Theo dõi mạch

T4, 25/08/2021

Mục tiêu:

- Nêu được tần số mạch bình thường và các yếu tố ảnh hưởng đến tần số mạch.

- Trình bày được các vị trí thường dùng để bắt mạch.

- Trình bày được các bước trong quy trình theo dõi mạch.

 

1. ĐẠI CƯƠNG

Cấu tạo của thành động mạch:

- Thành động mạch được tạo thành bởi ba lớp:

+ Lớp trong cùng là lớp nội mạc.

+ Lớp giữa gồm những thớ đàn hồi và thớ cơ trơn.

+ Lớp ngoài là lớp mô liên kết.

- Các mạch máu có tính đàn hồi nên co giãn dễ dàng.

- Động mạch lớn có độ đàn hồi lớn hơn động mạch nhỏ.

Nhờ tính đàn hồi của động mạch, tim tống máu ra từng đợt theo mỗi chu kỳ co bóp, dần dần tạo thành dòng máu chảy liên tục và đều đặn.

- Tại những vị trí có động mạch nằm trên xương và dưới lớp da, khi để ngón tay lên chỗ đó đồng thời ấn nhẹ vào động mạch sẽ thấy mạch đập.      

- Mạch đập không phải là do máu chảy tới nơi bắt mạch mà là do sóng rung động phát sinh ở động mạch chủ, khi tim ở thì tâm thu.    

- Sóng rung động càng lan xa thì càng yếu dần và đến đầu hệ mao mạch thì không còn, do đó không thấy mạch đập ở trên tĩnh mạch.

2. TẦN SỐ MẠCH

Thông thường, tần số mạch tương đương với tần số co bóp của tim. Tần số mạch có thể khác nhau giữa người này với người khác và ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố.

2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến tần số mạch

Tần số mạch buổi chiều nhanh hơn tần số mạch buổi sáng.

Trạng thái tâm lý, cảm  xúc và hoạt động của cơ thể có ảnh hưởng đến tần số mạch. Khi xúc động mạch thường tăng lên.

Tuổi: tần số mạch giảm dần từ khi sinh đến lúc tuổi già.

Bảng 1. Tần số mạch bình thường theo lứa tuổi.

Lứa tuổi Tần số mạch trong 1 phút
Trẻ sơ sinh 130 - 140 (120 - 140)
Trẻ 1 tuổi 100 - 130 (120)
Trẻ 5 - 6 tuổi 90 - 100
Trẻ 10 - 15 tuổi 80 - 90
Người lớn 70 - 80
Người già 60 - 70

 

- Giới tính: nữ giới mạch nhanh hơn nam giới (7 - 8 nhịp/phút).

- Vận động, luyện tập: tần số mạch tăng lên vì tim phải co bóp nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu năng lượng tiêu hao.

- Ăn uống: sau khi ăn uống, tần số mạch tăng do quá trình chuyển hóa tăng.

- Thuốc: kích thích làm tăng tần số mạch, thuốc an thần làm giảm tần số mạch.

2.2. Những vị trí thường dùng để bắt mạch

Mạch bắt được ở bất kỳ vị trí nào mà động mạch ngoại biên nằm ngay sát dưới da, đi trên một tổ chức có cấu trúc chắc. Mạch sờ thấy rõ ở các vị trí sau:

- Động mạch thái dương: thường được áp dụng để lấy mạch ở trẻ em khi không bắt được mạch quay.

- Động mạch cổ: khi lấy mạch ở vị trí này dễ gây kích thích xoang cảnh, dẫn đến làm chậm tần số mạch, nhất là ở những người già có bệnh lý hệ tim mạch. Vì vậy, để tránh tình trạng trên, nên bắt mạch ở một bên cổ, chỉ cần ấn nhẹ, chỉ bắt khi thật cần thiết.

- Mỏm tim: mạch mỏm tim được lấy ở đúng vị trí mỏm tim, là tần số co bóp thực tế của tim.

- Động mạch cánh tay: sử dụng trong kỹ thuật đo huyết áp động mạch.

- Động mạch quay: sử dụng nhiều nhất để theo dõi mạch.

- Động mạch đùi: vị trí bắt mạch ở trên đường giữa của đường nối gai chậu trước trên và xương mu trong vùng bẹn. Sử dụng khi không bắt được mạch quay để đánh giá tuần hoàn chi dưới.

- Động mạch khoeo: khi bắt mạch ở vị trí này, chân người bệnh ở tư thế duỗi.

- Động mạch chày sau: bắt mạch ở ngay sau mắt cá trong.

- Động mạch mu chân: vị trí bắt ở giữa đường nối mắt cá trong và mắt cá ngoài với đường giữa ngón chân cái và ngón chân thứ hai.

Mỗi vị trí bắt mạch được sử dụng với các lý do khác nhau.

Mạch quay được sử dụng nhiều nhất vì dễ xác định, ở hầu hết người bệnh.

2.3. Nguyên tắc chung khi lấy mạch

- Trước khi lấy mạch, người bệnh nằm nghỉ yên tĩnh 15 phút. Trong khi lấy mạch, không tiến hành thủ thuật trên cơ thể người bệnh.

- Mỗi ngày tối thiểu lấy mạch hai lần: sáng và chiều cách nhau 8 giờ, lấy cùng một lúc với đo nhiệt độ. Sáng vào lúc 6 giờ, chiều vào lúc 14 giờ. Trường hợp đặc biệt lấy mạch theo chỉ định của bác sĩ.

- Đường biểu diễn mạch:

+ Dùng bút màu đỏ để biểu diễn mạch, kẻ bằng thước ngay thẳng, chính xác vào bảng mạch - nhiệt độ, ở giao điểm của mỗi đường kẻ phải ghi đậm cho dễ nhìn, dễ đọc.

+ Trường hợp đặc biệt phải ghi rõ giờ cụ thể.

- Không để người bệnh tự lấy mạch và báo kết quả.

- Nếu thấy mạch bất thường: mạch nhanh nhỏ yếu, chậm, cách quãng phải báo cáo ngay cho bác sĩ.

3. QUY TRÌNH KỸ THUẬT THEO DÕI MẠCH QUAY

3.1. Chuẩn bị dụng cụ

- Đồng hồ bấm giây hoặc đồng hồ có kim giây, đồng hồ cát.

- Bút màu đỏ.

- Thước kẻ.

- Bảng theo dõi dấu hiệu sống hoặc sổ: ghi rõ họ tên người bệnh, số giường, số buồng, chẩn đoán bệnh.

3.2. Chuẩn bị người bệnh

- Giải thích cho người bệnh về việc sắp làm.

- Đặt người bệnh ở tư thế nghỉ ngơi thoải mái có thể ngồi hoặc nằm.

+ Người bệnh nằm, tay duỗi dọc theo thân, lòng bàn tay úp xuống hoặc đặt cẳng tay lên ngực, lòng bàn tay úp xuống.

+ Người bệnh ngồi, cẳng tay đặt lên đùi, lòng bàn tay úp xuống hoặc quay vào trong.

3.3. Thực hành kỹ thuật

- Đặt 3 đầu ngón tay: ngón trỏ, ngón giữa và ngón nhẫn lên trên động mạch quay, ở gần nếp gấp cổ tay.

- Không dùng ngón cái vì ngón cái cũng có mạch đập, dễ lẫn mạch của người đếm với mạch của người bệnh.

- Không ấn mạnh quá vì sẽ làm mất mạch.

- Đếm mạch: khi thấy mạch đập, nhìn kim giây và đếm nhịp đập trong 30 giây rồi nhân với 2 để có tần số mạch trong 1 phút nếu tần số mạch đều.

- Nếu thấy mạch không đều, phải đếm trọn cả phút. Khi đếm mạch phải nhận định được tần số, nhịp điệu, cường độ, sức căng của mạch.

3.4. Ghi chép và báo cáo kết quả

Ghi kết quả vào bảng theo dõi.

Khi thấy tần số mạch bất thường hoặc đã trở lại bình thường phải báo cáo ngay cho điều dưỡng trưởng và bác sĩ điều trị biết.

4. THEO DÕI TÍNH CHẤT CỦA MẠCH

4.1. Tần số mạch

Tần số mạch bình thường ở người lớn là 70 - 80 chu kỳ/phút.

Tần số mạch bất thường:

- Mạch nhanh: tần số mạch trên 90 chu kỳ/phút gặp trong các bệnh nhiễm khuẩn, bệnh tim, bệnh Basedow, dùng atropin sulfat...

- Mạch chậm: tần số mạch dưới 60 chu kỳ/phút, gặp trong bệnh tim, ngộ độc digitalin, vàng da ứ mật...

4.2. Nhịp điệu mạch

Nhịp điệu của mạch là khoảng cách giữa các lần đập.

- Nhịp điệu bình thường là khoảng cách giữa các lần đập bằng nhau, sức đập đều đặn, nhịp đều.

- Nhịp điệu không đều là có khác nhau về sức đập và khoảng cách giữa các lần đập.

- Nhịp điệu không đều có thể gặp trong các trường hợp tăng xúc cảm, sợ hãi nhưng cũng có thể xảy ra trong các trường hợp có tổn thương bệnh lý ở tim.

- Loạn nhịp ngoại tâm thu: mạch đang đập đều, xen kẽ có một lần mất mạch rồi lại đập bình thường.

- Loạn nhịp hoàn toàn: mạch đập không theo một quy tắc nào, lúc nhanh, lúc chậm, lúc mạnh, lúc yếu.

Khi bắt mạch thấy có biểu hiện loạn nhịp phải nhanh chóng báo cáo cho bác sĩ điều trị biết.

4.3. Cường độ mạch

Cường độ mạch có ý nghĩa quan trọng, biểu hiện dưới các dạng sau:

- Mạnh đều: các lần đập có sức mạnh và đều như nhau, gặp trong các bệnh Basedow, tăng huyết áp chưa có biến chứng...

- Yếu đều: các lần đập có sức đập yếu nhưng đều nhau, gặp trong bệnh xuất huyết, mất nước...

- Mạch như sợi chỉ: vừa yếu, vừa không đều, gặp trong tình trạng người bệnh hấp hối.

- Mạch nảy: mạch nảy mạnh và xẹp nhanh, gặp trong hở van động mạch chủ (mạch Corrigan).

- Cường độ lúc mạnh, lúc yếu: thường gặp khi có loạn nhịp hoàn toàn.

4.4. Sức căng của mạch

Sức căng của mạch là tính co giãn của động mạch, bình thường thành động mạch mềm, nhẵn và có sức co giãn tốt.

Trong một số trường hợp bệnh lý mạch trở nên cứng, mất tính co giãn, khi ấn vào động mạch có cảm giác như ấn vào một ống cao su cứng hoặc một sợi dây căng dưới da, phải dùng sức ấn mạnh mới làm mạch xẹp xuống được, thường gặp ở người bệnh tăng huyết áp hoặc xơ vữa động mạch.

4.5. Liên quan giữa mạch và nhiệt độ

- Ở người lớn, nhiệt độ 370C tương ứng với mạch 70 chu kỳ/phút.

- Trong sốt do nhiễm khuẩn: nhiệt độ tăng thì mạch cũng tăng lên theo. Khi nhiệt độ 390C thì mạch tương ứng là 100 - 110 chu kỳ/phút.

- Khi không có sự tăng song song giữa mạch và nhiệt độ thì gọi là phân ly giữa mạch và nhiệt độ.

Một số trường hợp hay gặp:

- Trong bệnh thương hàn, mạch tăng nhưng không tương ứng với nhiệt độ tăng cao. Ví dụ: mạch 80 chu kỳ/phút, nhiệt độ 39,50C.

- Trong xuất huyết nội tạng, mạch nhanh nhưng nhiệt độ không cao. Ví dụ: mạch 100 chu kỳ/phút, nhiệt độ 360C.

5. KỸ THUẬT ĐẾM MẠCH QUA ĐẾM NHỊP TIM TẠI MỎM TIM

Đếm nhịp tim tại vị trí mỏm tim thường sử dụng khi đếm mạch cho trẻ em dưới 3 tuổi hoặc những người bệnh có rối loạn nhịp tim.

5.1. Chuẩn bị dụng cụ

- Đồng hồ bấm giây hoặc đồng hồ có kim giây, đồng hồ cát.

- Ống nghe.

- Gạc tẩm cồn để lau đầu tai nghe và loa ống nghe.

- Bảng theo dõi dấu hiệu sống.

- Bút màu đỏ để ghi kết quả.

- Vú giả trong trường hợp thực hành kỹ thuật cho trẻ em bú.

5.2. Chuẩn bị người bệnh

Giải thích cho người bệnh hoặc người nhà nếu người bệnh là trẻ em.

5.3. Thực hành kỹ thuật

- Rửa tay thường quy.

- Mang dụng cụ đến giường bệnh.

- Kéo bình phong che giường.

- Để người bệnh nằm tư thế thoải mái: nằm ngửa, đầu cao; có thể ngồi trên giường hoặc ghế.

Trẻ em: đặt trẻ ở tư thế nằm ngửa, cho trẻ ngậm vú giả để trẻ không khóc.

- Bộc lộ vùng mỏm tim người bệnh:

+ Nếu người bệnh nằm: vén áo người bệnh lên phía đầu, kéo chăn đắp phía dưới lồng ngực.

+ Nếu người bệnh ngồi: vén áo lên vai hoặc cởi cúc áo.

- Xác định vị trí mỏm tim: vị trí mỏm tim khác nhau tùy theo lứa tuổi.

+ Người lớn: cách bờ trái xương ức không quá 8cm trên gian sườn 5 hoặc 6.

+ Trẻ dưới 4 tuổi: ở bên trái của đường giữa xương đòn trái trên gian sườn 4.

+ Trẻ em 4 - 6 tuổi: nằm ngay trên đường giữa xương đòn trái, gian sườn 5.

- Làm ấm loa nghe bằng cách giữ loa ống nghe trong tay một lát hoặc xoa vào lòng bàn tay.

- Mắc tai nghe vào tai, để tai ống nghe hướng về phía trước.

- Đặt ống nghe lên vị trí mỏm tim vừa xác định và nghe theo tiếng tim.

- Khi nghe được âm thanh “bùm - tặc” đó là một nhịp đập, âm thứ nhất “bùm” trầm, dài, do van nhĩ thất đóng lại, âm thứ hai “tặc” đanh khi van bán nguyệt đóng lại sau khi các tâm thất đẩy máu vào động mạch.

- Đếm trong 30 giây rồi nhân với 2 nếu nhịp tim đều.

- Nếu nhịp tim không đều hoặc là trẻ em thì đếm trọn cả một phút.

- Trong khi đếm nhịp tim phải luôn theo dõi đồng hồ để đảm bảo thời gian chính xác và phải theo dõi nhịp điệu, cường độ của tim.

- Cho người bệnh nằm lại tư thế thoải mái.

- Thu dọn dụng cụ.

- Ghi chép và báo cáo kết quả; ghi kết quả vào bảng theo dõi phải dùng ký hiệu thống nhất để biết đó là kết quả đếm mạch ở vị trí mỏm tim.

- Báo cáo ngay cho bác sĩ nếu thấy kết quả mạch bất thường như đã nêu ở phần đếm mạch quay.

6. KỸ THUẬT ĐẾM MẠCH QUAY VÀ NHỊP TIM TẠI MỎM TIM

Kỹ thuật đếm mạch quay và đếm nhịp tim tại mỏm tim được tiến hành đồng thời cùng một lúc, trên những người bệnh có bệnh lý về tim mạch hoặc người bệnh đang điều trị các thuốc về tim mạch để so sánh tần số mạch giữa hai vị trí.

6.1. Chuẩn bị dụng cụ

- Ống nghe.

- Đồng hồ bấm giây hoặc đồng hồ có kim giây.

6.2. Chuẩn bị người bệnh

- Giải thích cho người bệnh về việc sắp làm.

- Đặt người bệnh ở tư thế nghỉ ngơi thoải mái, có thể ngồi hoặc nằm.

+ Người bệnh nằm, tay duỗi dọc theo thân, lòng bàn tay úp xuống hoặc đặt cẳng tay lên ngực, lòng bàn tay úp xuống.

+ Người bệnh có thể ngồi, cẳng tay đặt lên đùi, lòng bàn tay úp xuống hoặc quay vào trong.

6.3. Thực hành kỹ thuật

Kỹ thuật cần hai điều dưỡng: một điều dưỡng đếm mạch tại mỏm tim, người thứ hai đếm mạch quay. Cả hai người tiến hành đếm cùng một thời gian.

7. GHI CHÉP KẾT QUẢ THEO DÕI MẠCH

- Kết quả theo dõi mạch được ghi chép vào bảng theo dõi dưới hình thức biểu đồ. Để dễ phân biệt và nhận biết kết quả thường dùng màu đỏ hoặc ký hiệu (o) khi ghi kết quả của mạch vào bảng theo dõi.

- Đảm bảo sự trung thực, chính xác khi ghi chép kết quả.

- Trường hợp đếm mạch ở vị trí mỏm tim phải dùng ký hiệu thống nhất (MT) để ghi lên phía trên của kết quả. Dùng thước kẻ nối các kết quả với nhau để tiện theo dõi diến biến của tần số mạch.

 

Câu hỏi ôn tập

  1. Thế nào là tần số mạch bình thường và các yếu tố ảnh hưởng?
  2. Kể tên các vị trí thường dùng để bắt mạch và ý nghĩa?
  3. Trình bày quy trình đếm mạch quay?
  4. Trình bày quy trình đếm nhịp tim tại mỏm tim?

 

Th.S Ngô Trung Hiếu - BM Điều dưỡng

Dịch vụ thiết kế website wordpress