- 1. Khái niệm
Rối loạn trầm cảm được đặc trưng bởi các một hay nhiều giai đoạn trầm cảm, bệnh nhân không bao giờ được phép có các giai đoạn hưng cảm, giai đoạn hỗn hợp hoặc giai đoạn hưng cảm nhẹ trong quá trình phát triển của bệnh. Trong giai đoạn trầm cảm, bệnh nhân phải có ít nhất 5 triệu chứng chủ yếu và hay gặp, trong đó có ít nhất 1 trong 2 triệu chứng chủ yếu là khí sắc giảm và mất hầu hết các hứng thú/sở thích. Các giai đoạn trầm cảm phải kéo dài ít nhất 2 tuần. Bệnh nhân không được có tiền sử lạm dụng chất (rượu, ma túy, thuốc) và chấn thương sọ não.
- 2. Dịch tễ học
- Tỷ lệ: trầm cảm trong suốt cuộc đời chiếm 15% ở nam và 25% ở nữ. Tại một thời điểm bất kỳ, tỷ lệ trầm cảm chiếm 6% dân số.
Trầm cảm chiếm tỷ lệ cao nhất ở tuổi 45-65 (cả nam và nữ), chiếm 25% ở nam và 50% ở nữ. Số người trầm cảm sau 65 tuổi chủ yếu là trầm cảm do một bệnh thực tổn và họ mới bị gần đây.
- Giới tính: Ở hầu hết các quốc gia, không phân biệt về văn hóa, đều thấy tỷ lệ trầm cảm ở nữ cao hơn ở nam từ 1,5 đến 3 lần. .
- Các yếu tố môi trường: trầm cảm không có sự khác biệt về nghề nghiệp, trình độ văn hóa, tôn giáo, chủng tộc, nơi cư trú...
- Tuổi: trầm cảm có thể gặp ở mọi lứa tuổi từ thiếu niên đến người già. Trầm cảm rất hiếm gặp ở tuổi dưới 13. Nhưng đến tuổi 15 thì trầm cảm không quá hiếm. Ở tuổi 20, trầm cảm gặp ở 3% nam và 9% nữ. Ngày nay, tuổi thọ của người dân được nâng lên, vì vậy tỷ lệ trầm cảm ở nhóm người cao tuổi cũng tăng theo.
- 3. Bệnh sinh
Bệnh sinh của trầm cảm tập trung vào các vấn đề sau:
3.1. Gen di truyền
Trầm cảm là một rối loạn tâm thần có căn nguyên là do gen di truyền nhưng không phải là một gien duy nhất mà là nhiều gien cùng chịu trách nhiệm theo một cơ chế tổ hợp gen phức tạp.
Các gien gây ra trầm cảm có vai trò làm giảm nồng độ chất dẫn truyền thần kinh serotonin ở não. Các gien này tồn tại ở những người bình thường, nhưng với số lượng ít nên không gây ra trầm cảm. Nếu một người nào đó mang số gien bệnh quá nhiều, vượt một ngưỡng nhất định thì sẽ bị trầm cảm. Những ai càng mang nhiều gien bệnh thì trầm cảm khởi phát càng sớm và càng nặng.
3.2. Vai trò của chất dẫn truyền thần kinh
Bệnh nhân trầm cảm có nồng độ serotonin ở khi si-nap tại não rất thấp (chỉ bằng 50-70% so với bình thường). Chính do nồng độ serotonin quá thấp dẫn đến giảm dẫn truyền xung động thần kinh ở não, gây ra các triệu chứng của trầm cảm như mất ngủ, mệt mỏi, chú ý kém, chán nản, bi quan...
3.3. Các bất thường về cấu trúc não
Theo Sadock B. J. (2015), não của bệnh nhân trầm cảm thường có các bất thường tại nhiều vùng khác nhau như: nhân raphe, nhân suprachiasmatic (SCN), Khu vực Ventral tegmental (VTA), Nhân accumbens (NAC), Vỏ não cingulate phía trước (ACC)... Rối loạn trong hoạt động của các vùng này có vai trò quan trọng trong phát sinh ra trầm cảm.
3.4. Tính linh hoạt thần kinh (Neuroplasticity)
Các nghiên cứu gần đây vê nguyên nhân của bệnh trầm cảm đã tập trung tính linh hoạt thần kinh trong trầm cảm. Trước, trong và sau giai đoạn trầm cảm, có sự thay đổi rõ ràng về kích thước ở một số vùng não (thùy trán, nhân đuôi…). Hiện tượng này chứng tỏ tế bào thần kinh có sự tái sinh và được gọi là Neuroplasticity.
Phá vỡ neuroplasticity là một đặc điểm cơ bản của trầm cảm, và thuốc chống trầm cảm có thể đảo ngược hiện tượng này.
3.5. Các giả thuyết tâm lý
- Giả thuyết nhận thức: Các nhà lý thuyết nhận thức hành vi cho rằng trầm cảm là hậu quả của quá trình nhận thức không thích nghi được với thế giới xung quanh. Các nhận thức thích nghi không tốt, bị lỗi, hoặc không hợp lý hình thức suy nghĩ và phán đoán méo mó.
Theo lý thuyết hành vi nhận thức, người trầm cảm suy nghĩ khác hơn so với những người không bị trầm cảm, và nó là sự khác biệt trong tư duy làm cho chúng trở nên trầm cảm.
- Giả thiết xã hội học: Xã hội học của trầm cảm bao gồm bối cảnh văn hóa trong đó mọi người sống, cũng như những yếu tố stress xã hội mà con người gặp phải như là một phần của cuộc sống. Các khía cạnh xã hội học của trầm cảm đều chịu ảnh hưởng và cũng ảnh hưởng đến các khía cạnh sinh học và tâm lý khác của cuộc sống con người.
- Giả thiết nguyên nhân môi trường: Thuật ngữ "nguyên nhân môi trường" để mô tả sự đóng góp môi trường vào trầm cảm, hiện diện trong các hình thức ô nhiễm không khí, nước và thực phẩm.
Thiên tai như cơn bão tàn phá, sóng thần, động đất, cũng như các tai họa khác do chính con người tạo ra như chiến tranh, bắt cóc, tra tấn, hãm hiếp… có thể đóng góp vào sự nhạy cảm của một người đã dễ bị tổn thương trầm cảm.
- 4. Triệu chứng
4.1. Triệu chứng chủ yếu
- Khí sắc giảm: Khí sắc giảm (khí sắc trầm cảm) là nét mặt của bệnh nhân rất đơn điệu, luôn buồn bã, các nếp nhăn giảm nhiều thậm trí mất hết nếp nhăn. Tình trạng khí sắc giảm rất bền vững do bệnh nhân buồn, bi quan, mất hy vọng.
- Mất hứng thú hoặc sở thích cho hầu hết các hoạt động: Mất hứng thú hoặc sở thích gần như luôn biểu hiện trong một mức độ nhất định. Các bệnh nhân cho rằng họ đã mất hết các sở thích vốn có (tôi không thích gì bây giờ cả). Tất cả các sở thích trước đây của bệnh nhân đều bị ảnh hưởng nặng nề.
4.2. Triệu chứng phổ biến
Ngoài 2 triệu chứng chủ yếu đã nêu trên, bệnh nhân cần biểu hiện ít nhất 4 triệu chứng trong số các triệu chứng phổ biến sau:
- Mất cảm giác ngon miệng, ăn ít hoặc sút cân: Sự ngon miệng thường bị giảm sút, nhiều bệnh nhân có cảm giác rằng họ bị ép phải ăn. Vì vậy, bệnh nhân thường sút cân nhanh chóng (có thể sút vài kg trong một tháng, cá biệt có trường hợp sút đến 10 kg).
- Mất ngủ: Mất ngủ trầm trọng, có thể mất ngủ đầu giấc (khó vào giấc ngủ), mất ngủ giữa giấc hoặc mất ngủ cuối giấc (dậy rất sớm).
- Vận động tâm thần chậm chạp: Vận động chậm chạp (ví dụ nói chậm, vận động cơ thể chậm), tăng khoảng nghỉ trước khi trả lời, giọng nói nhỏ, số lượng ít, nội dung nghèo nàn, thậm trí câm.
- Giảm sút năng lượng: Năng lượng giảm sút, kiệt sức và mệt mỏi là rất hay gặp. Một người có thể than phiền mệt mỏi mà không có một nguyên nhân cơ thể nào.
- Cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi: Bệnh nhân cho rằng mình là kẻ vô dụng, không làm nên trò trống gì. Họ luôn nghĩ mình đã làm hỏng mọi việc, trở thành gánh nặng cho gia đình, cơ quan và cho xã hội.
- Khó suy nghĩ, tập trung hoặc ra quyết định: Nhiều bệnh nhân than phiền khó suy nghĩ, khó tập trung chú ý vào một việc gì đó. Bệnh nhân cũng rất khó khăn khi cần đưa ra quyết định, họ thường phải cân nhắc rất nhiều trời gian với những việc thông thường.
Trí nhớ kém, đặc biệt là trí nhớ gần. Các trường hợp có sự suy giảm trầm trọng về trí nhớ được gọi là mất trí giả.
- Ý nghĩ muốn chết hoặc có hành vi tự sát: Hầu hết bệnh nhân trầm cảm chủ yếu đều có ý nghĩ về cái chết, nặng hơn thì họ có thể có ý định tự sát hoặc hành vi tự sát. Khoảng 15% số bệnh nhân trầm cảm sẽ chết vì tự sát.
- 5. Chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt
5.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm theo DSM-5
- A. Bệnh nhân phải có ít nhất 5 triệu chứng, các triệu chứng này phải tồn tại bền vững ít nhất 2 tuần liên tục, trong đó phải có 1 hoặc cả 2 triệu chứng sau: 1/Khí sắc giảm và 2/Mất thích thú và sở thích.
- 1. Khí sắc giảm.
- 2. Giảm sút rõ ràng các thích thú/sở thích cho hầu hết các hoạt động.
- 3. Ăn ít, ăn mất ngon, sút cân rõ ràng.
- 4. Mất ngủ hầu như hàng ngày.
- 5. Vận động tâm thần chậm hàng ngày.
- 6. Mệt mỏi hoặc mất năng lượng hầu như hàng ngày.
- 7. Cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi quá mức.
- 8. Giảm khả năng suy nghĩ, tập trung chú ý.
- 9. Ý nghĩ về cái chết, ý định tự sát hoặc hành vi tự sát.
- B. Các triệu chứng không thoả mãn cho một giai đoạn hỗn hợp.
- C. Các chức năng xã hội, nghề nghiệp hoặc trong các lĩnh vực quan trọng khác.
- D. Các triệu chứng không phải là hậu quả của một chất hoặc do một bệnh cơ thể.
- Các mức độ của trầm cảm:
+ Nhẹ: bệnh nhân chỉ có 5-6 triệu chứng.
+ Vừa: bệnh nhân có7-8 triệu chứng.
+ Nặng: bệnh nhân có tất cả các triệu chứng (9).
- Lui bệnh hoàn toàn: tất cả các triệu chứng của bệnh đã hết.
- Lui bệnh một phần: bệnh nhân vẫn còn 2-3 triệu chứng.
5.2. Chẩn đoán phân biệt
- Mất ngủ tiên phát: Bệnh nhân có mất ngủ kéo dài trên 3 tháng, nhưng không có các triệu chứng khác của trầm cảm như khí sắc giảm, mất hứng thú và sở thích, chán ăn, bi quan, chán nản hoặc ý nghĩ muốn chết.
- Lo âu lan tỏa: Bệnh nhân lo âu lan tỏa thì triệu chứng lo lắng quá mức không thể kiểm soát xuất hiện cả ngày, từ lúc thức đến lúc ngủ.
- Tâm thần phân liệt: Bệnh nhân tâm thần phân liệt có các hoang tưởng (bị hại, bị theo dõi, bị chi phối), ảo giác (ảo thanh ra lệnh, xui khiến, bình phẩm) chiếm ưu thế trong bệnh cảnh lâm sàng.
- Nghiện rượu và ma túy: Để phân biệt giữa trầm cảm và nghiện rượu, ma túy, chúng ta cần khai thác bệnh sử, khám lâm sàng, làm các xét nghiệm tìm ma túy trong máu, nước tiểu để có được chẩn đoán chính xác.
- Cơn trầm cảm của rối loạn cảm xúc lưỡng cực: Khi khai thác tiền sử, bệnh nhân đã có một hay nhiều giai đoạn hưng cảm, hỗn hợp hoặc hưng cảm nhẹ trong tiền sử.
- Các bệnh thực tổn: Như đã nói trên, các bệnh thực tổn như ung thư, mất trí, bệnh tuyến giáp... có thể có các triệu chứng mất ngủ, mệt mỏi, chán ăn, sút cân, giảm trí nhớ, chú ý... giống như trầm cảm.
- 6. Tiến triển
Các triệu chứng của một giai đoạn trầm cảm thường phát triển trong vài ngày hoặc vài tuần. Một giai đoạn tiền triệu, có thể bao gồm các triệu chứng lo âu và một số triệu chứng của trầm cảm có thể kéo dài vài tuần hoặc vài tháng trước khi có một giai đoạn trầm cảm chủ yếu đầy đủ.
Trầm cảm thường kéo dài 6-9 tháng rồi tự hết. Khoảng 30% số bệnh nhân có giai đoạn trầm cảm kéo dài trên 2 năm, gọi là trầm cảm mạn tính. Sau giai đoạn đầu, bệnh nhân phục hồi hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn.
Giai đoạn ổn định kéo dài 1 hoặc nhiều năm. Bình quân cứ 10 năm họ bị 4 giai đoạn trầm cảm.
Nguy cơ tái phát của trầm cảm như sau:
- Đã có 1 giai đoạn trầm cảm: 50% nguy cơ có cơn thứ 2.
- Đã có 2 giai đoạn trầm cảm: 70% nguy cơ có cơn thứ 3.
- Đã có 3 giai đoạn trầm cảm: 90% nguy cơ có cơn thứ 4.
- Đã có 4 giai đoạn trầm cảm: 100% sẽ có cơn thứ 5
- 7. Tiên lượng
Rối loạn trầm cảm không phải là một rối loạn lành tính, nó có xu hướng mãn tính và bệnh nhân hay bị tái phát. Bệnh nhân đã được nhập viện cho một giai đoạn đầu tiên của rối loạn trầm cảm chủ yếu có khoảng 50% sẽ phục hồi trong năm đầu tiên. Tỷ lệ bệnh nhân nhập viện hồi phục sau nhiều lần tái phát giảm dần theo thời gian. Nhiều bệnh nhân không phục hồi hoàn toàn mà vẫn bị loạn khí sắc. Khoảng 25% bệnh nhân tái phát rối loạn trầm cảm chủ yếu trong 6 tháng đầu tiên sau khi xuất viện, khoảng 30 đến 50% trong 2 năm tiếp theo, và khoảng 50 đến 75% sau 5 năm. Tỷ lệ tái phát thấp hơn ở những bệnh nhân chỉ có một hoặc hai giai đoạn trầm cảm được tiếp tục điều trị củng cố.
- 8. Các dạng đặc biệt của trầm cảm
8.1.Trầm cảm ở phụ nữ có thai
Phụ nữ có thể bị trầm cảm trước khi mang thai hoặc khi đang mang thai. Nếu họ bị trầm cảm từ trước khi mang thai thì khi mang thai họ sẽ bị tái phát nếu hiện tại không điều trị củng cố bằng thuốc.Nếu họ đang bị trầm cảm, chưa điều trị ổn định thì khi mang thai trầm cảm sẽ nặng hơn.
Phụ nữa có thai (và cho con bú) khi bị trầm cảm nên được điều trị bằng thuốc chống trầm cảm. Các thuốc ít ảnh hưởng đến thai nhi và trẻ sơ sinh bú sữa mẹ là SSRI (trừ paroxetin), mirtazapin, venlafaxin, clomipramin.
8.2.Trầm cảm sau đẻ:
Là trầm cảm khởi phát trong vòng 30 ngày tính từ lúc sinh con. Trầm cảm sau đẻ có thể gặp ở cá ông bố, nhưng rất hiếm. Trầm cảm sau đẻ khởi phát đột ngột, có rất nhiều triệu chứng, có thể có loạn thần hoặc căng trương lực.
Tuy nhiên, triệu chứng đáng ngại nhất của trầm cảm sau đẻ là ý định và hành vi tự sát, kèm giết trẻ sơ sinh. Tỷ lệ tự sát giết con là khoảng 0,07%.
Cần phát hiện sớm các triệu chứng mất ngủ, mệt mỏi, bi quan, muốn chết... Ở người mẹ để chẩn đoán sớm trầm cảm sau đẻ.
Bệnh nhân cần được điều trị nội trú và có thể phải làm sốc điện để nhanh chóng cắt cơn trầm cảm, giúp mẹ có thể chăm sóc em bé sớm nhất.
Trầm cảm sau đẻ thường không cần điều trị củng cố. Nhưng lần đẻ sau thì bệnh lại tái phát.
8.3.Trầm cảm ở trẻ em
Trầm cảm hiếm gặp ở trẻ em dưới 13 tuổi. Ở trẻ 13-15 thì trầm cảm đã chiếm hơn 1%. Chúng có các đặc điểm sau:
+ Khí sắc kích thích: rất dễ nổi cáu.
+ Kích động hành vi: rất hay đập phá đồ đạc, đánh bố, mẹ, đánh em...
+ Học tập rất kém.
+ Có thể có đái dầm và ỉa đùn.
Điều trị cho trẻ trên 15 tuổi thì như với ngưởi lớn. Còn trẻ dưới 15 tuổi thì FDA (Hoa Kỳ) chỉ cho phép dùng fluoxetin 20mg x 1 viên/ngày.
8.4. Trầm cảm ở người cao tuổi
Họ có nhiều bệnh cơ thế kết hợp nên khó phân biệt đó là trầm cảm chủ yếu (tiên phát) hay là trầm cảm do 1 bệnh cơ thể (thứ phát).
Nếu bệnh nhân có đái thảo đường thì không dùng mirtazapin, thuốc an thần kinh mới nhất là olanzapin. Nếu bệnh nhân có rối loạn dẫn truyền nhĩ thất thì không dùng thuốc chống trầm cảm 3 vòng.Nếu bệnh nhân có phì đại tiền liệt tuyến thì chỉ nên dùng sertralin, escitalopram, paroxetin liều tối thiểu.
Bệnh nhân cao tuổi hay có ý định và hành vi tự sát nên phải đề phòng tự sát.
Bệnh nhân trầm cảm cao tuổi trí nhớ gần rất kém nên dễ nhầm với mất trí Alzheimer. Nếu sau 1 tháng điều trị bằng thuốc chống trầm cảm, trí nhớ phục hồi rõ ràng thì đó là trầm cảm, ngược lại, là mất trí.
- 9. Điều trị
Ngày nay trầm cảm được điều trị chủ yếu bằng thuốc kết hợp với một số liệu pháp như: liệu pháp sốc điện, liệu pháp kích thích điện trực tiếp xuyên sọ,liệu pháp kích thích từ xuyên sọ,liệu pháp tâm lý... Một bệnh nhân có thể điều trị kết hợp can thiệp nhiều liệu pháp để đạt hiệu quả tối ưu.
* Các trường hợp sau cần phải nhập viện điều trị nội trú:
- Bệnh nhân trầm cảm có hành vi tự sát hoặc ý định tự sát mãnh liệt.
- Bệnh nhân trầm cảm từ chối ăn.
- Bệnh nhân trầm cảm có loạn thần hoặc có căng trương lực.
- Bệnh nhân có nhiều bệnh cơ thể phối hợp.
9.1. Điều trị tấn công
Điều trị tấn công nhằm không chế gần như hoàn toàn các triệu chứng của cơn trầm cảm. Điều trị tấn công thường kéo dài 6 - 8 tuần. Lựa chọn một trong số các thuốc chống trầm cảm sau:
- Thuốc chống trầm cảm 3 vòng:
+ Clomipramin: viên nén 25mg liều từ 50 -150mg/ngày.
-Thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRI):
+ Paroxetin: Thuốc đóng dạng viên nén 20mg. Liều dùng 20mg/ngày, uống 1 lần vào buổi tối.
+ Sertralin: Sertralin là thuốc chống trầm cảm SSRI nên có rất ít tác dụng phụ. Thuốc đóng dạng viên nén 100mg. Liều dùng 100mg/ngày, uống 1 lần vào buổi tối.
+ Fluoxetin: 20 – 40 mg/ngày
+ Fluvoxamin: 100 – 200mg/ngày
+ Citalopram: 20 – 60mg/ngày
+ Escitalopram: 10 – 30mg/ngày
- Thuốc chống trầm cảm đa vòng (SNRI):
+ Mirtazapin: 15 – 60 mg/ngày
+ Venlafaxin: 50 – 300 mg/ngày
- Thuốc an thần: các thuốc chống trầm cảm nên phối hợp với thuốc an thần mới liều thấp để tăng tăng dụng điều trị.
+ Risperidon: 2 - 4mg/ngày
+ Olanzapin: 5 - 10mg/ngày
+ Quetiapin: 50 - 200mg/ngày
+ Clozapin: 25 - 100mg/ngày
+ Aripiprazol: 5 - 10mg/ngày
- Thuốc bình thần: vừa giảm lo âu, gây buồn ngủ và giảm được tác dụng phụ trên dạ dày, ruột của các thuốc chống trầm cảm. Thuốc bình thần dùng liều thấp, thời gian ngắn (thường từ 4 – 8 tuần) kết hợp với thuốc chống trầm cảm và thuốc an thần kinh mới.
+ Lorazepam: 0,5 - 1mg/ngày
+ Clonazepam: 0,5 - 1mg/ngày
+ Bromazepam: 1,5 - 3mg/ngày
9.2. Liệu pháp sốc điện
Sốc điện là liệu pháp điều trị có hiệu quả nhất cho giai đoạn trầm cảm. Đây là liệu pháp rất an toàn, cho kết quả tốt cả khi dùng thuốc chống trầm cảm đó thất bại (kháng thuốc). Có thể sốc điện thông thường hoặc sốc điện dưới gây mê.
Các trường hợp trầm cảm có yếu tố căng trương lực, từ chối ăn, có ý tưởng và hành vi tự sát hoặc đáp ứng với điều trị kém với thuốc có thể dùng kết hợp với liệu pháp sốc điện từ 8 – 12 lần hàng ngày hoặc cách ngày.
9.3. Điều trị bằng tâm lý
- Liệu pháp nhận thức:
+ Được chỉ định trong điều trị giai đoạn trầm cảm nhẹ và vừa.
+ Có thể kết hợp liệu pháp này với thuốc chống trầm cảm trong điều trị bệnh trầm cảm.
- Liệu pháp hỗ trợ:
+ Liệu pháp này nhằm tạo sự cân bằng về thực tế của bệnh nhân và phản ứng của họ.
+ Bệnh nhân được giúp đỡ những vấn đề mà họ không thể giải quyết.
+ Liệu pháp này thường được kết hợp với thuốc chống trầm cảm trong điều trị bệnh trầm cảm mức độ vừa và nhẹ.
- Liệu pháp phân tích tâm lý:
+ Liệu pháp phân tích tâm lý giúp bệnh nhân chấp nhận những thay đổi do rối loạn trầm cảm gây ra.
+ Liệu pháp này có mục đích là giúp cho bệnh nhân dung nạp tốt hơn những tình huống chấn thương tâm lý và tự hiểu biết về các triệu chứng.
+ Trong liệu pháp tâm lý, nhà tâm lý đóng vai trò chủ động giúp bệnh nhân hiểu được các động cơ không ý thức và tự cải thiện các cơ chế xuất hiện bệnh đó thực sự tồn tại.
+ Liệu pháp này thường được kết hợp với thuốc chống trầm cảm trong điều trị trầm cảm vừa và nhẹ.
9.4. Các liệu pháp khác
Liệu pháp kích thích điện trực tiếp xuyên sọ, kích thích từ xuyên sọ, liệu pháp ánh sáng… Mỗi bệnh nhân có thể kết hợp can thiệp nhiều liệu pháp để đạt hiệu quả tối ưu.
9.5. Điều trị củng cố
Điều trị củng cố nhằm chống tái phát trầm cảm, phục hồi chức năng cho bệnh nhân. Cần tránh 2 xu hướng sau:
- Điều trị củng cố quá ngắn. Nếu điều trị củng cố quá ngắn, bệnh trầm cảm sẽ dễ dàng tái phát. Ngày nay, hầu hết các tác giả đều thống nhất rằng thời gian điều trị củng cố cần kéo dài ít nhất 1 năm.
- Liều thuốc quá thấp sẽ không có tác dụng ngăn chặn tái phát của cơn trầm cảm. Liều củng cố phải bằng liều điều trị tấn công.
Định kì yêu cầu bệnh nhân tái khám để đánh giá hiệu quả điều trị và điều chỉnh đơn thuốc cho phù hợp với tình hình hiện tại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- 1. Bộ y tế (2020). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số rối loạn tâm thần thường gặp. (Ban hành kèm theo quyết định số 2058/QĐ-BYT Ngày 14 tháng 05 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế).
- 2. Bùi Quang Huy, Đỗ Xuân Tĩnh, Đinh Việt Hùng (2016). Rối loạn trầm cảm. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
- 3. Cao Tiến Đức, Bùi Quang Huy, Ngô Ngọc Tản (2016). Giáo trình bệnh học tâm thần. Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr 285-318.
- 4. American Psychiatric Association (2013). Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders. 5th Edition, Washington DC.
- 5. Sadock B.J., Sadock A.S., Ruiz P. (2015), Kaplan & Sadock’s Synopsis of Psychiatry: acute psychosis, 11th Edition, Lippincott Williams & Wilkins, Philadelphia.
TS Đỗ Xuân Tĩnh












