TÓM TẮT
Khảo sát nhận thức 67 bệnh nhân Tâm thần phân liệt và 47 người chăm sóc trực tiếp bệnh nhân, chúng tôi rút ra các kết luận sau:
Đa số bệnh nhân và người chăm sóc bệnh nhân nhận thức sai rằng tâm thần phân liệt là bệnh Thần kinh (55,88% và 55,32%). Chỉ 35,29% số bệnh nhân và 25,53% số người chăm sóc nhận thức đúng rằng tâm thần phân liệt là bệnh tiến triển suốt đời. Chỉ có 45,59% số bệnh nhân và 40,43% số người chăm sóc nhận thức đúng rằng bệnh tâm thần phân liệt phải điều trị củng cố suốt đời.
Từ khóa: Tâm thần phân liệt
SUMARY
Surveying awareness 67 patients Schizophrenia and 47 direct care of patients, we draw the following conclusions:
Most patients and caregivers of patients misconception that schizophrenia is a disease Neurology (55.88% and 55.32%). Only 35.29% of patients and 25.53% of carers aware that schizophrenia is a lifelong disease progresses. Only 45.59% of patients and 40.43% of carers aware that patients with schizophrenia have reinforced lifelong treatment.
Key word: Schizophrenia
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tâm thần phân liệt là một bệnh tâm thần nặng, đặc trưng bởi các triệu chứng loạn thần như hoang tưởng, ảo giác, căng trương lực. Bệnh tâm thần phân liệt tiến triển kéo dài suốt đời, bệnh nhân mất dần khả năng lao động, tự phục vụ nên dần trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Việc điều trị tâm thần phân liệt còn nhiều khó khăn do bệnh nhân và gia đình họ hay bỏ thuốc điều trị củng cố. Nguyên nhân chính của việc bỏ thuốc điều trị củng cố là do bệnh nhân và gia đình họ hiểu biết rất ít về bệnh tâm thần phân liệt, dẫn đến việc cho rằng bệnh đã khỏi, không cần điều trị củng cố nữa.
Điều tra nhận thức của bệnh nhân và gia đình bệnh nhân về bệnh tâm thần phân liệt giúp chúng ta biết được những sai lầm trong nhận thức của họ về bệnh này, từ đó có cách tiếp cận và tư vấn chính xác cho họ. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam, chưa có công trình nào nghiên cứu về khía cạnh này.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát nhận thức của bệnh nhân và người chăm sóc bệnh nhân về bệnh tâm thần phân liệt” nhằm các mục đích sau:
1. Khảo sát nhận thức của bệnh nhân và người chăm sóc bệnh nhân về nguyên nhân của bệnh tâm thần phân liệt.
2. Khảo sát nhận thức của bệnh nhân và người chăm sóc bệnh nhân về triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt.
3. Khảo sát nhận thức của bệnh nhân và người chăm sóc bệnh nhân về quá trình điều trị.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm bệnh nhân bị tâm thần phân liệt, đang điều trị nội trú tại khoa Tâm thần-Bệnh viện 103 và người chăm sóc trực tiếp của các bệnh nhân này. Chúng tôi chia đối tượng nghiên cứu thành 2 nhóm:
- Nhóm bệnh nhân gồm 67 bệnh nhân tâm thần phân liệt
- Nhóm người chăm sóc trực tiếp bệnh nhân gồm 47 người là vợ, chồng, bố, mẹ và con của các bệnh nhân trên.
Tiêu chuẩn loại trừ
- Các bệnh nhân bị tâm thần phân liệt có sa sút trí tuệ do khả năng nhận thức kém.
- Các bệnh nhân đang bị tiêm ngủ và làm sốc điện do họ bị lú lẫn.
Thời gian nghiên cứu: từ 1-10-2014 đến 10-3-2015.
Địa điểm nghiên cứu: Khoa Tâm thần, Bệnh viện quân y 103.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng phương pháp tiến cứu, cắt ngang, mô tả từng trường hợp cụ thể. Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn thống nhất cho cả bệnh nhân và gia đình họ.
Tiến hành phỏng vấn trực tiếp tại phòng trắc nghiệm tâm lý của khoa A6, phỏng vấn từng người một, người phỏng vấn sẵn sàng giải thích những điểm mà bệnh nhân và gia đình họ chưa hiểu.
Thời điểm phỏng vấn là vào các buổi chiều, bệnh nhân vào viện được ít nhất 1 tuần để bệnh nhân qua giai đoạn cấp. Chúng tôi tham khảo bệnh án để biết được chẩn đoán xác định và phác đồ điều trị của bệnh nhân
2.3. Phương pháp xử lý số liệu.
Các số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê y học
2.4. Đạo đức nghiên cứu
Các số liệu cụ thể về bệnh nhân và gia đình họ được giữ kín. Bệnh nhân và người nhà tự nguyện tham gia nghiên cứu. Bệnh nhân không phải trả thêm bất kỳ một khoản chi phí nào.
3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Nhóm bệnh nhân có tỷ lệ cao nhất là từ 30-39 tuổi, chiếm 44,10%, còn với người chăm sóc bệnh nhân, nhóm có tỷ lệ cao nhất là nhóm tuổi 40-49 với 63,82%. Điều này được giải thích là do đa số bệnh nhân tâm thần phân liệt ở trong độ tuổi 21 đến 40, còn người nhà bệnh nhân thường là cha, mẹ họ nên tuổi cao hơn.

Đa số bệnh nhân và người chăm sóc là nam giới, sự khác biệt giữa 2 nhóm là không có ý nghĩa thống kê. Chúng tôi giải thích hiện tượng này là do đặc thù của khoa với đa số bệnh nhân là nam. Còn người chăm sóc bệnh nhân, nam giới cũng chiếm ưu thế do họ cho rằng trông bệnh nhân tâm thần phân liệt là công việc vất vả, phải cương quyết với bệnh nhân nên nam giới trông bệnh nhân sẽ phủ hợp hơn.

Có đến 75% số bệnh nhân có trình độ học vấn trung học phổ thông, còn ở nhóm người chăm sóc bệnh nhân thì tỷ lệ các mức trình độ học vấn không chênh nhau nhiều. Sự khác biệt về tỷ lệ giữa 2 nhóm là có ý nghĩa thống kê với p<0,01.
Các bệnh nhân tâm thần phân liệt thường phát bệnh sau 20 tuổi, ở tuổi đó, đa số bệnh nhân đã kịp học xong trung học phổ thông. Còn với nhóm người chăm sóc bệnh nhân, họ hầu hết là bố mẹ bệnh nhân, tuổi cao hơn, nên tỷ lệ người trình độ học vấn trung học cơ sở khá cao. Kết quả này phù hợp với Kaplan H.I (1994) khi cho rằng tâm thần phân liệt gặp ở mọi trình độ học vấn.

Trong nhóm bệnh nhân, bộ đội là nhóm có tỷ lệ cao nhất chiếm 45,59%, điều này là dễ hiểu bởi khoa A6 nhận thu dung, điều trị bộ đội với tỷ lệ cao hơn so với các đối tượng khác. Còn trong nhóm người chăm sóc bệnh nhân, những người buôn bán chiếm tỷ lệ tới 40,44%. Sự khác biệt về tỷ lệ giữa 2 nhóm nghiên cứu là có ý nghĩa thống kê. Kết quả này phù hợp với Sadock B.J (2007) khi cho rằng tâm thần phân liệt gặp ở mọi nhóm nghề nghiệp.
3.2. Khảo sát nhận thức về nguyên nhân bệnh tâm thần phân liệt

Đa số bệnh nhân và người chăm sóc bệnh nhân nhận thức đúng rằng tâm thần phân liệt là do rối loạn chức năng não gây ra. Tuy nhiên vẫn có một tỷ lệ rất lớn số người nhận thức sai rằng tâm thần phân liệt là do chấn thương tâm lý hoặc do ma quỷ gây ra. Điều này phù hợp với ý kiến của Bùi Quang Huy(2010), tác giả cho rằng nhận thức lệch lạc này chứng tỏ ngành tâm thần chưa làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền về nguyên nhân bệnh tâm thần phân liệt.

Đa số bệnh nhân và người chăm sóc bệnh nhân nhận thức sai rằng bệnh tâm thần phân liệt là bệnh thần kinh, bệnh nội khoa hoặc không phải là bệnh. Số nhận thức đúng bệnh tâm thần phân liệt là bệnh tâm thần chỉ chiếm 45,49%( bệnh nhân) và 40,42%( người chăm sóc). Kết quả này phù hợp với Ngô Ngọc Tản(2005).

Một nửa số bệnh nhân biết khởi phát bệnh của mình trong độ tuổi 20-29, trong khi tỷ lệ này ở nhóm người chăm sóc bệnh nhân chỉ là 27,66%. Sự khác biệt về tỷ lệ này có ý nghĩa thống kê với p<0,01. Điều này cho thấy rất nhiều người chăm sóc bệnh nhân không quan tâm gì dến bệnh của bệnh nhân, không biết con, em mình bị bệnh từ bao giờ.
3.3. Triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt

Các triệu chứng khởi phát được bệnh nhân và gia đình họ phản ánh không có sự khác biệt, đa số bệnh nhân khởi đầu bằng triệu chứng mất ngủ. Kết quả này phù hợp với nhận xét của Bùi Quang Huy (2010) khi cho rằng đa số bệnh nhân tâm thần phân liệt được khởi phát bằng triệu chứng mất ngủ.

Cả bệnh nhân và người chăm sóc đều nhận thấy rằng mất ngủ và có tiếng nói trong đầu là các triệu chứng thường gặp ở giai đoạn toàn phát của bệnh tâm thần phân liệt. Đây là 2 triệu chứng rất dễ nhận thấy mà không cần đòi hỏi có một kỹ năng nào đặt biệt. Kết quả này phù hợp với nhận xét của Ngô Ngọc Tản (2005) khi cho rằng đa số bệnh nhân tâm thần phân liệt ở giai đoạn toàn phát than phiền mất ngủ và có tiếng người nói chuyện ở trong đầu mình.

Số người nhận thức đúng rằng bệnh tâm thần phân liệt không thể tự khỏi và ngày càng nặng thêm chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ cả ở nhóm bệnh nhân và người chăm sóc bệnh nhân. Kết quả này phù hợp với Cao Tiến Đức (2012) khi cho rằng nhận thức về bệnh tâm thần phân liệt còn rất kém.
3.4. Điều trị bệnh tâm thần phân liệt

Tuyệt đại đa số bệnh nhân và gia đình họ đều cho rằng cần phải uống thuốc theo đơn của bác sỹ Tâm thần. Tuy nhiên vẫn có một tỷ lệ nhỏ số người được khảo sát cho rằng có thể sử dụng thuốc một cách tùy tiện.
Kết quả này phù hợp với ý kiến của Bùi Quang Huy (2010) khi cho rằng nhiều bệnh nhân và người nhà nhận thức rất sai lầm về quá trình điều trị bằng thuốc.

Đại đa số bệnh nhân và người nhà họ đều nhận thấy rằng tác dụng phụ phổ biến nhất của thuốc an thần là gây tăng cân. Tuy nhiên còn nhiều người cho rằng thuốc độc với gan và thận. Vì lý do này, nhiều người đã bỏ điều trị.
Kết quả này phù hợp với ý kiến của Ngô Ngọc Tản (2007) khi cho rằng còn một tỷ lệ khoảng 20% số bệnh nhân vẫn cho rằng thuốc an thần mới độc với gan, thận và cơ quan sinh dục.

Kết quả ở bảng 13 cho thấy số người nhận thức đúng về thời gian điều trị củng cố của bệnh tâm thần phân liệt phải kéo dài suốt đời chỉ chiếm 45,59% (ở nhóm bệnh nhân) và 40,43% ở nhóm gia đình bệnh nhân. Số người cho rằng thời gian điều trị củng cố chỉ cần 1 tháng còn rất cao ở cả 2 nhóm. Điều này giải thích tại sao bệnh tâm thần phân liệt hay tái phát.
Kết quả này phù hợp với ý kiến của Cao Tiến Đức (2012) khi c ho rằng đa số bệnh nhân tâm thần phân liệt và người nhà họ không chịu thừa nhận phải điều trị củng cố suốt đời. Họ nói dối bệnh nhân, tự huyền hoặc bản than để lảng tránh việc uống thuốc củng cố.
KẾT LUẬN
Qua khảo sát trên 68 bệnh nhân tâm thần phân liệt và 47 người chăm sóc trực tiếp bệnh nhân về nhận thức của họ đối với bệnh tâm thần phân liệt, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
- 1. Nguyên nhân của bệnh tâm thần phân liệt
- Chỉ có 53,93% số bệnh nhân và 59,51% người chăm sóc bệnh nhân nhận thức đúng về nguyên nhân của bệnh tâm thần phân liệt là do rối loạn chức năng não.
- Đa số bệnh nhân và người chăm sóc bệnh nhân nhận thức sai rằng tâm thần là bệnh thuộc chuyên khoa Thần kinh (55,88% và 55,32%)
- Hầu hết bệnh nhân và người chăm sóc nhận thức đúng tâm thần phân liệt thường khởi phát ở độ tuổi 20 đến 39 (73,53% và 72,34%).
- 2. Triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt
- Mất ngủ là triệu chứng đễ được bệnh nhân và người chăm sóc nhận thấy trong giai đoạn khởi phát bệnh (70,59% và 65,96%).
- Trong giai đoạn toàn phát, mất ngủ (51,45% và 59,57%) và tiếng người nói chuyện trong đầu (35,29% và 46,81%) là hai triệu chứng được bệnh nhân và người chăm sóc phản ánh nhiều nhất.
- 35,29% số bệnh nhân biết rằng tâm thần phân liệt là bệnh tiến triển kéo dài suốt đời, trong khi tỷ lệ này ở người chăm sóc bệnh nhân chỉ là 25,53%.
- 3. Điều trị tâm thần phân liệt
- Tuyệt đại đa số bệnh nhân (82,36%) và người chăm sóc bệnh nhân (80,85%) biết rằng phải uống thuốc theo hướng dẫn của bác sỹ Tâm thần.
- Có đến 16,18% số bệnh nhân và 19,15% số người chăm sóc bệnh nhân cho rằng thuốc an thần rất độc với gan và thận.
- Chỉ có 45,59% số bệnh nhân và 40,43% số người chăm sóc bệnh nhân nhận thức đúng rằng bệnh tâm thần phân liệt cần được điều trị củng cố suốt đời.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Cao Tiến Đức, Bùi Quang Huy( 2012). Giáo trình điều dưỡng tâm thần. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Trang 48- 51.
- Bùi Quang Huy, Cao Tiến Đức, Nguyễn Văn Mạnh( 2010). Tâm thần phân liệt. Nhà xuất bản y học. Trang 62- 84.
- Ngô Ngọc Tản, Nguyễn Văn Ngân, Nguyễn Sinh Phúc( 2005). Tâm thần học. Nhà xuất bản quân đội nhân dân. Trang 174-181.
- Ngô Ngọc Tản, Nguyễn Văn Ngân, Nguyễn Sinh Phúc( 2007). Tâm thần học và tâm lý y học. Nhà xuất bản quân đội nhân dân. Trang 234-238.
- Kaplan H.I, Sadock B.J.(1994). Synopsis of Psychiatry. William and Wilky. Washington D.C. Page 621-622.
- Sadock B.J, Sadock V.A.(2007). Synopsis of Psychiatry. William and Wilky. Washington D.C. Page 418-420.
Liên hệ: Điều dưỡng Nguyễn Văn Doanh, khoa A6. Sđt: 0985405683
Email: bshuy2003@yahoo.com
Tác giả: ĐD Phạm Xuân Trưởng,
ĐD Nguyễn Văn Doanh, ĐD Đỗ Văn Hạnh
Hướng dẫn : PGS.TS. Cao Tiến Đức
Bộ môn - khoa tâm thần- Bệnh viện Quân y 103
TÓM TẮT







