Trang chủ Bài giảng chuyên ngành Chuyên ngành Ngoại khoa Tiết niệu SỰ THAY ĐỔI CHỈ SỐ IPSS SAU CẮT NỘI SOI LƯỠNG CỰC ( BIPOLAR- TURP) ĐIỀU TRỊ BỆNH TĂNG SẢN LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT

SỰ THAY ĐỔI CHỈ SỐ IPSS SAU CẮT NỘI SOI LƯỠNG CỰC ( BIPOLAR- TURP) ĐIỀU TRỊ BỆNH TĂNG SẢN LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT

T6, 09/10/2020

TÓM TẮT

Mục tiêu:

Cắt nội soi lưỡng cực (Bipolar - TURP) là một phương pháp chưa được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam. Chúng tôi tiến hành đánh giá sự thay đổi chỉ số IPSS sau cắt nội soi lưỡng cực ( Bipolar- TURP) điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt (TSLTTTL) tại Bệnh viện 103.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

Gồm các bệnh nhân bị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt được phẫu thuật cắt nội soi lưỡng cực từ 11/2012 đến 6/2013 tại Bệnh viện 103. Các bệnh nhân được kiểm tra trọng lượng u, và đánh giá IPSS trước và sau mổ 1 tháng, 3 tháng theo dõi.

Kết quả

Có 64 bệnh nhân bị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt được phẫu thuật. Tuổi từ 55- 90 ( tuổi trung bình: 70,51).  Lứa tuổi gặp nhiều nhất là 60 – 69 ( chiếm 43, 75%);  tuổi từ  60 – 79 chiếm tỷ lệ 75,0%. Thể tích tuyến tiền liệt trước mổ trung bình: 54, 30 ± 16, 44 cm3. Thể tích tuyến tiền liệt tối đa: 100cm3 và tối thiểu: 30cm3. Sự cải thiện IPSS thể hiện rõ tại thời điểm 1 tháng sau mổ.  Có 1/48 bệnh nhân có điểm IPSS trước mổ > 21 (chiếm 2,08%).  IPSS trung bình trước mổ 28,47 (Sd= 4,23), sau mổ 1 tháng là 5,10 (Sd= 4,65). IPSS sau mổ được cải thiện rất rõ rệt. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P < 0,001.

Kết luận

Sự cải thiện chỉ số IPSS diễn ra rất sớm, hiệu quả cao và đạt tối đa 3 tháng sau mổ. Trong đó sự cải thiện IPSS sau mổ 1 tháng là 82,09% và 3 tháng sau mổ là 88,83%.

SUMMARY

Objective

Bipolar- TURP ( Bipolar transurethral resection of prostate) is one of methods which has not been widely used in Vietnam. We evaluated the changes in IPSS index after Bipolar transurethral resection of prostatic treatment of benign prostatic hyperplasia at 103 Hospital.

Material and method

The patients with benign prostatic hyperplasia were operated by Bipolar- TURP from November 2012 to June 2013 at 103 Hospital. The patients were checked the weight of prostate, and evaluated preoperative and postoperative IPSS 1- month and 3- month follow- up.

Results

There are 64 patients with benign prostatic hyperplasia operated. The age is from 55 to 90 (mean age: 70,51). Ages which has been seen the most frequent is from 60 to 69 yearsold (43,75%). The 60-79- year-old group accounted for 75%. Preoperative prostatic volume average: 54,30± 16,44cm3. Maximum and minimum of prostatic volume: 100cm3 and 30cm3. The IPSS improvement is evident at 1 month follow-up. There are 1/48 patients with IPSS score> 21 (2.08%). Preoperative IPSS average was 28.47 (Sd = 4.23), postoperative IPSS average at 1month follow up was 5.10 (Sd = 4.65). Postoperative IPSS was significantly improved with P <0.001.

Conclusion

The IPSS improvement in men undergoing Bipolar- TURP could be seen very early. High efficiency and maximum IPSS improvement is at 3-month follow- up after surgery. The IPSS improvement is 82,09% at 1-month follow-up, 88,83% at 3-month follow-up.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng sản lành tính tuyến tiền liệt là bệnh có nhiều tên gọi như: Tăng sản lành tính tuyến tiền liệt, U phì đại lành tính tuyến tiền liệt, U xơ tuyến tiền liệt... Bệnh hay gặp ở nam giới cao tuổi gây nên triệu chứng ở đường tiểu dưới, ảnh hưởng chất lượng sống của người bệnh [5]. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh ở lứa tuổi 50 là 50%, tuổi 60 là 60%, 70 là 70%, và trên 80 tuổi là 100% [1]. Có nhiều phương pháp điều trị bệnh: điều trị nội khoa, điều trị bằng phương pháp ít sang chấn và điều trị ngoại khoa. Điều trị ngoại khoa bao gồm: phẫu thuật mở và các phương pháp nội soi. Trong các phương pháp nội soi, tại Việt Nam, phương pháp cắt nội soi lưỡng cực ( Bipolar - TURP)  chưa được áp dụng rộng rãi, chưa có nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị của phương pháp. Nghiên cứu này nhằm đánh giá sự thay đổi chỉ số IPSS sau cắt nội soi lưỡng cực điều trị TSLTTTL tại Bệnh viện 103.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:

Gồm các bệnh nhân bị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt được phẫu thuật cắt nội soi lưỡng cực từ 11/2012 đến 6/2013 tại Bệnh viện 103.

Các bệnh nhân không có bí đái phải đặt thông tiểu hay Catheter bàng quang trên xương mu.

- Tiêu chuẩn loại trừ:

Bệnh nhân đang đặt thông hay catheter bàng quang trên xương mu.

Kết quả giải phẫu bệnh lý sau mổ ác tính.

U tuyến tiền liệt kết hợp sỏi bàng quang.

Bệnh nhân có bệnh TSLTTTL tái phát sau cắt nội soi hoặc tiền sử mổ các bệnh lý ở bàng quang, tiền sử mổ tạo hình niệu đạo.

Bệnh nhân không đồng ý tham gia.

- Nghiên cứu tiến cứu. Các bệnh nhân được kiểm tra trọng lượng u và đánh giá IPSS trước và sau mổ 1 tháng, 3 tháng theo dõi.

III. KẾT QUẢ

Có 64 bệnh nhân bị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt được phẫu thuật.

Tuổi thấp nhất: 55. Tuổi cao nhất: 90. Tuổi  trung bình: 70,51 ± 8,25.

Lứa tuổi gặp nhiều nhất là 60 – 69 (43,75%); tuổi từ  60 – 79 chiếm tỷ lệ 75,0 %.

Thể tích TTL trước mổ trung bình: 54, 30 ± 16, 44 cm3.

Thể tích tối đa:  100cm3 và tối thiểu: 30cm3

IPSS trung bình trước mổ 28,47 (Sd=4,23), sau mổ 1 tháng là 5,10 (Sd= 4,65). Sự thể hiện IPSS trước và sau mổ được cải thiện rất rõ rệt. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P < 0,001.

Sự cải thiện IPSS thể hiện rõ ràng tại thời điểm 1 tháng sau mổ.  Có 1/48 bệnh nhân có điểm IPSS > 21 (chiếm 2,08%).

Có mối liên quan rất chặt chẽ giữa chỉ số IPSS trước mổ với chỉ số IPSS sau mổ với hệ số tương quan r =- 0,25 , P < 0,05.

IV. BÀN LUẬN

Trong thực hành lâm sàng, lứa tuổi cần được quan tâm đối với chỉ định cắt nội soi lưỡng cực, là các bệnh nhân trên 80 tuổi và các bệnh nhân dưới 60 tuổi. Tuổi cao không phải là chống chỉ định trong cắt nội soi lưỡng cực bệnh TSLTTTL.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân tuổi >= 80 tuổi được cắt nội soi lưỡng cực bệnh TSLTTTL 15,62% ( 10 bệnh nhân). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về sự cải thiện chỉ số IPSS của nhóm bệnh nhân > 80 tuổi và các bệnh nhân của nhóm còn lại (P> 0,05).

Cắt nội soi lưỡng cực là một phẫu thuật thường được chỉ định cho các bệnh nhân bệnh TSLTTTL có khối lượng <50 g. Chúng tôi chủ trương tôn trọng giới hạn 50- 60 g trong việc lựa chọn bệnh nhân để cắt nội soi lưỡng cực. Tuy vậy trong nghiên cứu vẫn có 21 bệnh nhân (35%) có khối lượng TTL> 60 g. Bảng 5 chỉ ra rằng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ cải thiện chỉ số IPSS trong nhóm bệnh nhân có khối lượng TTL <=50g và trong nhóm bệnh nhân có khối lượng TTL > 50g , với P > 0,056.

Bảng 3 cho thấy sự cải thiện chỉ số IPSS sau mổ là rất rõ và rất sớm. Chỉ số IPSS trung bình trước mổ là 28,47 điểm ( Sd = 4,23). IPSS trung bình sau mổ 1 tháng là 5,10 điểm ( Sd= 4, 65) và sau mổ 3 tháng là 3,18 ( Sd= 1,46). Sự khác biệt này với P < 0,001. Bảng 4 cho thấy không có bệnh nhân nào trước mổ có chỉ số IPSS <10. Điều này chứng tỏ mức độ phiền nhiễu gây ra cho người bệnh là rất đáng kể. Sau mổ 1 tháng có 1 bệnh nhân có chỉ số IPSS > 20 điểm ( 2,08%) và vẫn còn 2 bệnh nhân ( 4,17%) có chỉ số IPSS từ 10- 20 điểm. Đặc biệt nổi bật trong thời gian này là bệnh nhân hết đái khó nhưng  thường là đi tiểu nhiều lần trong ngày. Đây là các rối loạn không thể tránh khỏi sau phẫu thuật do sự tổn thương mất niêm mạc của niệu đạo tiền liệt tuyến trong khi mổ. Nhưng các phương pháp ít sang chấn như là HIFU hay TUNA không  gây tổn thương niêm mạc niệu đạo, vì vậy ít gây các triệu chứng kích thích sau mổ [7]. Bệnh TSLTTTL có hai hội chứng là hội chứng kích thích và hội chứng tắc nghẽn. Việc điều trị ngoại khoa rất có hiệu quả cho việc giải phóng tắc nghẽn, cho nên đái khó đã được cải thiện rõ rệt. Sự cải thiện các triệu chứng kích thích chỉ là một phần, nó còn phụ thuộc vào tình trạng bàng quang trước mổ, sức khỏe của bệnh nhân, sự thông thoáng của đường tiểu dưới. Trong nghiên cứu này, sau 3 tháng, không còn bệnh nhân nào có chỉ số IPSS >  10 điểm, điểm IPSS trung bình là 3,18 ( Sd= 1,47), với P< 0,001 có ý nghĩa thống kê.  Có mối liên quan rất chặt chẽ giữa chỉ số IPSS trước mổ tới sự cải thiện IPSS sau mổ với hệ số tương quan r=-0,25, P< 0,015. Sự cải thiện chỉ số IPSS sau mổ tăng lên rõ rệt, phù hợp với kết quả của các tác giả đã tiến hành [8], [3], [4], [6]. Theo Fumadó L, Pino L và CS nghiên cứu trên 120 trường hợp đã được áp dụng nội soi lưỡng cực,  IPSS trung bình trước mổ của các bệnh nhân là 23,2 (8-34); IPSS trung bình sau mổ 3 tháng là 9,1; %IPSS cải thiện là 73,5% [2] .

V. KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu đánh giá sự thay đổi chỉ số IPSS sau cắt nội soi lưỡng cực ( Bipolar- TURP) điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt (TSLTTTL) tại Bệnh viện 103, trong thời gian từ 11/2012 đến 7/2013, chúng tôi rút ra kết luận như sau: Sự cải thiện chỉ số IPSS diễn ra rất sớm, hiệu quả cao và đạt tối đa sau 3 tháng sau mổ. Trong đó sự cải thiện IPSS ngay sau mổ là 82,09% và tại thời điểm 3 tháng sau mổ là 88,83%.

PGS. TS Trần Văn Hinh, Phomavihane- Thongmany,

Nguyễn Minh Tâm

Dịch vụ thiết kế website wordpress