Trang chủ Bài giảng chuyên ngành Chuyên ngành Nội khoa TỔN THƯƠNG CƠ THỂ DO NẮNG NÓNG (SAY NẮNG- SAY NÓNG)

TỔN THƯƠNG CƠ THỂ DO NẮNG NÓNG (SAY NẮNG- SAY NÓNG)

T6, 04/10/2024
  1. 1. ĐẠI CƯƠNG

1.1. Tổn thương cơ thể do nóng (say nóng)

Tổn thương cơ thể do nóng là bệnh lý liên quan đến tình trạng mất khả năng đối phó với tăng gánh nhiệt (stress nhiệt), xảy ra khi sinh nhiệt nội sinh hoặc ngoại sinh vượt khả năng điều hòa nhiệt để duy trì cân bằng nội môi.

Rối loạn các chức năng do hậu quả thứ phát ở tế bào và cơ quan dẫn đến các tình trạng bệnh lý khác nhau, từ nhẹ (chuột rút, ngất) đến trung bình (kiệt sức do nóng) và nặng (đột qụy do nóng).

1.2.  Tổn thương cơ thể do bức xạ mặt trời (say nắng)

Say nắng là một hình thái của say nóng, xảy ra khi nạn nhân hoạt động gắng sức cường độ cao dưới tác động trực tiếp của bức xạ mặt trời.

Cơ chế gây tăng nhiệt cơ thể cơ bản tương tự như các trường hợp say nóng, chủ yếu do nhiệt lượng của tia hồng ngoại trong bức xạ mặt trời tác động lên cơ thể cùng với những yếu tố nhiệt độ môi trường và độ ẩm cao, không khí xung quanh chuyển động kém, làm rối loạn trung tâm điều hòa thân nhiệt.

Bên cạnh đó, còn thêm yếu tố tác động của tia tử ngoại chiếu vào cơ thể (nhất là vùng đầu, cổ, gáy) gây ra những tổn thương chủ yếu ở hệ thần kinh trung ương.

Trên thực tế: Một bệnh nhân có thể kết hợp cả hình thái say nắng và say nóng, không có sự phân biệt rõ ràng là chỉ say nóng hoặc say nắng đơn thuần. Nên chiến lược sử trí say nóng say nắng là kết hợp của cả hai loại hình cấp cứu điều trị say nắng say nóng.

  1. 2. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

2.1. Say nóng

2.1.1. Các yếu tố nguy cơ từ môi trường

Nhiệt độ môi trường và độ ẩm cao: Không khí xung quanh chuyển động kém và nhiệt lượng lớn từ bức xạ mặt trời và các nguồn nhiệt khác. Nhiệt độ cao, nhiệt lượng lớn từ bức xạ mặt trời và các nguồn nhiệt khác làm cơ thể bị tăng hấp thu nhiệt từ môi trường, cơ thể đáp ứng giảm tạo nhiệt và tăng thái nhiệt. Nếu độ ẩm cao và lưu thông không khí kém sẽ làm giảm thải nhiệt qua đối lưu bay hơi nước và toát mồ hôi.

Để đánh giá tổng hợp các yếu tố nguy cơ từ môi trường tạo stress nhiệt, hiện nay chỉ số Yaglow (hay chỉ số WBGT: Wet Bulb Globe Temperature) thường được áp dụng.

2.1.2. Các yếu tố nguy cơ không từ môi trường

- Mất nước: Mất nước làm giảm khả năng hoạt động thể lực gắng sức, tăng nguy cơ sớm bị kiệt sức và tăng tích nhiệt.

- Hàng rào vật lý ngăn cản thải nhiệt: Quần áo, trang thiết bị (đồ nhựa, cao su) ngăn cản hoặc không cho bay hơi, lưu thông khí hoặc bức xạ.

- Người có tiền sử bệnh mạn tính: Bệnh tim mạch, xơ vữa mạch máu, xơ cứng bì, hồng cầu hình liềm; hoặc đang có bệnh cấp tính như mới bị sốt, mất nước; thể lực kém... cũng làm giảm khả năng thích nghi với khí hậu và nhiệt độ nóng.

- Tăng hoặc giảm chỉ số BMI: Người béo phì giảm tỏa nhiệt do lớp mỡ dầy và sinh nhiều nhiệt hơn do chuyển hóa kém hiệu quả. Người quá gầy thường tăng chuyển hoá sinh nhiệt nhưng giảm khả năng thoát nhiệt do giảm tỷ số khối/diện tích bề mặt.

- Thiếu thích nghi với nóng: Người chưa có hoặc mới thích nghi tối thiểu với nóng; hoặc tích cực hoạt động thể lực gắng sức nhưng chủ quan có thể dẫn đến tổn thương do nóng.

- Một số thuốc: Sử dụng thuốc an thần và kháng cholinergic có thể tăng nguy cơ bị say nóng do thuốc chặn dopamin, giảm tác dụng của vùng dưới đồi đối với tăng lưu thông máu dưới da. Amphetamine, các agonist của tuyến giáp, các thuốc α -adrenergic, ephedrin, synephrin và các hợp chất giao cảm khác có thể gây tăng sinh nhiệt. Thuốc chống cao huyết áp, thuốc lợi tiểu ức chế đáp ứng bảo vệ của tim đối với mất nước và say nóng.

2.2. Say nắng

- Các yếu tố nguy cơ của say nắng cơ bản tương tự say nóng. Tuy nhiên, do tác động trực tiếp của bức xạ mặt trời lên cơ thể, sự kết hợp tác động đồng thời của tia hồng ngoại và tia tử ngoại, nên giữa say nóng và say nắng có một số khác biệt.

  1. 3. CHẨN ĐOÁN

3.1. Say nóng

1.3.1. Say nóng mức độ nhẹ

- Ngất do nóng xảy ra do hạ huyết áp tư thế đứng và suy giảm lượng máu lưu hành, giãn mạch ngoại vi và phồng giãn tĩnh mạch. Gắng sức và đứng lâu trong môi trường nóng kèm thay đổi tư thế nhanh có thể dẫn đến ngất.

- Chuột rút do nóng biểu hiện co cơ đột ngột, đau đớn trong hoặc sau buổi tập luyện, lao động gắng sức trong điều kiện nóng. Thường thấy chuột rút cơ vùng bắp chân, cơ tứ đầu và cơ bụng và thường liên quan đến sự mất nước, mất cân bằng điện giải và giảm dẫn truyền thần kinh cơ.

Các biểu hiện trên là chỉ điểm sớm của say nóng, chúng có thể xuất hiện độc lập hoặc cùng với triệu chứng khác của kiệt sức do nóng. 

1.3.2. Say nóng mức độ trung bình (kiệt sức do nóng)

Kiệt sức do nóng là mất khả năng tiếp tục hoạt động luyện tập, lao động gắng sức do mệt vì nóng. Kèm theo vã mồ hôi, buồn nôn, nôn, đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, co thắt ruột, mệt mỏi, thân nhiệt tăng cao khoảng 37,7°C đến 40°C.

Các biểu hiện trên có thể xảy ra rầm rộ nhưng trạng thái tâm thần của nạn nhân vẫn bình thường, thần kinh ổn định (đây là điểm khác chủ yếu với đột qụy do nóng). Song, kiệt sức do nóng không được điều trị đúng cách, kịp thời có thể nhanh chóng chuyển thành đột qụy do nóng.

1.3.3. Say nóng mức độ nặng (đột qụy do nóng)

- Đột qụy do nóng là trạng thái toàn thân nguy hiểm, nguy cơ tử vong cao, do hệ thống điều hòa thân nhiệt bị quá tải và không còn tự bù trừ. Có thể phân chia thành 2 loại:

+ Đột qụy do nóng vì gắng sức: Xảy ra trong quá trình gắng sức về thể lực; thân nhiệt tăng chủ yếu do mất khả năng thải nhiệt lượng do chuyển hóa nội sinh tạo ra. Khi tập luyện, làm việc quá gắng sức trong điều kiện nóng ẩm có nguy cơ cao bị đột qụy do nóng.

+ Đột qụy do nóng cổ điển: Xảy ra khi tiếp xúc thụ động với môi trường nóng trên cơ sở cơ thể bị suy giảm cân bằng nội môi. Trẻ em, người già, người mắc bệnh mạn tính nặng, nằm liệt giường... dễ bị đột qụy do nóng cổ điển và dễ tử vong trong các đợt thời tiết nóng bức.

- Triệu chứng đột qụy do nóng:

+ Khởi đầu là những rối loạn thần kinh trung ương đa dạng, không đặc hiệu (nhầm lẫn, dễ cáu gắt, thẫn thờ, ngủ gật, rối loạn định vị; chóng mặt, hoa mắt; nhức đầu buồn nôn; co giật, mê sảng).

+ Tiếp theo là mệt mỏi, đuối sức; chuột rút; miệng khô, khát nước; da nóng và khô hoặc đầm đìa mồ hôi, lạnh và tái; nhiệt độ cơ thể tăng cao (thường > 390C); suy đa phủ tạng, đông máu rải rác lòng mạch và có thể trụy tim mạch.

+ Suy đa phủ tạng thể hiện: Tổn thương não, cơ tim, tế bào gan, tụy; đái huyết sắc tố kịch phát, suy thận cấp; suy hô hấp cấp; nhồi máu ruột, xuất huyết, đông máu rải rác nội mạch, giảm tiểu cầu.

- Cơ chế bệnh sinh đột qụy do nóng:

+ Theo kinh điển, khi thân nhiệt tăng quá mức dẫn tới nhiệt độ của các mô nội tạng tăng quá mức làm tổn thương màng tế bào, gây độc tế bào và rối loạn chức năng các cơ quan, kết hợp với sốc giảm thể tích (do mất nước) và rối loạn điện giải, làm ảnh hưởng điều hòa nhiệt, giảm lượng máu đến các cơ quan quan trọng, dẫn đến suy chức năng các cơ quan.

+ Theo các nghiên cứu gần đây: Sự kích hoạt của nhiệt độ cao, mối tương tác phức tạp giữa các thay đổi sinh lý cấp tính với trạng thái tăng thân nhiệt (rối loạn tuần hoàn, thiếu oxy và tăng nhu cầu trao đổi chất), sự gây độc trực tiếp tế bào, các đáp ứng viêm và tình trạng rối loạn đông máu… làm thay đổi lưu thông vi tuần hoàn, gây tổn thương nội mô mạch máu và các mô, dẫn đến hội chứng suy đa phủ tạng. Trong say nóng, biểu mô ruột bị tổn thương do gắng sức và stress nóng, nội độc tố (endotoxins) hay các lipopolysaccharides (LPS) tràn vào máu gây nhiễm độc. Lao động gắng sức cường độ cao cũng làm tổn thương hệ võng nội mô chống LPS ở gan nên làm giảm khả năng loại bỏ LPS, sự dung nạp sức nóng bị giảm.

3.2. Say nắng

- Các triệu chứng của say nắng cơ bản tương tự say nóng. Tuy nhiên, do tác động trực tiếp của bức xạ mặt trời lên cơ thể, sự kết hợp tác động đồng thời của tia hồng ngoại và tia tử ngoại, nên giữa say nóng và say nắng có một số khác biệt.

- Ở say nóng, các triệu chứng thường có diễn biến từ từ và mức độ thường trung bình và nhẹ. Nhiệt độ cơ thể tăng dần đần và thường không vượt quá 400C, dễ nhận thấy các yếu tố tạo nên stress nhiệt (như thường xảy ra ở thời điểm buổi chiều, thời tiết oi bức hoặc ở những nơi có môi trường đóng kín, không thông thoáng gió, khó thoát nhiệt  như trong hầm lò, trong khoang tàu xe chật chội…).

Say nắng thường xảy ra đột ngột, không có dấu hiệu báo trước hoặc có kín đáo ở người đang hoạt động làm việc gắng sức dưới trời nắng gay gắt (buổi trưa). Các triệu chứng thường diễn biến nhanh, mức độ nặng với các dấu hiệu khởi phát là: Bứt rứt, nhức đầu; vã mồ hôi hoặc mặt đỏ gay, da nóng, khô và đỏ; lừ đừ, khó thở, buồn nôn, nôn, có khi đau bụng. Nếu không được cấp cứu điều trị kịp thời, đúng phương pháp sẽ nhanh chóng dẫn đến tình trạng thân nhiệt tăng lên cao (> 410C). Nạn nhân thường hoa mắt, chóng mặt, sắc mặt tái nhợt, mạch nhanh; nặng hơn sẽ nhanh chóng bị mê sảng, co giật, hôn mê, trụy tim mạch và tử vong do hệ thống cơ quan cơ thể bị tổn thương.

  1. 4. CẤP CỨU VÀ ĐIỀU TRỊ

4.1. Say nóng

- Tổn thương cơ thể và tử vong do nóng phụ thuộc vào khoảng thời gian và mức tăng nhiệt độ trung tâm cơ thể.

- Chẩn đoán sớm và điều trị đúng mới có thể cứu sống nạn nhân và cơ bản nhất là cần phải hạ thân nhiệt về bình thường càng nhanh, càng sớm càng tốt.

1.4.1. Điều trị chuột rút do nóng

- Cho nạn nhân ngừng hoạt động gắng sức, duỗi cơ từ từ nhẹ nhàng và xoa bóp cơ; đặt chi bị chuột rút ở tư thế thích hợp để tăng máu đến cơ bị chuột rút.

- Bổ sung lượng muối bị mất qua mồ hôi bằng uống nước có pha muối ăn. Trường hợp nặng hoặc chuột rút bị tái phát liên tục thì truyền dung dịch NaCl 0,9% hoặc Ringerlactat.

1.4.2. Điều trị ngất do nóng

- Đưa ngay nạn nhân vào vị trí thoáng mát để nghỉ ngơi; đặt tư thế nằm ngửa, chân và gối hơi cao để dồn máu về não; thực hiện các biện pháp kích thích thức tỉnh (bấm hoặc châm huyệt nhân Trung, kích thích đau…), lau nước mát, bổ sung nước và muối qua đường uống (hoặc truyền khi cần thiết)…

- Xác định và loại trừ hoàn toàn những nguyên nhân khác gây ra ngất.

1.4.3. Điều trị kiệt sức do nóng và đột quỵ do nóng

- Các biện pháp cấp cứu thông thường:

+ Đưa nạn nhân đến một vị trí thoáng và mát.

+ Duy trì ổn định huyết động, khơi thông đường thở, hô hấp nhân tạo và bóp tim ngoài lồng ngực, cấp cứu hồi sinh tổng hợp với khả năng cao nhất hiện có.

+ Đo thân nhiệt tại miệng hoặc trực tràng. Áp dụng ngay lập tức và tích cực các biện pháp làm mát để hạ nhiệt độ cơ thể.

+ Theo dõi ý thức, tình trạng mất nước, điện giải... của nạn nhân, nếu tiến triển không tốt hoặc tiên lượng xấu cần nhanh chóng khẩn trương đưa tới khoa cấp cứu của bệnh viện gần nhất.

- Hạ thấp nhiệt độ của cơ thể: Làm mát tích cực để hạ nhiệt độ cơ thể nhanh xuống dưới 380C (1010F) trong vòng 30 phút bằng cách:

+ Chườm nước đá và xịt nước: Xịt nhiều nước trực tiếp lên vùng da hở, đặt túi nước đá vào nách, háng và cổ; quạt gió để tăng khả năng bay hơi nước. Làm mát bằng nước máy và túi nước đá phải coi là biện pháp quan trọng và xuyên suốt, tiến hành nhanh, ngay tại chỗ, trước và trong khi chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế.

+ Ngâm cơ thể trong nước: Ngâm cơ thể nạn nhân vào nước mát (khoảng 200C) sẽ giúp làm giảm 0,15-0,240C/phút. Biện pháp này có thể áp dụng ở người trẻ; cân nhắc ở người cao tuổi và người mắc bệnh mạn tính. Cần chú ý cho thuốc an thần, chống co giật và giữ vệ sinh.

+ Làm mát bằng bay hơi nước: Phun xịt nước liên tục lên da kết hợp với quạt gió để tăng bay hơi nước (có thể làm giảm nhiệt đạt 0,140C/phút). Có thể sử dụng các thiết bị chuyên dùng (lều cấp cứu say nóng, say nắng) để làm mát.

+ Bơm rửa ổ bụng hoặc rửa dạ dày bằng nước đá (chỉ làm tại bệnh viện).

+ Không nên sử dụng các thuốc: thuốc hạ sốt chống viêm: Paracetamol, nonsteroid và corticosteroid vì hiệu quả rất ít, trong khi đó aspirin và paracetamol có thể làm tăng thêm tổn thương gan do nhiệt. Kháng sinh chỉ dùng khi có nhiễm trùng hoặc nghi có viêm não.

- Bù nước và duy trì huyết động: Cần thực hiện ngay bù đủ dịch để khôi phục huyết áp và tưới máu cho mô: Truyền các dung dịch Ringers lactat, Natriclorua 0,9%, Glucose 5-10%, dung dich NaHCO3 1,4% kèm thuốc trợ tim mạch; lượng dịch truyền đảm bảo đến khi nhịp tim về bình thường, huyết áp ổn định và có nước tiểu. Khi đã bù đủ dịch, làm mát đầy đủ nhưng nếu huyết áp vẫn thấp thì có thể truyền tĩnh mạch trung tâm. Cần theo dõi điện giải đồ và cân bằng kiềm toan, đề phòng bù dịch quá nhiều gây quá tải hệ tuần hoàn và dẫn đến phù phổi cấp.

- Điều trị biến chứng của đột qụy do nóng:

+ Co giật: Sử dụng Seduxen (Diazepam) 5-10mg hoặc Chlorpromazine (50mg) tiêm tĩnh mạch có tác dụng nhanh chống co giật. 

+ Tụt huyết áp: Có thể sử dụng các thuốc co mạch khi đã bù đủ dịch (truyền nhỏ giọt Dopamine, Isuprel hoặc Noradrenalin), các dung dịch cao phân tử. Cần thận trọng khi sử dụng thuốc co mạch vì có thể làm tăng chuyển hoá tạo ra nhiệt. Theo dõi huyết áp qua đo áp lực tĩnh mạch trung tâm.

+ Phân giải cơ: Là biến chứng nghiêm trọng của đột qụy do nóng khi gắng sức. Cần theo dõi lượng nước tiểu, bù dịch đường tĩnh mạch và dùng thuốc lợi tiểu (mannitol với liều 0,25g/kg thể trọng hoặc furocemide) và các thuốc làm kiềm hoá dự phòng tổn thương thận, đảm bảo lượng nước tiểu trên 50ml/giờ; nếu nặng thì tiến hành lọc máu.

+ Đông máu rải rác trong lòng mạch: Là dấu hiệu tiên lượng xấu, cần khám chuyên khoa huyết học. Điều trị bằng các chế phẩm máu, bằng Heparine (5-7 đơn vị/ kg/ giờ tùy theo kết quả xét nghiệm đông máu, nhất là giá trị APTT  và số lượng tiểu cầu), cần theo dõi chặt chẽ và thường xuyên xét nghiệm đông máu.

+ Tổn thương gan: Có thể dẫn đến rối loạn đông máu và viêm gan. Cần phát hiện, xử lý giảm đường huyết; dùng thuốc tăng cường chức năng và bảo vệ gan (2-4 ống Philpovin 5g/ngày, Arginine…); bổ sung vitamin C 1-2g/ngày.

+ Rối loạn nhịp tim: Tụt huyết áp và hoại tử tế bào có thể dẫn đến huỷ hoại cơ tim và rối loạn nhịp tim. Hạ nhiệt cơ thể nhanh sẽ giúp kiểm soát tốt các dạng rối loạn nhịp tim. Nên sử dụng monitoring theo dõi chức năng tim mạch liên tục.

4.2. Say nắng

- Các biện pháp cấp cứu điều trị say nắng cũng tương tự như say nóng.

- Tuy nhiên, trong say nắng bệnh cảnh xảy ra đột ngột, nặng nay từ đầu, thân nhiệt tăng rất cao đe dọa tử vong sớm, do vậy cấp cứu điều trị say nắng tại các tuyến cần thực hiện khẩn trương, tích cực, nhất là biện pháp làm mát nhằm hạ nhiệt độ cơ thể càng sớm càng tốt.

- Sớm chuyển những nạn nhân bị kiệt sức và đột qụy do nắng nóng về cơ sở y tế có đủ phương tiện và năng lực cấp cứu hồi sức tổng hợp.

  1. 5. TIÊN LƯỢNG VÀ HỒI PHỤC CHỨC NĂNG

1.5.1. Tiên lượng

Tiền sử bị rối loạn đông máu, tuổi cao; huyết áp thấp, nhiệt độ lõi cơ thể trên 410C, khoảng thời gian bị tăng thân nhiệt dài, hôn mê kéo dài, tăng kali máu và suy thận; tăng AST, LDH, CK trong 24h đầu là những yếu tố tiên lượng xấu.

1.5.2. Hồi phục chức năng

- Sau đột quỵ do nóng, có thể bị rối loạn điều hòa nhiệt, suy chức năng TKTƯ, gan, suy thận.

- Cần  theo dõi các xét nghiệm công thức máu, hoá sinh máu, chức năng gan, sinh hoá nước tiểu; theo dõi trọng lượng cơ thể cho đến khi về bình thường.

- Quá trình phục hồi chức năng của nạn nhân thường chậm. Được coi là hồi phục tốt khi hết triệu chứng, các xét nghiệm và cân nặng trở về bình thường.

- Có thể trở lại hoạt động thể lực trong 24 giờ đối với tổn thương mức độ nhẹ.

- Người bị đột qụy do nóng cần được theo dõi lâu dài, từ từ trở lại hoạt động thể lực và làm quen dần với nóng.

 

  1. 6. DỰ PHÒNG

6.1. Say nóng

- Sàng lọc: Cho đến nay chưa có xét nghiệm sàng lọc hiệu quả. Những người đang có bệnh cấp hoặc mới phục hồi sau mắc bệnh cần theo dõi sát và làm quen dần để thích nghi với nóng.

- Tập huấn: Phổ biến kỹ về dự phòng, nhận biết và điều trị tổn thương do nóng và nguy cơ liên quan đến gắng sức trong điều kiện nóng ẩm. Giáo dục để từng người biết giữ cân bằng lượng nước uống vào mất đi để duy trì lượng nước trong cơ thể. Duy trì hợp lý chế độ nghỉ ngơi, ăn uống, dinh dưỡng trong các hoạt động thể lực cường độ cao.

- Rèn luyện:

+ Làm quen với nóng, chu trình luyện tập, nghỉ ngơi phù hợp. Tất cả các đối tượng phải làm việc trong môi trường nóng cần phải tiến hành làm quen với nóng, tăng dần cường độ và thời gian luyện tập từng ngày với nóng trong khoảng 10-14 ngày; thực hiện uống bù nước đúng cách trong suốt quá trình làm quen với nóng.

+ Cường độ luyện tập và điều kiện môi trường là những yếu tố quyết định xem xét thời gian hoạt động thể lực và tần suất nghỉ giữa giờ. Nên điều chỉnh kế hoạch, thời gian làm việc phù hợp tùy theo điều kiện môi trường, tránh thời gian  nóng nhất trong ngày hoặc tránh bức xạ nhiệt trực tiếp từ mặt trời.

+ Khi gắng sức trong điều kiện nóng ẩm, cần mang ít quần áo và thiết bị, nên mặc quần áo sáng màu và nhẹ.

-  Bù nước, điện giải:

+ Bù đủ nước trước, trong và sau khi luyện tập, làm việc trong môi trường nóng. Nước uống có một ít muối và/hoặc có một ít thực phẩm bổ dưỡng vừa chống khát, bù nước vừa cân bằng nước, điện giải của cơ thể.

+ Trước khi hoạt động đặc biệt khi cường độ cao cần uống đủ nước để duy trì có nước tiểu trong; tốt nhất là bù nước từ đêm hôm trước và vào ngay những giờ trước hoạt động. Có thể dựa vào cảm giác khát để uống bù nước.

+ Trong quá trình lao động gắng sức, cần xác định tình trạng giảm cân trước và sau vận động để bù nước.

+ Sau quá trình lao động, để phục hồi hoàn toàn và nhanh chóng cần uống đủ từ 1 đến 1,5 lít nước cho một kg thể trọng bị sụt giảm sau hoạt động gắng sức.

- Chuẩn bị tốt bảo đảm y tế: Có kế hoạch chi tiết công tác bảo đảm quân y cho các hoạt động lao động, tập luyện trong môi trường nóng, bao gồm theo dõi sức khỏe, cấp cứu tại chỗ, vận chuyển về tuyến sau.

6.2. Say nắng

- Áp dụng các biện pháp dự phòng say nắng cũng tương tự như dự phòng say nóng, trong đó chú ý hạn chế bố trí hoạt động làm việc gắng sức trực tiếp dưới ánh nắng gay gắt buổi trưa, nhất là những ngày có thời tiết oi bức, lưu thông gió kém và độ ẩm cao. Nếu phải hoạt động, làm việc dưới trời nắng, cần chú ý có mũ, áo, khăn… để che chắn bức xạ mặt trời chiếu trực tiếp vào đầu, gáy; mặc quần áo màu sáng, thoáng và dễ thấm mồ hôi để hạn chế cơ thể hấp phụ bức xạ mặt trời.

  

Tài liệu tham khảo:

  1. 1. Nội khoa dã chiến, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân (2014).
  2. 2. Nội khoa dã chiến, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân,Sách chuyên khảo (2019).
  3. 3. “Hỏi đáp về say nắng- say nóng”, Cục Quân y, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân (2023).
  4. 4. “Phòng chống tác động do nắng- nóng đến sức khỏe”, Cục Quân y, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân (2023).
  5. 5. Epstein. Y, Yanovich. R. Heatstroke. The New England Journal of Medicine (2019).

 

 

Dịch vụ thiết kế website wordpress