- 1. Xét nghiệm protein toàn phần trong máu là gì?
Xét nghiệm protein toàn phần trong máu là đo tổng lượng protein trong máu trong đó chủ yếu là albumin và globulin. Albumin giữ vai trò giữ nước trong lòng mạch và vận chuyển các chất. Globulin đóng vai trò quan trọng trong hệ thống miễn dịch.
- 2. Khi nào cần xét nghiệm protein toàn phần trong máu?
Xét nghiệm protein toàn phần trong máu có thể được thực hiện trong các trường hợp sau:
Khám sức khỏe định kỳ
Nghi ngờ có bất thường về protein, chẳng hạn như tăng hoặc giảm protein trong máu.
Theo dõi tình trạng bệnh lý ảnh hưởng đến mức protein trong máu, chẳng hạn như bệnh gan, bệnh thận, bệnh suy dinh dưỡng.
Xét nghiệm này cũng sẽ xem xét tỷ lệ albumin và globulin trong máu của bạn. Đây được gọi là “tỷ lệ A/G”.
- 3. Người bệnh cần chuẩn bị gì trước khi lấy máu xét nghiệm protein toàn phần
Hầu hết các trường hợp xét nghiệm protein toàn phần không yêu cầu chuẩn bị đặc biệt nào. Tuy nhiên, một số trường hợp có thể cần lưu ý:
Bệnh nhân nhịn ăn từ 8-12 giờ trước khi lấy máu.
Thông báo cho bác sĩ nếu bạn đang dùng bất kỳ loại thuốc nào, bao gồm cả thuốc kê đơn, thuốc không kê đơn và thực phẩm chức năng, vì một số loại thuốc có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.
Lấy máu tĩnh mạch để đông (lấy huyết thanh) hoặc chống đông heparrin (lấy huyết tương).
- 4. Ý nghĩa lâm sàng của xét nghiệm protein toàn phần trong máu?
Bình thường nồng độ của protein toàn phần trong huyết thanh là 60 - 80 g/L và trong huyết tương là 63 - 83 g/L. Giới hạn này có thể thay đổi đôi chút giữa các phòng thí nghiệm do các yếu tố khác như tuổi, giới, phương pháp xét nghiệm...
Protein toàn phần huyết thanh được tổng hợp chủ yếu ở gan, tế bào máu, hạch lympho, lách và tủy xương. Khi bị bệnh, nồng độ protein toàn phần cũng như các thành phần protein có thể thay đổi. Trên lâm sàng sự giảm nồng độ protein huyết thanh được quan tâm hơn.
+ Giảm protein trong máu thường gặp:
- Do giảm cung cấp: Gặp trong các trường hợp chế độ ăn thiếu protein, suy dinh dưỡng, bệnh Kwashiorkor hoặc do tiêu hoá và hấp thu kém gặp trong một số bệnh đường tiêu hoá như bệnh spru (rối loạn tiêu hóa, hấp thu protein), bệnh Crohn’s (viêm đại tràng tự miễn), thiếu hụt enzym tiêu hoá, thiếu hụt hệ thống vận chuyển acid amin,
- Do giảm tổng hợp: Chủ yếu gặp trong bệnh gan như xơ gan, viêm gan món do gan tổng hợp 100% albumin, 80% globulin huyết thanh.
- Do mất protein:
Bệnh thận: Điển hình là hội chứng thận hư, đào thải nhiều protein qua nước tiểu. Nồng độ protein trong mỏu giảm dẫn đến giảm áp lực keo trong lòng mạch gây phù. Ngoài ra còn gặp trong viêm cầu thận mạn, suy thận.
Bệnh bỏng nặng: Mất máu và huyết tương qua vết bỏng.
Các trường hợp chảy máu, mất máu nói chung.
- Do dùng thuốc: Thuốc gây giảm protein huyết thanh bao gồm estrogen và thuốc tránh thai đường uống.
+ Tăng protein máu gặp trong hai trường hợp:
Tăng tương đối gặp trong các trường hợp máu cô do mất nước, mất điện giải nặng.
Tăng tuyệt đối gặp trong trường hợp tăng tổng hợp loại protein bất thường nào đó, ví dụ trong bệnh đa u tuỷ xương xuất hiện protein Bence-Jones (protein nhiệt tan) làm cho protein máu tăng cao, có thể tới 160 g/L.
Garo lâu khi lấy máu có thể gây tăng nhẹ protein. Một số thuốc có thể gây tăng protein toàn phần huyết thanh, VD steroids, androgens, corticosteroids, dextran, hóc môn sinh trưởng, insulin, phenazopyridine và progesterone.
Tỷ lệ A/G
Thông thường, tỷ lệ albumin/globulin (A/G) > 1. Nếu tỷ lệ này quá thấp hoặc quá cao, phải thực hiện xét nghiệm bổ sung để xác định nguyên nhân và chẩn đoán. Tỷ lệ này thấp có thể do bệnh tự miễn, bệnh đa u tủy, xơ gan, bệnh thận.
Tỷ lệ A/G cao có thể chỉ ra sự thiếu hụt di truyền hoặc bệnh bạch cầu.
Tài liệu tham khảo
- 1. Mayo Clinic(2022). Total Protein Test. https://www.mayoclinic.org/tests-procedures.
- 2. Lab Tests Online(2022). Total Protein. https://labtestsonline.org.uk/tests/total-protein-test.
- 3. Bộ môn Hóa sinh (2014). Bài 4 chuyển hóa protid. Sách thực tập Hóa sinh y học, NXB QĐND, tr85-86.
PGS. TS. Phạm Văn Trân












