TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá kết quả chăm sóc kỳ đầu vết thương mạn tính và vết loét do tỳ đè bằng gạc Betaplast Silver.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: bao gồm 23 bệnh nhân bị vết thương mạn tính và vết loét do tỳ đè được điều trị tại khoa Chấn thương Chỉnh hình Bệnh viện Quân y 103. Vết thương mạn tính 19 bệnh nhân, vết loét do tỳ đè: 4 bệnh nhân.
Kết quả: Thời gian làm sạch vết thương trung bình là 3,52 ngày (2 đến 5 ngày). Bệnh nhân không thấy đau trong quá trình thay băng.
Kết luận: Gạc Betaplast Silver làm nhanh sạch vết thương mạn tính và vết loét do tỳ đè.
Từ khóa: Vết thương mạn tính, Betaplast Silver
CHRONIC WOUNDS - PRESSURE ULCERS CARE PRIMARY
WITH BETAPLAS SILVER
ABSTRACT
Objective: Evaluation of the outcomes of chronic wounds – pressure ulcers care with Betaplas Silver.
Subjects: 23 patients with chronic wound or ulcers were treated at Trauma and Orthopaedics Department of Hospital Military 103. Chronic wound: 19, pressure ulcer: 4. Mean age: 43,5 (21 to 78)
Results: Time to wound clean median 3,52 days (2 to 5 days). Not pain during dressing changes. Time of dressing change is quicker.
Conclusion: Chronic wounds – pressure ulcers care primary with Betaplast Silver has time of wound clean quickly.
Key word: Chronic wound, Betaplast Silver.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Các vết thương, vết loét mạn tính là tình trạng rối loạn quá trình tái tạo phục hồi của một vết thương. Thông thường các tổn thương này gặp trên các bệnh nhân có thể trạng kém, bệnh lí mãn tính hoặc suy mòn suy kiệt. Các thương tổn này gây tốn kém về kinh tế của bệnh nhân và xã hội và ảnh hưởng nặng nề đến tâm lí và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Mục đích của việc điều trị các vết thương, vết loét mạn tính là sạch và làm liền vết thương hoặc làm giảm nhẹ các triệu chứng. Thông thường tại các vết thương mạn tính có sự tăng số lượng vi khuẩn và ít có biểu hiện lâm sàng của nhiễm trùng, đây là yếu tố ngăn cản quá trình liền vết thương [4], [5].
Điều trị các vết thương, vết lotes mãn tính có nhiều phương pháp như săn sóc vết thương bằng thay băng hàng ngày, đắp gạc tẩm kháng sinh, ghép da, chuyển vạt da, sử dụng tế bào gốc, liệu pháp Laser… [1], [2]
Với việc sử dụng gạc thông thường, việc thay băng các vết thương vết loét mạn tính đòi hỏi phải được thực hiện hàng ngày, thậm chí có thể nhiều lần trong ngày. Điều này gây phiền toái cho bệnh nhân, mất thời gian của nhân viên y tế đồng thời tốn nhiều chi phí cho băng gạc, dung dịch sát khuẩn và các chi phí khác.
Betaplast Silver là loại băng vết thương thấm hút nước làm từ polyurethane có tẩm bạc sát khuẩn. Betaplast Silver tạo nên môi trường kháng khuẩn để ngăn ngừa nhiễm khuẩn và giảm số lượng vi khuẩn tại chỗ băng vết thương đồng thời hấp thu dịch tiết từ vết thương tạo điều kiện cho quá trình liền vết thương.
Trong thời gian gần đây tại khoa CTCH Bệnh viện Quân y 103 đã dùng gạc betaplast Silver cho các bệnh nhân có vết thương vết loét mạn tính. Chính vì vậy chúng tối tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu:
Đánh giá kết quả chăm sóc vết thương vết loét mạn tính bằng gạc Betaplast Silver.
2. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu.
Gồm 23 bệnh nhân có vết thương vết loét mạn tính điều trị tại khoa CTCH Bệnh viện Quân y 103 từ 9/2014 đến 9/2015. Trong đó có 4 bệnh nhân bị loét do tỳ đè, 19 bệnh nhân có vết thương mạn tính. Tất các các bệnh nhân đều đồng ý sử dụng gạc Betaplast Silver.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả tiến cứu, không nhóm chứng.
2.2.1. Vật liệu nghiên cứu
Sử dụng gạc BetaplastTM Silver do công ty Genewel, Hàn Quốc sản xuất, nhập khẩu bởi công ty Vimedimex, Bình Dương.
* Cấu tạo của gạc Betaplast Silver.
Gạc Betaplast Silver được làm từ Polyurethane gồm 3 lớp:
- Lớp ngoài cùng bảo vệ ngăn nhiễm bẩn và sự xâm nhập của vi khuẩn.
- Lớp giữa là lớp thấm hút có kích thước các lỗ từ 100 - 350µm, tạo thuận lợi cho việc hút dịch theo chiều thẳng đứng và không thấm ngược trở lại.
- Lớp trong cùng là lớp tiếp xúc vết thương có kích thước các lỗ ≤ 20µm, kích thước này nh ỏ hơn kích thước của nguyên bào sợi giúp thay băng dễ dàng, ít đau, không làm tổn thương nề vết thương. Đồng thời Betaplas Silver có phủ bạc kháng khuẩn nên ngăn cản và giảm số lượng vi khuẩn tại chỗ.
* Chỉ định dùng gạc Betaplast Silver.
- Loét do tỳ đè.
- Loét do đái tháo đường
- Vết thương do chấn thương
- Vết rách
- Bỏng
- Các vết thương ở người cho và nhận tạng/cơ quan.
- Vết thương sau phẫu thuật
- Loét do tắc tĩnh mạch.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ dùng Betaplast Silver cho các bệnh nhân bị loét do tỳ đè và vết thương mạn tính.
2.2.2 Quy trình chăm sóc vết thương
- Làm sạch vết thương bằng oxi già, và betadin.
- Lấy Betaplast Silver ra khỏi bao bì và cắt thành miếng lớn hơn kích thước vết thương.
- Đặt miếng Betaplast Silver lên bề mặt vết thương.
- Cố định miếng Betaplast Silver bằng băng bảo vệ bằng băng dính hoặc băng cuộ.
Tùy mức độ tiết dịch của vết thương ra ngoài lớp băng, có thể thay băng hàng ngày hay cách ngày.
Khi vết thương sạch có thể tiến hành ghép da mỏng hoặc chuyển vạt che phủ hoặc khâu da kỳ 2.
2.2.3. Các tiêu chí đánh giá
- Thời gian làm sạch vết thương
- Thời gian và số lần thay băng
- Những dấu hiệu bất thường trên bệnh nhân (đau, rát, xót …).
2.2.4 Xử lý số liệu
Các số liệu được thu thập và xử lý bằng phần mềm Microfot Ecxel 2007.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Tuổi và giới
- 23 bệnh nhân tuổi từ 21 đến 78, trung bình là 43,5 tuổi.
- Tỷ lệ nữ/nam là 1/3,6.
3.2. Vị trí tổn thương.
Có 23 bệnh nhân với 27 vị trí tổn thương.

3.3. Thời gian làm sạch vết thương

Có 2 bênh sau 5 ngày vết thương chưa sạch. Thời gian làm sạch vết thương trung bình là 3,52 ngày (từ 2 đến 5 ngày).
3.4. Số lần thay băng.
Có 10 bệnh nhân phải thay băng vết thương hàng ngày, 13 bệnh nhân thay băng vết thương cách ngày. Trong 10 bệnh nhân phải thay băng hàng ngày chúng tôi nhận thấy dịch vết thương thấm ra ngoài băng ít, ít mùi hôi. Trong 13 bệnh nhân được thay băng cách ngày, chúng tôi nhận thấy vết thương nhanh sạch và khô, da bề mặt xung quanh vết thương không bị ẩm ướt, dịch vết thương không thấm ra ngoài gạc.
3.5. Những dấu hiệu bất thường ở bệnh nhân: Không có bệnh nhân nào có dấu hiệu dị ứng hoặc phàn nàn khó chịu như đau, xót, rát tại chỗ sau khi đặt băng Betaplast Silver vào vết thương.
4. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm số liệu.
- Chủ yếu là bệnh nhân nam giới, tỷ lệ nữ/nam là 1/3,6. Đa số các bệnh nhân nằm trong độ tuổi lao đông do các vết thương mạn tính và loét tỳ đè chủ yếu đều xuất phát từ các tai nạn giao thông và tai nạn lao động. Chính vì vậy việc nhanh chóng làm liền vết thương để bệnh nhân trở lại lao động là điều hết sức cần thiết.
- Các tổn thương do tỳ đè gặp ở 3 bệnh nhân do bệnh nhân bị tổn thương cột sống, tủy sống gây hạ liệt, người bệnh phải nằm lâu dẫn đến loét vùng cùng cụt, ụ ngồi và mấu chuyển lớn. Tổn thương tại các vị trí này đều khó liền. Trong số này có 2 bệnh nhân sau 5 ngày vết thương không sạch do vết thương sâu tới khớp háng, chúng tôi phải chuyển sang sử dụng V.A.C và 1 bệnh nhân được chuyển vạt da cân che phủ.
4.2. Kết quả chăm sóc vết thương.
Chúng tôi nhận thấy các vết loét do tỳ đè có thời gian làm sạch vết thương lâu hơn, có 2 bệnh nhân (1 bệnh nhân loét vùng mấu chuyển 2 bên và 1 bệnh nhân loét vùng ụ ngồi) sau 5 ngày thay băng vết thương không sạch, vết thương sâu phải chuyển sang VAC. Các bệnh nhân khác vết thương đều sạch sau 2 - 5 ngày thay băng. Thời gian sạch vết thương trung bình là 3,52 ngày. Sở dĩ thời gian sạch vết thương nhanh là do Betaplast Silver ngoài việc tạo ra môi trường ẩm, bạc được tẩm vào trong gạc còn tạo môi trường kháng khuẩn. Đồng thời gạc Betaplast Silver còn có tác dụng hút dịch vết thương, làm cho bề mặt vết thương luôn khô, làm hạn chế hình thành giả mạc. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, nếu thay băng bằng gạc thông thường, thời gian làm sạch vết thương kéo dài hơn và tổ chức hạt mọc chậm hoặc hình thành tổ chức hạt xấu.
4.3. Số lần thay băng và thời gian mỗi lần thay băng.
- Đối với gạc Betaplast có thể sau 4 đến 7 ngày mới cần thiết phải thay băng. Nhưng trong nghiên cứu của chúng tôi có 13/23 bệnh nhân được thay băng cách ngày, còn lại là thay băng hàng ngày. Sở dĩ người bệnh được thay băng nhiều hàng ngày hoặc cách ngày, là do các bệnh nhân được săn sóc nội trú trong bệnh viện, chúng tôi thay băng và đánh giá vết thương thường xuyên để có biện pháp điều trị tiếp theo ngay khi vết thương sạch, từ đó rút ngắn thời gian điều trị tại bệnh viện cho bệnh nhân.
Thời gian mỗi lần thay băng nhanh, gạc Betaplast không dính vào vết thương, nên người bệnh không bị đau khi thay băng. Đồng thời vết thương khô, ít hoặc không có giả mạc nên thời gian làm sạch vết thương cũng nhanh hơn. Đối với các vết thương dùng gạc thông thường thời gian một lần thay băng lâu hơn, người bệnh đau đớn hơn khi bóc bỏ gạc ra khỏi vết thương.
4.4. Nhận xét của nhân viên y tế và bệnh nhân
Chúng tôi nghiên cứu tiến cứu, không có nhóm đối chứng, nhưng dựa trên nhận xét của nhận viên y tế đều thấy rằng thay băng bằng gạc Betaplas Silver dễ dàng hơn do gạc dày 5mm, không dính vào vết thương nên bóc gạc cũ ra khỏi vết thương dễ dàng. Đôi khi với những bệnh nhân như vậy nếu dùng gạc thông thường sẽ mất thời gian để bơm nước muối sinh lý làm ướt băng cho dễ bóc. Với những bệnh nhân có nhiều dịch chúng tôi thay băng bằng gạc Betaplas Silver hàng ngày, đến hôm sau có rất ít dịch thấm ra ngoài, còn nếu thay băng bằng gạc thông thường sẽ có thể phải thay băng 2 lần một ngày và có nhiều dịch thấm ra ngoài gây mùi hôi đồng thời tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển. tất cả các nhân viên y tế tham gia thay băng đều thấy hài lòng đối với gạc Betaplast Silver.
Có 21/23 bệnh nhân (91,3%) hài lòng về gạc Betaplast Silver. Khi thay băng bệnh nhân gần như không cảm thấy đau, vết thương khô, không gây mùi hôi khó chịu. Đặc biệt Nhân viên y tế nhận thấy vết thương tiến triển nhanh chóng. Có 2 bệnh nhân vết thương sâu, chảy nhiều dịch cho dù thay băng hàng ngày nhưng dịch vẫn thấm ướt băng và thấm dịch ra ngoài chúng tôi phải chuyển sang hút VAC cho bệnh nhân. Nghiên cứu của Dirk T. Ubbink năm 2008 trên 285 bệnh nhân, tác giả nhận thấy chỉ số đau trung bình ở nhóm dùng gạc Betaplast silver thấp hơn so với nhóm dùng gạc thông thương (0,9 so với 0,64), tác giả cũng nhận thấy chi phí cho một lần thay băng của gạc Betaplast cao hơn so với gạc thông thường, nhưng tính tổng cả các chi phí cho cả quá trình điều trị, bao gồm cả chi phí cho nhân viên y tế thay băng thì 2 nhóm không có sự khác biệt [3].
5. KẾT LUẬN
- Gạc Betaplast Silver giúp nhanh làm sạch vết thương, giảm thời gian và số lần thay băng.
- Không có tác dụng không mong muốn cho bệnh nhân.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Tiến Dũng, (2015). “Bước đầu nghiên cứu tác dụng của ghép tẩm tế bào gốc mô mỡ tự thân lên diễn biến lâm sàng và mô bệnh học tại chỗ vết thương mạn tính”. Kỷ yếu hội nghị khoa học liền vết thương lần thứ II. Tr. 14-26.
2. Chu Anh Tuấn (2015). “ Nghiên cứu lâm sàng điều trị sẹo loét và ung thư da”. Kỷ yếu hội nghị khoa học liền vết thương lần thứ II. Tr. 55-66.
3. Dirk T. Ubbink, Hester Vemeulen R.N, (2008). “ Occlusive vs gauze dressing for local wound care in surgical patients: A randomized clinical trial”, Arch surg., 143(10): 950-955.
4. Guest J.F, Ruiz F.,(2005) “Modelling the cost implications of using carboxymethylcellulose dressing with gauze in the management of surgical wounds healing by secondry intention in the US and UK”. Curr med res opin., 21(2), 281-290.
5.Robinson B.J. (2009), “The use of a hydrofibre dressing in wound management”. J wound care., 9 (1), 32-34.
Thực hiện: CN Vũ Anh Lực,ThS Hoàng Thế Hùng
Hướng dẫn: PGS.TS. Vũ Nhất Định
Bộ môn – khoa Chấn thương chỉnh hình,BVQY 103







