Trang chủ Thông tin y khoa Tin tức y khoa Bài báo y học Vai trò TSGF, CA15-3, CA125 và CEA máu trong chẩn đoán ung thư vú

Vai trò TSGF, CA15-3, CA125 và CEA máu trong chẩn đoán ung thư vú

T5, 08/07/2021

Tóm tắt

Theo GLOBOCAN 2018, ở Việt Nam có 11.161 người mắc và 4.671 người tử vong do ung thư vú. Việc phát hiện sớm ung thư vú qua sự tầm soát ở những phụ nữ bình thường đã làm thay đổi rõ ràng bệnh sử tự nhiên của bệnh cũng như cải thiện đáng kể tiên lượng bệnh. Mục tiêu: tìm hiểu việc phối hợp các dấu ấn sinh học CA15-3 (Cancer antigen 15-3), CA125 (Cancer antigen 125), CEA (Carcinoembryonic antigen), TSGF (Tumor specific growth factor) để làm tăng hiệu quả chẩn đoán ung thư vú. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang tại Bệnh viện K Tân triều từ từ tháng 11/2019 đến tháng 02/2020; trên 40 bệnh nhân nữ được xác định là ung thư vú và 40 người phụ nữ khỏe mạnh được làm các xét nghiệm CA15-3, CA125, CEA, TSGF. Kết quả: Phối hợp 2 dấu ấn có độ nhạy cao nhất là TSGF + CA125 với 95%, độ đặc hiệu cao nhất là CEA + CA15-3 và CA125 + CA15-3 với 100%, độ chính xác cao nhất là CA153 + CA125 (61,25%). Phối hợp 3 dấu ấn, độ chính xác cao nhất ở CA15-3 + CA125 + CEA. Phối hợp 4 dấu ấn độ chính xác chỉ 51,25%. Kết luận: phối hợp các xét nghiệm dấu ấn ung thư CA15-3, CA125, CEA, TSGF giúp tăng độ nhậy 95% nhưng độ đặc hiệu thấp và độ chính xác trung bình 51,25% trong chẩn đoán ung thư vú.

Từ khóa: CA15-3, CA125, CEA, TSGF, ung thư vú.

ROLES OF BLOOD TSGF, CA15-3, CA125  AND CEA LEVEL IN DIAGNOSIS OF BREAST CANCER

Summary

     According to GLOBOCAN 2018, in Vietnam, 11 161 people in Vietnam with breast cancer and 4671 deaths from breast cancer. Early detection of breast cancer through screening in females has clearly changed the spontaneous progression of the disease as well as significantly improved prognosis. Objectives: To study the combination of biomarkers CA15-3 (Cancer antigen 15-3), CA125 (Cancer antigen 125), CEA (Carcinoembryonic antigen), TSGF (Tumor specific growth factor) to increase the effectiveness of breast cancer diagnosis. Objects and methods: cross-sectional descriptive studies at Tan Trieu Cancer Hospital from November 2019 to February 2020; studied on 40 female patients diagnosed with breast cancer and 40 healthy women were tested for CA15-3, CA125, CEA, TSGF. Results: The combination of 2 markers with the highest sensitivity is TSGF + CA125 with 95%, the highest specificity is CEA + CA15-3 and CA125 + CA15-3 with 100%, the highest accuracy is CA153 +. CA125 (61.25%). 3-biomarker combination, the highest accuracy in CA15-3 + CA125 + CEA. 4-biomarker combination, the accuracy is only 51.25%. Conclusion: Combination of tumor marker tests CA15-3, CA125, CEA, TSGF increased sensitivity by 95% but low specificity and average accuracy of 51.25% in breast cancer diagnosis.   Keywords: CA15-3, CA125, CEA, TSGF, breast cancer.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo thống kê GLOBOCAN 2018, ở Việt Nam có 11.161 người mắc và 4.671 người tử vong do ung thư vú. Trong đó, ung thư vú ở nam chiếm khoảng 1% các trường hợp ung thư vú [1].

Đây là một bệnh trong nhiều năm qua đã có nhiều nghiên cứu về nguyên nhân, bệnh sinh và điều trị. Việc phát hiện sớm ung thư vú qua sự tầm soát ở những phụ nữ bình thường đã làm thay đổi rõ ràng bệnh sử tự nhiên của bệnh cũng như cải thiện đáng kể tiên lượng bệnh. Các dấu ấn sinh học CA15-3, CA125, CEA với các dấu ấn sinh học khác để làm tăng hiệu quả chẩn đoán ung thư vú là cần thiết. Trong đó TSGF là một trong những dấu ấn ưng thư mới được nghiên cứu trong quá trình chẩn đoán và theo dõi các bệnh ung thư. Sự kết hợp dấu ấn sinh học này với các dấu ấn sinh học khác có thể giúp tăng hiệu quả chẩn đoán và điều trị các bệnh ung thư nói chung.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và phương pháp

Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện K cơ sở Tân Triều,  Thanh Trì, Hà Nội và Bộ môn Hoá sinh, Bộ môn Sinh lý bệnh - Học viện quân y. Thời gian thực hiện: từ tháng 11/2019 đến tháng 02/2020.

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có so sánh đối chứng. Chọn mẫu thuận tiện theo chủ đích, gồm 40 bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung thư vú (nhóm 1) và 40 người bình thường, khoẻ mạnh, không mắc các bệnh mạn tính (nhóm 2).

Các bước tiến hành

Bước 1. Đánh giá lâm sàng, cận lâm sàng lúc vào viện được tiến hành theo bệnh án mẫu: Tuổi, giới, các triệu chứng cơ năng, thực thể, toàn thân…

Bước 2. Chẩn đoán xác định: Chẩn đoán được xác định bằng phương pháp mô học, và phân loại bệnh lý được xác định theo hệ thống phân loại hiện tại của WHO (2012). Chẩn đoán giai đoạn ung thư vú theo TNM.

Bước 3. Định lượng các marker ung thư: CA15-3, CEA, CA125, TSGF

 Phương pháp định lượng nồng độ các marker CA15-3, CEA, CA125, TSGF

Lấy mẫu:

Lấy 2ml máu tĩnh mạch, chống đông bằng heparin bệnh nhân nhịn đói  sau 8 - 12 giờ, cho vào ống chống đông bằng heparin. Ly tâm 3000 vòng/5 phút, tách huyết tương. Xét nghiệm được làm ngay trong vòng 4h, nếu chưa làm ngay thì tách và bảo quản huyết tương ở tủ âm (-800C) cho đến khi sử dụng.

Định lượng CA15-3, CEA, CA125 huyết tương theo phương pháp miễn dịch hóa phát quang “CMIA” trên máy xét nghiệm miễn dịch ARCHITECT iSystem.

Trị số tham chiếu: CEA ≤ 5ng/ml, CA 125 < 28 U/mL, CA 15-3 < 28 U/mL theo máy Architect I2000.

Định lượng TSGF huyết tương theo nguyên lý Sandwich-ELISA trên hệ thống máy ELISA Diagnostic Automatic.

Trị số tham chiếu:TSGF ≤ 12 U/mL( theo nghiên cứu này)

Số liệu được mã hóa, nhập liệu, quản lý và xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

3.1.1. Tuổi của bệnh nhân nghiên cứu

          Bảng 3.1. Tuổi bệnh nhân nghiên cứu

Nhóm tuổi (Năm)

 

 

Đặc điểm

31-40

 

41-50

 

51-60

 

>60

 

Số lượng 7 7 17 9
Tỷ lệ 17.50% 17.50% 42.50% 22.50%
Tuổi trung bình 52,72 ± 10.37
Tuổi cao nhất 78
Tuổi thấp nhất 33

Nhận xét: Tuổi trung bình của nhóm bệnh là 52,72±10,37. Tuổi trẻ nhất mắc ung thư trong là 33 tuổi, lớn nhất là 78 tuổi

3.2. Nồng độ  CA15-3, CA125, CEA và TSGF trên đối tượng nghiên cứu.

Bảng 3.2. Nồng độ TSGF, CEA, CA153, CA125 trên đối tượng nghiên cứu.

Dấu ấn

sinh học

Nhóm bệnh Nhóm chứng p
Trung vị IQR

(khoảng tứ phân vị)

Trung vị IQR

(khoảng tứ phân vị)

TSGF (U/mL) 18,11 23,16 22,71 20,92 0,563
CEA (ng/ml) 2,07 1,67 1,05 0,6 0,000
CA15-3 (U/mL) 16,90 14,33 12,55 8,12 0,02
CA125 (U/mL) 12,30 12,03 16,05 13,48 0,985

Nhận xét: Khoảng tứ phân vị nồng độ của CEA và CA153 của nhóm bệnh có sự khác biệt với nhóm chứng, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p tương ứng 0,000 và 0,020 (p<0,05). Khoảng tứ phân vị của TSGF và CA125 trong nhóm bệnh và nhóm chứng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p tương ứng 0,563 và 0,985 (p>0,05)

3.3. Độ nhậy và độ đặc hiệu trong chẩn đoán ung thư vú khi phối hợp các dấu ấn sinh học CA15-3, CA125, CEA và TSGF.

Bảng 3.3. Độ nhạy và độ hiệu khi phối hợp đồng thời 2 dấu ấn sinh học

Dấu ấn sinh học Độ nhậy (%) Độ đặc hiệu (%) Độ chính xác (accurately) %
TSGF và CEA 95,0 10,0 52,5
TSGF và CA153 92,5 10,0 51,25
TSGF và CA125 95,0 7,5 51,25
CEA và CA153 20,0 100 60,0
CEA và CA125 20,0 92,5 56,25
CA153 và CA125 22,5 100 61,25

Nhận xét: Độ nhạy cao nhất khi phối hợp đồng thời 2 dấu ấn là TSGF và CEA, TSGF và CA125 với 95,0%. Độ đặc hiệu cao nhất khi phối hợp đồng thời 2 dấu ấn là CEA và CA125, CA15-3 và CA125 với 100%. Độ chính xác cao nhất khi phối hợp đồng thời 2 dấu ấn là CA15-3 và CA125 (61,25%), sau đó là CEA và  CA15-3 (60%)

Bảng 3.4. Độ nhậy và độ đặc hiệu khi sử dụng phối hợp đồng thời 3 dấu ấn sinh học

Dấu ấn sinh học Độ nhậy

(%)

Độ đặc hiệu (%) Độ chính xác (accurately) %
CA15-3, CA125, CEA 27,5 92,5 60
CA15-3, CEA, TSGF 95,0 7,5 51,25
CA15-3, CA125, TSGF 95,0 5,0 50,0
CA125,CEA, TSGF 95,0 7,5 51,25

Nhận xét: Độ nhạy cao nhất khi phối hợp đồng thời 3 dấu ấn: (CA15-3, CA125, TSGF), (CA15-3, CEA, TSGF) và (CA125,CEA, TSGF) với 95,0%. Độ đặc hiệu cao nhất khi phối hợp đồng thời CA15-3, CA125, CEA với 92,5%. Độ chính xác cao nhất trong phối hợp đồng thời CA15-3, CA125, CEA với 60%.

Bảng 3.5. Độ nhậy và độ đặc hiệu khi sử dụng phối hợp 4 dấu ấn sinh học

Dấu ấn sinh học Độ nhậy (%) Độ đặc hiệu (%) Độ chính xác (accurately) %
CA15-3, CA125,CEA, TSGF 95,0 7,5 51,25

Nhận xét: Độ nhạy cao với 95,0%, độ đặc hiệu thấp 7,5%, độ chính xác trung bình 51,25%.

4. BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu

          Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm tuổi có tỷ lệ mắc ung thư cao nhất là 51-60 tuổi (42,5%), tiếp đó là >60 tuổi (22,5%) và xu hướng tuổi càng cao tỷ lệ mắc càng tăng. Kết quả này phù hợp với nhiều y văn trong nước cũng như nước ngoài với độ tuổi mắc ung thư cao nhất >50 tuổi, và tỷ lệ hiếm gặp ở tuổi dưới 50 [2]. Có nghiên cứu cũng chỉ ra sự thay đổi của các hormon giới tính thúc đẩy các yếu tố phát triển ung thư ở phụ nữ giai đoạn tiền mãn kinh làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú [3].

4.2. Nồng độ của TSGF, CEA, CA153, CA125 trên bệnh nhân ung thư vú.

Theo kết quả từ bảng 3.2, khoảng tứ phân vị nồng độ của CEA và CA15-3 của nhóm bệnh có sự khác biệt với nhóm chứng, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p tương ứng 0,000 và 0,020 (p<0,05). Bên cạnh đó khoảng tứ phân vị của TSGF và CA125 trong nhóm bệnh và nhóm chứng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p tương ứng 0,563 và 0,985 (p>0,05). Nghiên cứu Wang G. và cs (2014) nghiên cứu trên 3 nhóm (nhóm ung thư vú, nhóm u lành tính và nhóm người khỏe mạnh) kết quả cho thấy ở bệnh nhân ung thư vú  nồng độ CA15-3 (93,79 ± 21,80 U/ml), CA125 (86,68 ± 21,37 U/ml), CEA (43,29 ± 16,81 ng/ml) và TSGF (145,46 ± 32,11 U/ml). Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với nhóm u lành tính và người khỏe mạnh, với p<0,01 [4].  Sự khác biệt của nghiên cứu của chúng tôi với các nghiên cứu trên thế giới, có thể giải thích do nghiên cứu trên quần thể nhỏ, chưa có sự tương đồng hoàn toàn về mẫu nhóm bệnh và nhóm chứng.

4.3. Độ nhạy, độ đặc hiệu của các dấu ấn sinh học CA15-3, CA125, CEA, TSGF khi phối hợp trong chẩn đoán ung thư vú

Khi phối hợp 2 dấu ấn sinh học.

          Theo kết quả bảng 3.3, nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy độ nhạy cao nhất khi phối hợp đồng thời 2 dấu ấn là TSGF và CEA, TSGF và CA125 với 95,0%. Độ đặc hiệu cao nhất khi phối hợp đồng thời 2 dấu ấn là CEA và CA125,CA15-3 và CA125 với 100%. Độ chính xác cao nhất khi phối hợp đồng thời 2 dấu ấn là CA15-3 và CA125 (61,25%), sau đó là CEA và  CA15-3 (60%). Sự phối hợp các xét nghiệm giúp tăng giá trị chẩn đoán bệnh. Zhao S. và cs (2015) nghiên cứu trên các đối tượng u vú lành tính và ung thư vú ác tính và định lượng nồng độ CEA, CA125 ở dịch núm vú, sữa và máu cho thấy độ nhạy khi phối hợp đồng thời xét nghiệm 2 dấu ấn CEA + CA125 là 84% cao hơn có ý nghĩa thống kê với độ nhạy khi xét nghiệm riêng biệt 2 dấu ấn là CEA (62,4%), CA125 (62,5%), tương tự độ đặc hiệu khi phối hợp thấp hơn đáng kể với 74,5% trong khi xét nghiệm đơn lẻ CEA có đặc hiệu tới 88,4%, còn CA125 71,6%. Bên cạnh đó chỉ số AUC khi phối hợp là 0,845 cao hơn khi làm đơn lẻ với AUC CEA=0,827, AUC CA125=0,706, với p<0,001 [5]. Nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng với kết quả trên khi phối hợp 2 xét nghiệm làm tăng độ nhạy và giảm độ đặc hiệu nhưng độ chính xác chẩn đoán tăng lên và cao nhất khi phối hợp CEA và CA125 với độ chính xác chiếm 61,25%. Tuy nhiên có sự khác biệt về chỉ số của độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác. Sự khác biệt này có thể giải thích do cỡ mẫu nghiên cứu của chúng tôi còn nhỏ chưa đại diện cho quần thể nghiên cứu. Nghiên cứu của Fujita T. và cs (2011) khi nghiên cứu các dấu ấn sinh học của ung thư vú cho thấy độ nhạy khi phối hợp CEA + CA15-3 là 55%, độ đặc hiệu 86%, độ chính xác 78% trong khí làm riêng biệt các xét nghiệm dấu ấn độ nhạy CEA (39%), CA15-3 (36%); độ đặc hiệu (CEA: 88%, CA15-3: 99%); độ chính xác (CEA: 76%, CA15-3: 83%), sự phối hợp xét nghiệm này có vai trò phát hiện sớm mắc ung thư vú, theo dõi tái phát và nguy cơ di căn ung thư vú ác tính [6]. Bên cạnh đó, chúng tôi nhận thấy xét nghiệm khi phối hợp dấu ấn sinh học TSGF có độ nhạy rất cao từ 92,5% đến 95% khi phối hợp với các dấu ấn sinh học khác, như vậy, liệu ứng dụng trong thực tiễn lâm sàng của TSGF rất có ý nghĩa trong sàng lọc các bệnh nhân ung thư vú ác tính, và có thể tăng giá trị chẩn đoán với các xét nghiệm khác có độ đặc hiệu cao lần lượt sau khi làm TSGF.

Khi phối hợp 3 dấu ấn sinh học

Kết quả bảng 3.4 nhận thấy rằng khi phối hợp đồng thời 3 dấu ấn sinh học: Độ nhạy cao nhất khi phối hợp đồng thời 3 dấu ấn: (CA15-3, CA125, TSGF), (CA15-3, CEA, TSGF) và (CA125,CEA, TSGF) với 95,0%. Độ đặc hiệu cao nhất khi phối hợp đồng thời CA15-3, CA125, CEA với 92,5%. Độ chính xác cao nhất trong phối hợp đồng thời CA15-3, CA125, CEA với 60%. So sánh khi phối hợp giữa 2 dấu ấn sinh học chúng tôi nhận thấy các giá trị độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác có xu hướng giảm hơn khi độ chính xác cao nhất khi phối hợp 2 dấu ấn là 61,25% còn phối hợp 3 dấu ấn cao nhất chỉ 60%. Nghiên cứu của Song X. và cs (2020) khi nghiên cứu phối hợp các dấu ấn sinh học CEA, CA15-3, TSGF và siêu âm Doppler màu trong phát hiện sớm ung thư vú cho thấy sẽ làm tăng giá trị chẩn đoán trong ung thư vú như đối với các xét nghiệm đơn lẻ: độ nhạy CA15-3 (64,08%), CEA (62,14%), TSGF (66,02%); độ đặc hiệu CA15-3 (92,0%), CEA (90,0%), TSGF (90,0%); độ chính xác CA15-3 (73,2%), CEA (71,24%), TSGF (73,86%). Sau khi phối hợp các xét nghiệm làm tăng giá trị chẩn đoán bệnh với độ nhạy 95,15%, độ đặc hiệu 80,0% và độ chính xác 90,2%, sự khác biệt này sau phối hợp có ý nghĩa thống kê với p<0,001 ở cả độ nhạy và độ chính xác [7]. Như vậy, phối hợp xét nghiệm các dấu ấn sinh học sẽ giúp cho giá trị chẩn đoán bệnh chính xác hơn các xét nghiệm đơn lẻ. Tuy nhiên dựa vào giá trị chẩn đoán, lợi ích của việc phối hợp, chi phí cho xét nghiệm việc ứng dụng lâm sàng trong xét nghiệm cần phải cân nhắc phối hợp 2 hay 3 dấu ấn sinh học cho phục vụ chẩn đoán.

Khi phối hợp 4 dấu ấn sinh học

Kết quả nghiên cứu chúng tôi ở bảng 3.5 nhận thấy khi phối hợp đồng thời cả 4 dấu ấn sinh học CEA, CA125, CA15-3 và TSGF thì độ nhạy cao với 95,0%, độ đặc hiệu thấp 7,5%, độ chính xác trung bình 51,25%. So sánh với việc phối hợp 3 dấu ấn, 2 dấu sinh học, có vẻ việc phối cả 4 dấu ấn sinh học trên không làm tăng giá trị chẩn đoán hơn phối hợp 3 dấu ấn sinh học và 2 dấu ấn sinh học. Nghiên cứu của Wang G. và cs (2014) [7] cho thấy khi phối hợp đồng thời 4 dấu ấn sinh học (TSGF+CEA+CA125+CA15-3) độ nhạy tăng lên có ý nghĩa thống kê là 97,7% cao hơn so với các xét nghiệm đơn lẻ (CEA-53,5%, CA125-55,8%, TSGF-62,8%, CA15-3 60,5%) có ý nghĩa thống kê với p<0,01. Tuy nhiên, việc phối hợp 4 dấu ấn này làm giảm độ đặc hiệu với 75,0% so với các xét nghiệm đơn lẻ (CEA 89,0%, CA125 90,4%, CA15-3 91,9% và TSGF 91,2%) và độ chính xác với 80,5% trong khi độ chính xác của xét nghiệm đơn lẻ (CA15-3 84,4%, CA125 82,2%, CEA 80,5% và TSGF 84,4%). Như vậy, việc phối hợp nhiều dấu ấn sinh học cần được cân nhắc về lợi ích chẩn đoán, chi phí xét nghiệm so với việc làm các xét nghiệm đơn lẻ.

5. KẾT LUẬN

Phối hợp 2 dấu ấn có độ nhạy cao nhất là TSGF + CA125 với 95%, độ đặc hiệu cao nhất là CEA + CA15-3 và CA125 + CA15-3 với 100%, độ chính xác cao nhất là CA153 + CA125 (61,25%). Phối hợp 3 dấu ấn, độ chính xác cao nhất ở  CA15-3 + CA125 + CEA. Phối hợp 4 dấu ấn độ chính xác chỉ 51,25%.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Globocan (2018), "Breast", International Agency of Research on Cancer, WHO, p1-2.
  2. Bonadonna G., Hortobagyi G.N., Valagussa P., et al. (2006), Textbook of breast cancer: a clinical guide to therapy, Taylor & Francis, London New York
  3. ESHRE Capri Workshop Group (2004), "Hormones and breast cancer", Hum Reprod Update, 10(4), p281–293.
  4. Wang G., Qin Y., Zhang J., et al. (2014), "Nipple Discharge of CA15-3, CA125, CEA and TSGF as a New Biomarker Panel for Breast Cancer", Int J Mol Sci, 15(6), p9546–9565.
  5. Zhao S., Mei Y., Wang J., et al. (2016), "Different Levels of CEA, CA153 and CA125 in Milk and Benign and Malignant Nipple Discharge", PLOS ONE, 11(6), e0157639
  6. Fujita T., Murayama K., Hanamura T., et al. (2011), "CSLEX (Sialyl Lewis X) is a Useful Tumor Marker for Monitoring of Breast Cancer Patients", Jpn J Clin Oncol, 41(3), p394–399.
  7. Song X., Liang B., Wang C., et al. (2020), "Clinical value of color Doppler ultrasound combined with serum CA153, CEA and TSGF detection in the diagnosis of breast cancer", Exp Ther Med, 20, p1822-1828

Nguồn: Tạp chí y học Việt Nam (tập 496), số chuyên đề tháng 11 năm 2020

 

Nhóm tác giả: Huỳnh Quang Thuận - khoa Sinh hóa, BVQY 103

 Vương Thị Ngân - Bệnh viện K cơ sở Tân Triều

Lê Vũ Ngọc Minh - Trường PTTH chuyên Hà Nội – Amsterdam.

 

 

Dịch vụ thiết kế website wordpress