Hạch dưới cằm, ở cổ nổi nhiều và nhanh.

-         Trước một viêm họng trắng bao giờ cũng quyệt họng và cấy khuẩn.

  • Bệnh tăng bạch cầu đơn nhân:

-         Viêm loét họng có giả mạc trắng.

-         Có hạch cổ to.

-         Thể trạng suy nhược.

-         Trong máu tế bào đơn nhân tăng cao.

4. Điều trị:

4.1. Toàn thân:

-         Kháng sinh diễn biến tốt (cephalothin, amikacin, gentamicin ...)

-         Giảm đau.

-         Hạ sốt.

-         Nghỉ ngơi, nâng đỡ cơ thể.

4.2. Tại chỗ: khí dung, bôi họng ...

4.3. Điều trị tại tuyến cơ sở: Dùng kháng sinh có tác dụng thuyên giảm bệnh trong vòng 24 giờ.

4.4. Điều trị tại tuyến trên: Cắt amiđan nếu có viêm tấy nhiều lần kèm theo có albumin trong nước tiểu.

5. Biến chứng: Diễn biến bệnh thường kéo dài 10 ngày mới khỏi hẳn, nếu kéo dài hơn sẽ gây biến chứng.

-         Viêm thận, bệnh Osler, thấp tim ở tuần thứ hai, thứ ba.

-         Viêm tấy xung quanh amiđan.

-         Viêm tai.

-         Viêm xoang.

-         Viêm thanh quản.

-         Viêm phế quản.

-         Nhiễm trùng huyết.

-         Viêm hạch mủ...

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

VIÊM HỌNG MẠN TÍNH

 

Viêm họng mạn tính là viêm lan tỏa ở họng, rất hay gặp và thường phối hợp với các bệnh viêm mũi, viêm xoang mạn tính hay đôi khi với viêm thanh, khí phế quản mạn tính. Viêm họng mạn tính thể hiện dưới 3 hình thức: xuất tiết, quá phát và teo. Các bệnh tích có thể toả lan hoặc khu trú.

1. Nguyên nhân.

-         Bệnh thường gặp do ảnh hưởng của ngạt tắc mũi, phải thở bằng miệng kéo dài, nhất là về mùa lạnh. Do dị hình vách ngăn, pôlíp mũi, viêm xoang nhất là viêm xoang sau: nhầy, mủ luôn chảy xuống họng.

-         Do các kích thích như: khói thuốc lá, rượu, bụi, sợi bông, hoá chất...

-         Do yếu tố cơ địa: thể địa dị ứng, suy gan, đái đường...

2. Triệu chứng.

2.1. Triệu chứng chức năng.

-         Cảm thấy khô họng, nóng, rát trong họng hoặc có cảm giác ngứa họng, vướng họng nhất là mới ngủ dậy, phải cố khạc đờm, đằng hắng để làm long đờm, đờm dẻo và đặc thường tăng lên khi nuốt.

-         Bệnh nhân thường phải khạc nhổ luôn, có ít nhầy quánh, thường hay bị ho, nhất là vào ban đêm, khi lạnh.

-         Nuốt hơi nghẹn.

-         Tiếng nói bị khàn trong giây lát rồi trở lại bình thường (uống rượu, hút thuốc lá nhiều, nói nhiều, triệu chứng trên càng rõ rệt).

2.2. Triệu chứng thực thể: Tuỳ theo tổn thương, có thể thấy các thể:

  • Viêm họng xuất tiết.

-         Niêm mạc họng đỏ, ướt, xuất tiết nhầy, trong dính vào thành sau họng.

-         Khạc hay hút rửa dịch nhầy, thấy thành sau họng không nhẵn, có vài tia máu và nang lympho nổi lên thành những hạt nề, đỏ.

  • Viêm họng quá phát.

-         Niêm mạc họng dày và đỏ.

-         Cạnh trụ sau của amiđan, niêm mạc nề dày lên làm thành trụ giả.

-         Bệnh nhân rất nhạy cảm ở họng và rất dễ buồn nôn.

-         Thành sau họng có các nang lympho phát triển mạnh, quá sản dày thành những đám nề, màu hồng hay đỏ lồi cao hơn thường gọi đó là viêm họng hạt.

-         Màn hầu và lưỡi gà cũng trở nên dầy.

-         Eo họng bị hẹp.

-         Niêm mạc loa vòi Eustachi cũng quá sản, gây ù tai.

-         Mép sau của thanh quản cũng bị dầy gây ho khan, khàn tiếng và xuất tiết nhiều.

  • Viêm họng teo: Quá phát lâu ngày chuyển sang teo. Tuyến nhầy và nang tân xơ hoá.

-         Niêm mạc trở lên nhẵn mỏng, trắng bệch có mạch máu nhỏ.

-         Eo họng rộng ra.

-         Dịch nhầy khô lại và biến thành vảy dính vào niêm mạc, phải đằng hắng hoặc ho luôn.

4. Tiến triển và biến chứng.

-         Viêm họng mạn tính khi loại trừ được các yếu tố nguyên nhân cũng có thể khỏi được. Thường các viêm họng mạn tính sẽ lần lượt qua các giai đoạn xuất tiết, quá phát và teo nếu để kéo dài không điều trị. Đặc biệt các trường hợp trĩ mũi (ozen). Suy yếu niêm mạc đường thở do các bụi hoá chất cũng trở thành viêm họng teo.

-         Viêm họng mạn tính cũng thường đưa đến viêm thanh quản mạn tính, viêm khí, phế quản mạn tính... hoặc các đợt viêm cấp tính như: viêm amiđan cấp tính, ápxe amiđan...

-         Gây lên suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh do phải khạc nhổ nhiều, nhất là ban đêm.

5. Điều trị.

5.1. Điều trị nguyên nhân.

-         Giải quyết các ổ viêm ở mũi, ở xoang (viêm xoang sau), viêm amiđan.

-         Giải quyết tốt sự lưu thông của mũi.

-         Loại bỏ các yếu tố kích thích như: bụi, hoá chất, thuốc lá, rượu...

5.2. Điều trị tại chỗ.

  • Giai đoạn xuất tiết:

-         Súc miệng bằng dung dịch kiềm như: B.B.M.

-         Bôi và chấm họng bằng glycerin borát 3%, S.M.C (Salicylat Na, menthol).

-         Khí dung họng với hydrocortíon + kháng sinh.

-         Nếu có nhiều nhày dính ở thành sau họng thì rửa bằng dung dịch borat Na 1% cho hết vẩy, bôi họng và khí dung.

-         Với viêm họng quá phát thì đốt bằng điện hoặc bằng nitơ lạnh.

  • Giai đoạn quá phát: Đốt nóng hoặc đốt bằng nitơ lạnh hay lase.
  • Giai đoạn teo: Bôi glyxêrin iôt 0,5% hoặc mỡ thuỷ ngân 1%.

5.3. Phòng bệnh.

-         Đeo khẩu trang bảo hộ khi tiếp xúc với bụi và hoá chất.

-         Súc họng hàng ngày bằng dung dịch kiềm ấm hoặc nước muối.

-         Nâng cao thể trạng: cho uống các vitamin A, D2, uống nươc suối, nước khoáng.

 

 

 

 

 

 

 

VIÊM AMIĐAN MẠN TÍNH

 

Viêm amiđan mạn tính là hiện tượng viêm thường xuyên, viêm đi viêm lại nhiều lần. Tuỳ theo mức độ viêm nhiễm và phản ứng của cơ thể, mà amiđan có thể to ra (quá phát) thường gặp ở trẻ em hay người trẻ tuổi,    hoặc amiđan có thể xơ, nhỏ và hốc mủ.

1. Nguyên nhân.

1.1.Nhiễm khuẩn: Có thể cả tụ cầu, liên cầu, xoắn khuẩn, các chủng ái khí và yếm khí.

1.2. Yếu tố thuận lợi:

-         Thời tiết thay đổi đột ngột (bị lạnh đột ngột khi mưa, độ ẩm cao...).

-         Ô nhiễm môi trường do bụi, khí, điều kiện sinh hoạt thấp, vệ sinh kém.

-         Sức đề kháng kém, thể bạch tạng.

-         Có các ổ viêm nhiễm ở họng như: sâu răng, viêm lợi, viêm V.A, viêm xoang.

2. Triệu chứng.

2.1. Triệu chứng cơ năng:

-         Thường có cảm giác nuốt vướng ở họng đôi khi có cảm giác đau như có dị vật trong họng, đau lan lên tai.

-         Hơi thở thường xuyên hôi mặc dù vệ sinh răng miệng thường xuyên.

-         Thỉnh thoảng có ho và khàn tiếng, trẻ em có thở khò khè, ngủ ngáy to.

2.2. Triệu chứng thực thể:

Trên bề mặt amiđan có nhiều khe và hốc. Các khe và hốc này chứa đầy chất bã đậu và thường có mủ màu trắng.

-         Thể quá phát: Thường gặp ở trẻ em, amiđan to như hai hạt hạnh nhân ở 2 bên thành họng, vượt qua trụ trước, lấn vào làm hẹp eo họng.

-         Thể xơ teo: Thường gặp ở người lớn, amiđan nhỏ, mặt gồ ghề, lỗ chỗ hoặc chằng chịt xơ trắng biểu hiện bị viêm nhiễm nhiều lần. Màu đỏ sẫm, trụ trước đỏ, trụ sau dầy. Amiđan chắc, ấn vào amiđan có thể thấy phòi mủ hôi ở các hốc.

-         Hạch góc hàm sưng to.

3. Chẩn đoán.

Viêm amiđan mạn tính có thể là một ổ viêm nhiễm gây nên những bệnh toàn thân khác nhưng khẳng định điều đó là một vấn đề tế nhị và khó khăn.

Người ta đề xuất nhiều chứng nghiệm amiđan, những chứng nghiệm quen thuộc là:

-         Test Vigo - Schmidt: Thử công thức bạch cầu trước khi làm nghiệm pháp. Dùng ngón tay xoa trên bề mặt amiđan trong vòng 5 phút, thử lại công thức bạch cầu. Nếu amiđan viêm sẽ thấy số lượng bạch cầu tăng lên. Bạch cầu tăng dần trong vòng 30 phút. Sau đó giảm dần trong vòng 2 giờ, sau trở lại bình thường.

-         Test Lemée: Nếu amiđan viêm đã gây các biến chứng, sau khi xoa sát amiđan có khi thấy khớp đau hơn, xuất hiện phù nhẹ hoặc trong nước tiểu có hồng cầu.

-         Đo tỷ lệ Antistreptolysin trong máu.

Bình thường 200 đơn vị.

Khi viêm do liên cầu sẽ tăng cao từ 500 - 1000 đơn vị.

4. Biến chứng.

-         Viêm tấy, áp xe quanh amiđan.

-         Viêm tấy hạch dưới hàm hoặc thành bên họng.

-         Viêm cầu thận.

-         Viêm nội tâm mạc.

-         Viêm khớp.

-         Nhiễm khuẩn huyết.

5. Điều trị.

5.1. Điều trị ngoại khoa: Phẫu thuật amiđan hiện nay rất phổ biến. Tuy nhiên cần có chỉ định chặt chẽ. Chỉ cắt khi nào amiđan thực sự trở thành một lò viêm (focal infection) gây hại cho cơ thể.

  • Chỉ định:

-         Amiđan viêm mạn tính nhiều lần (thường là 5-6 lần trong một năm).

-         Amiđan viêm mạn tính gây biến chứng viêm tấy, áp xe quanh amiđan.  

-         Amiđan viêm mạn tính gây biến chứng viêm mũi, viêm xoang, viêm tai giữa, viêm phế quản, viêm phổi, viêm tấy hạch dưới hàm hoặc thành bên họng.

-         Amiđan viêm mạn tính gây biến chứng xa: viêm tim, viêm cầu thận, viêm khớp, rối loạn tiêu hóa kéo dài, nhiễm khuẩn huyết.

-         Amiđan viêm mạn tính quá phát gây khó thở, khó nuốt.

  • Chống chỉ định:

Chống chỉ định tuyệt đối:

-         Các hội chứng chảy máu: bệnh ưa chảy máu, rối loạn đông máu.

-         Các bệnh về tim mạch như: cao huyết áp, suy tim, suy thận giai đoạn mất bù.

Chống chỉ định tương đối:

-         Khi đang có viêm họng cấp tính hay đang có biến chứng áp xe amiđan.

-         Khi đang có viêm, nhiễm khuẩn cấp tính như: viêm mũi, viêm xoang, mụn nhọt.

-         Khi đang có viêm, nhiễm virút cấp tính như: cúm, sởi, ho gà, bại liệt, sốt xuất huyết...

-         Khi đang có biến chứng do viêm amiđan như: viêm thận cấp, thấp khớp cấp... thì phải điều trị ổn định, hết đợt cấp mới được cắt.

-         Khi đang có bệnh mạn tính chưa ổn định như: Đái đường, viêm gan, lao, bệnh giang mai...

-         Phụ nữ đang thời kỳ kinh nguyệt, thời kỳ mang thai hoặc đang nuôi con bú.

-         Thời tiết quá nóng hoặc quá lạnh.

-         Các cháu bé dưới 5 tuổi hoặc người lớn trên 30 tuổi.

-         Thận trọng: trong các trường hợp dùng các thuốc nội tiết tố, hoặc thuốc giảm đau trước đó, các bệnh nhân đang đợt tiêm chủng.

5.2. Nâng cơ thể: iốt, asen, sinh tố, canxi...

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

VIÊM V.A (VÉGETATION ADENOIDE)

 

1. Đại cương.

Trong họng có nhiều tổ chức lympho rải rác khắp niêm mạc hoặc tập trung thành từng khối ở mặt trước của họng gọi là vòng Waldeyer, vòng này gồm 3 khối:

-         Amiđan khẩu cái và lưỡi.

-         Amiđan vòi (amygdale de Gerlach).

-         Amiđan vòm họng (amygdale de Luschka). Người ta gọi V.A là amiđan thứ 3 Luschka (vegetation adenoide) là tổ chức lympho ở vòm mũi họng. Bình thường mọi em bé đều có, khi tổ chức này viêm và quá phát thành khối to gọi là sùi vòm họng gây cản trở đến việc hít thở không khí. V.A phát triển đến 6 tuổi thì hết, cá biệt có thể thấy ở người lớn.

2. Triệu chứng: Xuất hiện từ 18 tháng đến 6 - 7 tuổi.

2.1. Toàn thân.

Em bé phát triển chậm so với lứa tuổi kém nhanh nhẹn, ăn uống kém, người gầy, da xanh hay sốt vặt.

2.2. Cơ năng.

-         Ngạt mũi: lúc đầu ngạt ít sau nhiều tăng dần.

-         Mũi thường bị viêm, tiết nhầy và chảy mũi ra cửa mũi.

-         Ho và sốt vặt.

-         Ngủ không yên giấc, ngáy to, giật mình.

-         Tai nghe kém hay bị viêm.

2.3. Triệu chứng thực thể.

-         Soi mũi trước: V.A bóng đỏ mấp mé ở cửa mũi sau.

-         Soi mũi sau: Khối sùi chiếm vòm mũi họng che lấp gần hết cửa mũi sau.

-         Sờ vòm họng: Bằng đầu ngón tay trỏ, chúng ta đánh giá được khối lượng, mật độ của V.A.

-         Soi họng: Thành sau họng có nhiều khối lympho to bằng hạt đậu xanh và dịch nhầy chảy từ vòm họng xuống. Em bé có bộ mặt V.A (sùi vòm): da xanh, miệng há, răng vẩu, răng mọc lệch, môi trên bị kéo xếch lên, môi dưới dài thõng, hai mắt mở to, người ngây ngô.

3. Biến chứng.

-         Viêm thanh, khí phế quản: V.A có thể gây nên những cơn khó thở đột ngột, dữ dội về đêm và kèm theo cơn hen xuất hiện mau hơn và nặng hơn.

-         Viêm tai giữa: Vi khuẩn theo vòi Eustachi.

-         Viêm đường tiêu hoá: Đau bụng đi ngoài ra nhầy, nước.

-         Viêm hạch gây mưng mủ như hạch Gillete: Đó là áp xe thành sau họng ở hài nhi.

-         Viêm thận.

-         Viêm ổ mắt.

-         Viêm màng tiếp hợp, viêm mi mắt, chảy nước mắt.

-         Ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể: Cơ thể bị biến dạng: lồng ngực bị dẹp và hẹp bề ngang, lưng cong hoặc gù, bụng ỏng đít teo. Luôn mệt mỏi lười biếng, buồn ngủ, kém thông minh. Nguyên nhân do nghe kém và thở kém nên cơ thể không bình thường.

4. Chẩn đoán.

-         Ngạt mũi, khó thở, thò lò mũi, ho và sốt vặt, ngáy to, ngủ há mồm, nghe kém.

-         Soi mũi trước và mũi sau có thể phát hiện được V.A nhất là khi tổ chức lympho này qua to và đã gây viêm nhiễm thường xuyên ở tai, đường tiêu hoá, đường hô hấp.

5. Điều trị.

-         V.A còn nhỏ, ít gây viêm tấy: nhỏ mũi bằng dầu gomenol 1%, dung dịch chloromycetine 40/00.

-         V.A đã quá to gây khó bú hay sốt vặt có chỉ định nạo V.A sau đó phải bồi dưỡng cơ thể, dùng thuốc có chất iot, thạch tín, vitamin A, D2 và các chất sắt.

 

 

Dịch vụ thiết kế website wordpress