Trang chủ Thông tin y khoa Văn bản chuyên nghành Các báo cáo CÔNG TÁC ĐIỀU DƯỠNG TRONG SỬ DỤNG KHÁNG SINH DỰ PHÒNG TRONG ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ BỆNH SẢN PHỤ KHOA TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103

CÔNG TÁC ĐIỀU DƯỠNG TRONG SỬ DỤNG KHÁNG SINH DỰ PHÒNG TRONG ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ BỆNH SẢN PHỤ KHOA TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103

T6, 09/10/2020

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá vai trò công tác điều dưỡng trong sử dụng kháng sinh dự phòng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến hành trên 162 bệnh nhân thuộc nhóm phẫu thuật sạch, phẫu thuật sạch-nhiễm tại khoa Phụ Sản, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 1/2014 đến hết tháng 8/2014. Kết quả: 100% điều dưỡng tham gia tập huấn và thực hiện tốt quy trình kháng sinh dự phòng. Tỷ lệ thành công của KSDP trong phẫu thuật là 96,3%. Thân nhiệt sau mổ < 38oC: 96,9%. 93,3 % bệnh nhân trung tiện trong ngày đầu tiên sau mổ. Thời gian nằm viện trung bình: 3,75 ± 0,43 ngày.

* Từ khóa: Kháng sinh dự phòng.

 

NURSING WORK IN USING ANTIBIOTIC PROPHYLAXIS IN TREATMEN OBSTETRICS AND GYNECOLOGY DISEASE AT 103 MILITARY HOSPITAL

SUMMARY

Objective: To evaluate the role of nursing in the use of antibiotic prophylaxis. Objects and methods: Research conducted on 162 patients of clean and clean-contaminated surgery at obstetrics and gynecology department in Military Hospital 103. Time of research was from January through August 2014. Results: 100% nurses training and implementation process antibiotic prophylaxis. The success rate of surgery was 96.3%. Postoperative body temperature <38oC: 96.9%. Flatus 93.3% of patients in the first postoperative day. The average time of hospital stay: 3.75 ± 0.43 days.

* Key words: antibiotic prophylaxis.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong các phẫu thuật sản phụ khoa, kháng sinh dự phòng (KSDP) được sử dụng thành thường quy tại nhiều bệnh viện lớn. Sử dụng KSDP giúp giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn hậu phẫu, giảm chi phí điều trị, giảm số ngày nằm viện và giảm số lượng kháng sinh hậu phẫu... qua đó góp phần nâng cao chất lượng điều trị [1], [2], [5]…

Việc sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lý, hiệu quả và kinh tế luôn là mối quan tâm hàng đầu của Bệnh viện Quân y 103. Khoa Phụ Sản đã áp dụng KSDP thường quy trong nhiều phẫu thuật, trong đó lực lượng điều dưỡng là đối tượng trực tiếp tham gia. Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu nào đánh giá vai trò của điều dưỡng và hiệu quả sử dụng KSDP. Vì vậy nghiên cứu tiến hành với mục tiêu: “Đánh giá vai trò công tác điều dưỡng trong sử dụng kháng sinh dự phòng”.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu

162 bệnh nhân nhóm phẫu thuật sạch, phẫu thuật sạch-nhiễm tại Khoa Phụ Sản - Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 1/2014 đến hết tháng 8/2014.

* Tiêu chuẩn lựa chọn:

Bệnh nhân thuộc nhóm phẫu thuật sạch, sạch-nhiễm được chỉ định theo tiêu chuẩn của BYT năm 2015.

* Tiêu chuẩn loại trừ:

- Trường hợp bệnh nhân phẫu thuật không nằm trong danh sách chỉ định.

- Bệnh nhân không đồng ý tham gia chương trình.

2. Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu, can thiệp so sánh trước sau.

* Xử lý số liệu: bằng chương trình SPSS 16.0.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Tình hình sử dụng kháng sinh dự phòng

Tỷ lệ sử dụng KSDP chiếm 36,4% tổng số ca phẫu thuật.

 

2. Tỷ lệ thành công

Trong 162 BN, tỷ lệ sử dụng KSDP thành công chiếm 96,3%.

6 trường hợp vết mổ ướt trong đó 2 trường hợp thay băng sau 3 ngày vết mổ khô liền tốt, 4 trường hợp vết mổ căng nề, đỏ phải chuyển dùng kháng sinh điều trị, không có nhiễm khuẩn vết mổ sâu có mủ.

Kết quả của chúng tôi tương tự kết quả của các tác giả trong và ngoài nước. Theo Trương Ngọc Đan Thanh tỉ lệ KSDP thành công là 92,6% [3]. Trong nghiên cứu của Mudholkar  tỉ lệ KSDP thành công là 98,69% [4], Zaiba Sher nghiên cứu trên 314 BN tỉ lệ thành công là 96,9% [6].

 

3.Công tác điều dưỡng trong sử dụng KSDP

Bệnh viện và khoa luôn quan tâm huấn luyện đội ngũ điều dưỡng trong công tác vô khuẩn ngoại khoa và trong sử dụng KSDP. Đã tổ chức nhiều buổi  huấn luyện tại chức hướng dẫn, đào tạo về công tác kiểm soát nhiễm khuẩn và qui trình sử dụng KSDP.

4. Loại kháng sinh sử dụng dự phòng

Kháng sinh sử dụng chủ yếu nhóm cephalosporin thế hệ 3 (76%). Thời gian đầu sử dụng Claforan 1g, sau do nguồn cung cấp thuốc hạn chế chuyển sang sử dụng các kháng sinh khác: Fosmicin, Cefotaxim … vẫn theo nguyên tắc sử dụng KSDP nói chung.

5. Thân nhiệt sau mổ


Số bệnh nhân thân nhiệt ≤ 37,50C chiếm tỷ lệ cao: 86,4%.

Tỉ lệ sốt > 380C sau mổ chỉ có 5 bệnh nhân (3,1%) trong đó: 2 trường hợp sau đó giảm sốt và ổn định ra viện, 3 trường hợp có dấu hiệu nhiễm khuẩn phải chuyển kháng sinh điều trị (chiếm tỉ lệ 1,8%).

6. Chế độ dinh dưỡng sau phẫu thuật


Nhận xét: Số BN sử dụng dịch truyền sau 24h - 48h chiếm tỉ lệ thấp 4.3%

7. Thời gian trung tiện và thời gian nằm viện sau mổ


93,3% bệnh nhân trung tiện trong ngày đầu tiên sau mổ. Kết quả của chúng tôi cũng tương tự như nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Khuyên tỷ lệ trung tiện ngày đầu tiên sau mổ là 91,5%.

Thời gian nằm viện trung bình sau mổ trong nghiên cứu của chúng tôi là 3,75 ± 0,43 ngày, đa số bệnh nhân ra viện ≤ 3 ngày (80,3%), số ra viện sau 3 ngày chiếm 19,7%. 6 BN có dấu hiệu nhiễm khuẩn chuyển kháng sinh điều trị nên thời gian nằm viện > 5 ngày. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự thời gian nằm viện sau mổ trung bình trong nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Khuyên: 3,87 ± 2,97 ngày; Khác với nghiên cứu của  Zaiba Sher thời gian nằm viện tử 5-7 ngày chiếm trên 80% [6]. Sự khác biệt này do Zaiba Sher  nghiên cứu KSDP cho BN mổ lấy thai, sau đó tác giả chủ trương đánh giá vết mổ sau 5-7 ngày ổn định mới cho ra viện. Trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là phẫu thuật phụ khoa, trong đó số bệnh nhân phẫu thuật nội soi chiếm tỉ lệ cao nên thời gian nằm viện rút ngắn hơn.

Như vậy KSDP có thể rút ngắn thời gian điều trị, rút ngắn ngày nằm điều trị, bệnh nhân nhanh hồi phục và ra viện sớm.

 

 

KẾT LUẬN

Sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật sản phụ khoa sạch, sạch-nhiễm tại khoa Phụ Sản - Bệnh viện Quân y 103 đạt hiệu quả cao, an toàn, lượng kháng sinh sử dụng ít, thời gian hồi phục sau mổ nhanh, thời gian nằm viện ngắn…

Đội ngũ điều dưỡng khoa Phụ Sản, Bệnh viện Quân y 103 đã được đào tạo và thực hiện tốt qui trình sử dụng KSDP…

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Văn Cư, Nguyễn Thị Thanh Minh, “Mối liên quan giữa việc sử dụng kháng sinh dự phòng và nhiễm khuẩn vết mổ trong cắt tử cung hoàn toàn qua đường bụng tại bệnh viện Hùng Vương năm 2008”, Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, tập 14, phụ bản số 2/2010, tr75-79.
  2. Lê Thị Anh Thư, Nguyễn Văn Khôi, Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật sạch và sạch nhiễm tại bệnh viện Chợ Rẫy”, Tạp chí y học thực hành số 723 - 6/2010, tr 4 - 7.
  3. Trương Ngọc Đan Thanh, Nguyễn Hữu Đức, “Khảo sát việc sử dụng kháng sinh trong mổ sanh tại khoa sản bệnh viện Hùng Vương”, Chuyên đề y học tuổi trẻ, số 1 tập 4 năm 2010, tr325.
  4. A.S.Mudholkar, V.S. Taralekar et al, “Study of prophylactic single dose antibiotic in obstetrics and gynecological procedures in low risk patients”, Indian journal of applied research volume 3 Issue 3 March 2013 p284 - 285.
  5. ACOG Practice Bulletin. Antibiotic prophylaxis for gynecologic procedures. Obstet Gynecol 2001;23:2.
  6. Zaiba Sher, Musserat Ashraf et al, “Role of 24 Hours Antibiotic Prophylaxis in Clean Obstetric And Gynaecological Surgery”, Ann. Pak. Inst. Med. Sci. 2012; 8(2): 54-57.

 

Tác giả: CN Phạm Hải Yến

ĐD Trần Thị Thu Trang; ĐD Nguyễn Thị Nhung Hướng dẫn: PGS, TS. Nguyễn Viết Trung

ThS Đào Thế Anh

Bộ môn – khoa sản phụ, Bệnh viện Quân y 103

 

Dịch vụ thiết kế website wordpress