Trang chủ Thông tin y khoa Văn bản chuyên nghành Các báo cáo ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THEO DÕI VÀ CHĂM SÓC BỆNH NHÂN BỆNH BẠCH CẦU CẤP TẠI KHOA MÁU - ĐỘC XẠ VÀ BỆNH NGHỀ NGHIỆP BỆNH VIỆN QUÂN Y 103

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC THEO DÕI VÀ CHĂM SÓC BỆNH NHÂN BỆNH BẠCH CẦU CẤP TẠI KHOA MÁU - ĐỘC XẠ VÀ BỆNH NGHỀ NGHIỆP BỆNH VIỆN QUÂN Y 103

T6, 09/10/2020

Tóm tắt

Nghiên cứu được tiến hành trên 65 bệnh nhân được chẩn đoán xác định bệnh bạch cầu cấp và điều trị tại khoa trong thời gian từ tháng 1/2014 đến tháng 10/2015 để đánh giá các chỉ tiêu theo dõi bệnh và chăm sóc bệnh nhân .

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Triệu chứng lâm sàng của bệnh bạch cầu cấp đa dạng trong đó thiếu máu chiếm tỷ lệ cao (90,7%), nhiễm khuẩn (60,0%), xuất huyết (55,4%). Điều trị đạt ổn định hoàn toàn chiếm tỷ lệ cao (70,7%). Một số tác dụng không mong muốn trong điều trị hoá chất: thiếu máu (89,2%), giảm số lượng tiểu cầu (96,9%), nôn và buồn nôn (84,6%), giảm số lượng bạch cầu hạt (49,2%). Tâm lý người bệnh rất lo lắng chiếm tỷ lệ cao (70,8%). Kết quả công tác chăm sóc bệnh nhân: hướng dẫn chế độ rõ ràng (95,4%), truyền máu, khối hồng cầu theo y lệnh (81,5%), truyền khối tiểu cầu theo y lệnh (72,3%), theo dõi nhiệt độ mạch (89,2%), theo dõi dấu hiệu sống có dấu hiệu nặng (89,2%), hướng dẫn uống thuốc rõ ràng cụ thể (81,5%), chăm sóc hỗ trợ tinh thần tình cảm tâm lý (87,7%).

* Từ khoá: Bệnh bạch cầu cấp, bệnh nhân, thiếu máu, xuất huyết, nhiễm khuẩn.

Summary

Research was carry out in 65 patients, were diagnosed exactly, is acute leukemia and treated in the Department, from 1/2014 to 10/2015 to assess targets to monitor disease and take care of patients

Result research showed that: The symptom of acute leukemia is multiform, anemia has high rate (90,7%), bacterial contamination (60,0%), haemorrhage (55,4%). Treatment is well again, has high rate (70,7%). A number of not good affect is in chemotherapy: anemia (89,2%), decreased platelet (96,9%), vomit and was nauseating (84,6%), decreased white blood cell (49,2%).

- Psychological patients were very worry, high rate (70,8%). Result of care patients: to guide clear regulations (95,4%); blood transfusion according to medical instruction (81,5%); platelet transfusion (72,3%), to monitor pulse temperature (89,2%); to monitor alive sign (89,2%); to guide to take medicine clearly (81,5%); to care, assist spirit, sentiment and psychology (87,7%).

* Key words: acute leukemia, patient, anemia, haemorrhage, bacterial contamination.

 

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh bạch cầu cấp là một trong nhóm bệnh lý thường gặp nhất của bệnh ác tính hệ tạo máu. Theo tài liệu ở Anh - Mỹ tỷ lệ bệnh Bạch cầu cấp trong cộng đồng vào khoảng 3 - 5 người/100.000 dân, chiếm khoảng 5% tổng số ung thư ở mọi lứa tuổi. Tại Việt Nam, bệnh bạch cầu cấp chiếm tỷ lệ hàng đầu trong các bệnh về máu và cơ quan tạo máu.

Bệnh bạch cầu cấp là một bệnh gặp với tỷ lệ cao trong khoa AM7, đồng thời những bệnh nhân khi được chẩn đoán xác định bị bệnh cầu cấp thường có những suy nghĩ bi quan chán nản, đôi khi có biểu hiện thiếu hợp tác trong điều trị. Do vậy công tác chăm sóc bệnh nhân của điều dưỡng như: động viên tinh thần, nhẹ nhàng, khéo léo, thông cảm sẻ chia trong quá trình điều trị là hết sức quan trọng, nó cùng với sự quan tâm của các bác sĩ là điều kiện quan trong cho điều trị thành công.

Hơn nữa, triệu chứng của bệnh bạch cầu cấp thường nặng nề và diễn biến cấp tính với các biểu hiện: sốt nhiễm khuẩn, xuất huyết dưới da và niêm mạc, thiếu máu, đau xương, đau đầu do xâm lấn tế bào ác tính… Đòi hỏi điều dưỡng càng phải có thái độ điều trị tích cực ngay từ đầu, thực hiện nghiêm mệnh lệnh của bác sĩ và phối hợp các biện pháp điều trị để điều trị triệu chứng và dự phòng các biến chứng được tốt nhất.

Điều trị hoá chất là một trong những biện pháp quan trong nhất để điều trị bệnh bạch cầu cấp. Tuy nhiên khi điều trị hoá chất cũng có thể gặp các biến chứng và tác dụng không mong muốn như: giảm bạch cầu hạt dẫn đến sốt nhiễm khuẩn, thiếu máu, xuất huyết nặng lên, nôn và buồn nôn, ăn uống kém, rối loạn tiêu hoá, rụng tóc, tâm lý tinh thần căng thẳng hơn, thoát hoá chất ra khỏi lòng mạnh gây viêm tại chỗ hoặc hoại tử… Vì vậy điều dưỡng cũng phải nắm vững được các tác dụng không mong muốn khi điều trị hoá chất để chăm sóc bệnh nhân được tốt hơn, đạt hiệu quả điều trị cao hơn.

Điều dưỡng là những người có nhiều thời gian tiếp xúc với bệnh nhân, trực tiếp chăm sóc và phục vụ về chuyên môn. Đồng thời, điều dưỡng còn phải quan tâm chăm sóc về mặt tinh thần để người bệnh yên tâm, hợp tác điều trị.

Để đánh giá công tác chăm sóc bệnh nhân bệnh bạch cầu cấp tại khoa Máu - Độc xạ - Bệnh nghề nghiệp, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu với mục tiêu:

1. Theo dõi triệu chứng, trạng thái tâm lý của bệnh nhân bị bệnh bạch cầu cấp và tác dụng không mong muốn của hoá chất.

2. Đánh giá công tác chăm sóc bệnh nhân bị bệnh bạch cầu cấp.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng

65 bệnh nhân được chẩn đoán xác định bệnh bạch cầu cấp điều trị nội trú tại khoa AM7. Đáp ứng các tiêu chuẩn chọn vào nghiên cứu, được phỏng vấn theo bộ câu hỏi.

Địa điểm nghiên cứu: khoa AM7- Bệnh viện Quân y 103.

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2014 đến tháng 10/2015.

2. Phương pháp nghiên cứu.

Nghiên cứu mô tả, cắt ngang.

2.1. Theo dõi triệu chứng và tác dụng phụ của hoá chất

- Theo dõi các triệu chứng lâm sàng của thiếu máu, xuất huyết, nhiễm khuẩn, lách to, gan to, đau xương (quan sát và hỏi bệnh nhân).

- Theo dõi các giai đoạn lâm sàng của bệnh bạch cầu cấp (giai đoạn ổn định không hoàn toàn, ổn định hoàn toàn, triệu chứng lâm sàng như cũ).

- Theo dõi một số tác dụng không mong muốn sau điều trị hoá chất: giảm số lượng bạch cầu hạt, thiếu máu, giảm số lượng tiểu cầu, suy gan thận, nôn buồn nôn, loét niêm mạc miệng họng, thoát hoá chất ra khỏi lòng mạch.

2.2. Đánh giá công tác chăm sóc bệnh nhân

- Hướng dẫn chế độ rõ ràng, dễ hiểu; hướng dẫn người bệnh ăn uống; vệ sinh cá nhân; chăm sóc thiếu máu; chăm sóc xuất huyết, chăm sóc nhiễm khuẩn; chăm sóc giảm đau; chăm sóc theo dõi dấu hiệu sống; cho bệnh nhân uống thuốc; giải thích và thực hiện đúng các bước của quy trình truyền hoá chất; giao tiếp trước trong và sau khi thực hiện các thủ thuật; chăm sóc hỗ trợ tinh thần, tình cảm và tâm lý

- Số liệu có được từ phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi và hồ sơ bệnh án.

Xử lý số liệu: theo phần mềm Epi Info Version 6.04.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1.Triệu chứng lâm sàng, một số tác dụng không mong muốn trong điều trị và trạng thái tâm lý của bệnh nhân

Từ bảng trên cho thấy, triệu chứng thiếu máu, xuất huyết và nhiễm khuẩn thường gặp trong bệnh bạch cầu cấp.

 

Sau điều trị, bệnh đạt ổn định hoàn toàn chiếm tỷ lệ cao nhất (70,7%).

Tỷ lệ gặp thiếu máu, giảm số lượng tiểu cầu, nôn buồn nôn chiếm tỷ lệ cao, tỷ lệ giảm số lượng bạch cầu hạt chiếm 49,2%.

Trạng thái tâm lý người bệnh chủ yếu là rất lo lắng và bi quan.

2. Tình hình chăm sóc bệnh nhân bệnh bạch cầu cấp


Nhận xét: số người bệnh được điều dưỡng quan tâm chăm sóc hỗ trợ tinh thần: 87,7%; tỷ lệ người bệnh được điều dưỡng hướng dẫn chế độ rõ ràng: 95,4%; hỗ trợ chăm sóc ăn uống khi không có người nhà: 53,8%; chăm sóc vệ sinh cá nhân chủ yếu do người nhà thực hiện, các chăm sóc chuyên nghiệp như chăm sóc thiếu máu, chăm sóc xuất huyết, chăm sóc nhiễm khuẩn, chăm sóc đau, chăm sóc giảm nhẹ biến chứng được thực hiện khá tốt (>70%); chăm sóc theo dõi các dấu hiệu sống thường quy: 76,9%. Điều dưỡng trực tiếp cho bệnh nhân uống thuốc còn thấp 61,5%. Có tới 23,1% bệnh nhân số người bệnh cho rằng điều dưỡng chưa thực hiện giao tiếp trước, trong và sau khi thực hiện thủ thuật.

BÀN LUẬN

Qua khảo sát, chúng tôi thấy triệu chứng lâm sàng của bệnh bạch cầu cấp có các triệu chứng như thiếu máu, xuất huyết, nhiễm khuẩn, lách to, đau xương. Kết quả khảo sát này cũng phù hợp với lý thuyết. Phương pháp điều trị chủ yếu là hóa chất, điều trị triệu chứng, chăm sóc giảm nhẹ biến chứng.

Người bệnh có thể có các tác dụng không mong  muốn của điều trị hoá chất; tỷ lệ triệu chứng và biến chứng bệnh cũng như tác dụng không mong muốn của bệnh bạch cầu cấp như giảm số lượng bạch cầu, số lượng tiểu cầu, thiếu máu, nôn buồn nôn gặp với tỉ lệ cao vì đây là những cơ quan nhạy cảm với hoá chất; đôi khi gặp những bệnh nhân rụng tóc, suy giảm tình dụng một cách rõ ràng. Do vậy đòi hỏi mỗi điều dưỡng viên phải hết sức tỉ mỉ và chu đáo, nắm chắc công tác điều dưỡng.

Đa số người bệnh có tâm trạng rất lo lắng và bi quan về bệnh tật chiếm tỷ lệ > 90%. Người mắc bệnh ung thư nói chung thường có cảm xúc, diễn biến tâm lý phức tạp, vì họ biết rằng cuộc sống của họ đang bị đe dọa cả về thời gian sống và chất lượng cuộc sống. Do đó, người bệnh thường bị suy sụp về tinh thần và thường bị tác động của các vấn đề xã hội khác.

Việc chăm sóc vệ sinh cá nhân, hướng dẫn vệ sinh răng miệng để ngăn ngừa bội nhiễm là rất cần thiết cho người bệnh. Nhiễm khuẩn trong bệnh bạch cầu cấp thường do nhiễm khuẩn của các vi khuẩn cộng sinh trong cơ thể, chăm sóc vệ sinh thân thể là hết sức quan trọng. Tuy nhiên việc vệ sinh cá nhân cho người bệnh chủ yếu do người nhà và bản thân người bệnh thực hiện, điều dưỡng mới chỉ hỗ trợ một phần cho người bệnh. Do vậy công tác vệ sinh cá nhân và chống nhiễm khuẩn cơ hội cho bệnh nhân rất quan trọng và điều dưỡng cần quan tâm hơn nữa.

Triệu chứng thiếu máu, xuất huyết, nhiễm khuẩn và đau xương là triệu chứng thường gặp ở người bệnh bạch cầu cấp. Phương pháp điều trị chăm sóc phải tôn trọng những than phiền của người bệnh, không nên chỉ dựa vào đánh giá chủ quan của nhân viên y tế hoặc người chăm sóc. Điều dưỡng phải quan sát, hỏi, lắng nghe qua đó xác định tình trạng thiếu máu, xuất huyết, nhiễm khuẩn, triệu chứng đau. Áp dụng biện pháp chăm sóc cải thiện bằng truyền máu, hạ nhiệt bằng thuốc, chườm lạnh, sử dụng các phương tiện giải trí như xem tivi, nghe đài, đọc báo, động viên tạo sự tin tưởng cho bệnh nhân, điều dưỡng thực tốt đạt 90%.

Chăm sóc giảm nhẹ các tác dụng không mong muốn của điều trị là điều cần phải được quan tâm vì các bệnh nhân đều có tác dụng không mong muốn do điều trị hóa chất với các mức độ khác nhau. Trong khảo sát có những bệnh nhân nôn và buồn nôn, loét niêm mạc miệng họng, do vậy chăm sóc miệng họng là cần thiết, loét niêm mạc miệng làm cho người bệnh ăn uống khó khăn, do đó điều dưỡng hướng dẫn người bệnh và gia đình chăm sóc, giữ vệ sinh răng miệng.          Trong nghiên cứu cho thấy chỉ có những người bệnh có dấu hiệu nặng mới được theo dõi thường xuyên, theo dõi thường quy được thực hiện ở 60% số người bệnh. Chăm sóc hướng dẫn người bệnh uống thuốc và thực y lệnh của bác sĩ, có tới 20% điều dưỡng chưa hướng dẫn thật chu đáo, có thể kết hợp sự quên của người bệnh, 80% số điều dưỡng thực hiện theo y lệnh của bác sĩ với trách nhiệm cao, thực hiện giao tiếp tương đối tốt trong và sau khi làm thủ thuật.

Chăm sóc hỗ trợ tinh thần, tình cảm tâm lý, chăm sóc này đòi hỏi người điều dưỡng phải có quan tâm, chia sẻ với người bệnh, phải có kỹ năng giao tiếp và hiểu biết về chuyên môn. Trong khảo sát của chúng tôi điều dưỡng thực hiện tương đối tốt công tác này. Bệnh nhân bệnh bạch cầu cấp được quản lý tốt bằng khám định kỳ có sổ theo dõi kết quả khám.

KẾT LUẬN

Qua theo dõi, chăm sóc 65 bệnh nhân bệnh bạch cầu cấp, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

1. Công tác theo dõi:

Triệu chứng lâm sàng của bệnh bạch cầu cấp đa dạng trong đó thiếu máu chiếm tỷ lệ cao (90,7%), nhiễm khuẩn (60,0%), xuất huyết (55,4%). Điều trị đạt ổn định hoàn toàn chiếm tỷ lệ cao (70,7%).         Một số tác dụng không mong muốn trong điều trị hoá chất: thiếu máu (89,2%), giảm số lượng tiểu cầu (96,9%), nôn và buồn nôn (84,6%), giảm số lượng bạch cầu hạt (49,2%). Tâm lý người bệnh rất lo lắng chiếm tỷ lệ cao (70,8%).

2. Công tác chăm sóc:

Kết quả công tác chăm sóc bệnh nhân đạt kết quả tốt: hướng dẫn chế độ rõ ràng (95,4%), truyền máu, khối hồng cầu theo y lệnh (81,5%), truyền khối tiểu cầu theo y lệnh (72,3%), theo dõi nhiẹt độ mạch (89,2%), theo dõi dấu hiệu sống có dấu hiệu nặng (89,2%), hướng dẫn uống thuốc rõ ràng cụ thể (81,5%), chăm sóc hỗ trợ tinh thần tình cảm tâm lý (87,7%).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. 1. Bộ y tế (2006), Hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ đối với người bệnh ung thư và AIDS - NXB Y học.
  2. 2. Đỗ Trung Phấn (2012), Truyền máu hiện đại- Cập nhật và ứng dụng trong điều trị bệnh, Nhà xuất bản giáo dục việt Nam.
  3. 3. Đỗ Trung Phấn (2003), Bệnh lý tế bào nguồn tạo máu, Nhà xuất bản y học, Hà Nội.
  4. 4. Hoàng Hữu Toàn (2005), Đánh thực trạng giao tiếp của điều dưỡng - triển khai đề án nâng cao kỹ năng giao tiếp cho điều dưỡng ngành y tế Lai Châu.
  5. 5. Tạp chí Ung thư học Việt Nam, Hội thảo quốc gia phòng chống ung thư - tháng 9/2008.

 

Người thực hiện: CNĐD Phí Văn Thành

Người hướng dẫn: TS. Đỗ Phương Hường

Bộ môn – khoa Máu, độc xạ, bệnh nghề nghiệp, BVQY 103

 

Dịch vụ thiết kế website wordpress