TS. Vũ Anh Hải, PGS. TS Nghiêm Đức Thuận và cộng sự
(Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y)
Đặt vấn đề: Bệnh nhân tràn mủ màng phổi có tình trạng thể chất kém và bệnh lý đi kèm nghiêm trọng phải đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn trong việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp, kết quả điều trị hạn chế, tỷ lệ biến chứng và tử vong cao.
Mục tiêu: Nhận xét chỉ định và đánh giá kết quả điều trị mủ màng phổi ở bệnh nhân có tình trạng thể chất kém và bệnh lý kèm theo nặng bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực.
Phương pháp: Nghiên cứu quan sát trên 12 bệnh nhân được điều trị tại Khoa Phẫu thuật Lồng ngực - Bệnh viện Quân y 103, từ tháng 1 năm 2017 đến tháng 12 năm 2022
Kết quả: Độ tuổi trung bình bệnh nhân là 63,4 ± 12,4 tuổi, tỷ lệ nam/nữ là 5/1. Trong nghiên cứu, 83,3% trường hợp mủ màng phổi giai đoạn II. Điểm Karnofsky trung bình là 50,0 ± 6,1. Bệnh lý đi kèm bao gồm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) (25,0%), thủng thực quản tự phát (16,7%), ung thư gan, xơ gan, ung thư thực quản, suy thận giai đoạn cuối - lọc máu chu kỳ (cùng tỷ lệ 8,7%). Kết quả khả quan với thời gian phẫu thuật ngắn (65,6 ± 9,4 phút), tỷ lệ truyền máu 8,3%, và tỷ lệ biến chứng thấp (nhiễm trùng vết mổ 8,3%). Thời gian nằm viện sau phẫu thuật là 16,8 ± 9,9 ngày. Dẫn lưu màng phổi được rút ở 11 trong số 12 trường hợp sau trung bình 60,1 ± 8,5 ngày, trong khi một bệnh nhân ung thư thực quản cần lưu dẫn lưu kéo dài. Tỷ lệ người bệnh phục hồi hoàn toàn sau 1 năm theo dõi là 91,7%.
Kết luận: Phẫu thuật nội soi lồng ngực (VATS) điều trị bệnh nhân mủ màng phổi giai đoạn I và II có các bệnh lý đi kèm nghiêm trọng đạt kết quả tích cực.
Từ khóa: mủ màng phổi, phẫu thuật nội soi lồng ngực, dẫn lưu mủ.
***************************
Chi tiết mời Quý đồng nghiệp và độc giả xem tại:
Nguồn Tạp chí quốc tế: Medical Devices: Evidence and Research (ISI/Scopus/Q2)
Đường link bài báo: doi: https://doi.org/10.2147/MDER.S498901 hoặc: https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/39906171












