Xét nghiệm lipid máu

T3, 02/11/2021

Xét nghiệm lipid máu là việc làm cần thiết giúp phát hiện và điều trị kịp thời nhiều căn bệnh nguy hiểm liên quan đến tình trạng rối loạn lipid máu như: vữa xơ động mạch, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não...

  1. Lipid máu là gì?

Trước kia các xét nghiệm lipid máu thường làm là định lượng lipid toàn phần, phospholipid, cholesterol (toàn phần và este). Hiện nay, xét nghiệm lipid TP và phospholipid ít được làm, lâm sàng thường quan tâm nhiều hơn là xét nghiệm cholesterol, triglycerid, các lipoprotein.

Các xét nghiệm về lipoprotein thường làm để đánh giá tình trạng rối loạn lipid máu gồm: LDL (lipoprotein có tỷ trọng thấp) và HDL (lipoprotein có tỷ trọng cao).

Khi xảy ra sự rối loạn giữa các thành phần (chủ yếu là do cholesterol tăng cao) gây ra tình trạng rối loạn lipid máu mà bệnh lý đặc trưng ở đây là xơ vữa động mạch. Nó cũng là nguyên nhân gây ra nhiều loại bệnh nguy hiểm như động mạch vành, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não...

  1. Xét nghiệm lipid máu là làm những gì?

Quá trình xét nghiệm máu tập trung đánh giá các thông số của các thành phần trong lipid máu, xác định lipid máu bình thường hay không, phát hiện các nguy cơ mắc bệnh liên quan đến rối loạn lipid máu và đưa ra hướng điều trị phù hợp.

           2.1. Các chỉ số xét nghiệm lipid máu

Để phát hiện rối loạn lipid máu cần làm các xét nghiệm sau:

Cholesterol toàn phần, Triglycerid, LDL-C, HDL-C.

           2.2. Chi tiết đánh giá các thông số trong lipid máu

+ Cholesterol toàn phần huyết tương:

Bình thường: Cholesterol TP = 3,9 - 5,2 mmol/l.

Cholesterol toàn phần tăng trong:

Bệnh tăng cholesterol máu.

Tăng lipoprotein máu.

Tắc mật (sỏi mật, ung thư đường mật, xơ gan-mật, tắc mật,..).

Bệnh rối loạn chuyển hóa glycogen (bệnh Von Gierke).

Hội chứng thận hư (do viêm cầu thận mạn, tắc tĩnh mạch thận, bệnh hệ thống, thoái hóa dạng bột,…).

Bệnh lý tuyến tụy (đái đường, viêm tụy mạn,…).

Phụ nữ mang thai.

Tác dụng phụ của thuốc (các loại steroid).

Cholesterol toàn phần giảm trong:

Huỷ hoại tế bào gan (do thuốc, hóa chất, viêm gan,…).

Hội chứng cường giáp.

Suy dinh dưỡng (suy kiệt, các bệnh ác tính giai đoạn cuối,…).

Thiếu máu mạn tính.

Điều trị bằng corticoid và ACTH.

Giảm β-lipoprotein.

Bệnh Tangier.

+ Triglycerid huyết tương:

Bình thường: TG < 2,3 mmol/l.

Triglycerid tăng trong:

Tăng lipid máu gia đình.

Bệnh lý về gan.

Hội chứng thận hư.

Nhược giáp.

Đái đường.

Nghiện rượu.

Gout.

Viêm tụy.

Bệnh rối loạn chuyển hóa glycogen.

Nhồi máu cơ tim cấp (tăng đến đỉnh trong 3 tuần, có thể tăng kéo dài trong 1
năm).

Tác dụng phụ của thuốc (liều cao estrogen, block β) + Triglycerid giảm trong:  Suy dinh dưỡng.

+ HDL-C là xét nghiệm định lượng cholesterol toàn phần của phân đoạn lipoprotein HDL.

Vai trò quan trọng của HDL là loại bỏ cholesterol từ các tế bào nội mạc động mạch, là yếu tố bảo vệ chống bệnh tim mạch, chống xơ vữa động mạch. Lượng HDL-C càng thấp (< 0,9 mmol/l) thì khả năng bị xơ vữa động mạch càng cao.

Bình thường: HDL- C > 0,9 mmol/l.

HDL-C tăng trong:

Tập luyện thể lực.

Tăng độ thanh thải của VLDL.

Điều trị bằng insulin.

Dùng estrogen.

HDL- C giảm trong:

Stress và bệnh tật (nhồi máu cơ tim cấp, đột quị, phẫu thuật, chấn thương).

Suy kiệt.

Không luyện tập thể thao.

Béo phì.

Hút thuốc.

Đái đường.

Nhược giáp.

Bệnh lý về gan.

Hội chứng thận hư.

Tăng urê máu.

Tác dụng phụ của thuốc (progesteron, steroid, hạ huyết áp nhóm chẹn β).

Tăng triglycerid máu.

Giảm α-lipoprotein máu gia đình.

Một số bệnh di truyền (bệnh Tangier, bệnh thiếu hụt nhóm chuyển acyl giữa lecithin và cholesterol, bệnh thiếu apoprotein A-I và C-III,…).

+ LDL-cholesterol (LDL-C):

LDL có 25% protein là apo B; cholesterol gắn với LDL (LDL-C), nó tham gia vào sự phát triển của mảng xơ vữa động mạch gây suy mạch, tắc mạch và nhồi máu.

Vai trò quan trọng của LDL là vận chuyển và phân bố cholesterol cho các tế
bào của các tổ chức.

Bình thường: LDL- C < 3,9 mmol/l.

LDL-C tăng trong:

Tăng cholesterol máu gia đình.

Đái đường.

Kết hợp với tăng lipid máu.

Nhược giáp.

Hội chứng thận hư.

Suy thận mạn.

Chế độ ăn nhiều cholesterol.

Phụ nữ mang thai.

U tuỷ.

Rối loạn chuyển hóa porphyrin.

Chán ăn do tâm lý, thần kinh.

Tác dụng phụ của thuốc (estrogen, steroid, hạ huyết áp nhóm chẹn β, carpazepin).

Xét nghiệm Lipid máu được các chuyên gia đầu ngành khuyến cáo: những người từ 20 tuổi trở lên nên đi xét nghiệm rối loạn mỡ máu định kỳ 5 năm 1 lần. Vừa chủ động trong phòng ngừa, phát hiện bệnh vừa giúp có những điều trị kịp thời tránh để lâu ngày có những biến chứng nguy hiểm đến tính mạng.

Khi có những dấu hiệu của rối loạn mỡ máu bạn cần đến ngay những cơ sở y tế uy tín để tiến hành xét nghiệm và có chẩn đoán chính xác nhất. Từ đó có phác đồ điều trị phù hợp với từng người.

                                   Tác giả: ThS. BS. Hoàng Thị Minh (BMK Sinh hóa)

Dịch vụ thiết kế website wordpress