Vô sinh là một bệnh rất phổ biến, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hạnh phúc gia đình, gây rất nhiều tốn kém cả về thời gian và tiền bạc cho bệnh nhân, gia đình và xã hội.
Theo sở y tế Hà Nội, 1 triệu là con số ước tính số cặp vợ chồng vô sinh ở Việt Nam, trong đó 50% cặp vợ chồng vô sinh ở độ tuổi dưới 30 và 7.7% là tỷ lệ vô sinh của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ.
Theo Rooney K.L. (2018), bệnh nhân vô sinh (cả nữ và nam) đều có tỷ lệ trầm cảm rất cao (15-54%). Chính vô sinh và các quá trình điều trị vô sinh gây ra trầm cảm ở các bệnh nhân này, nhưng trầm cảm cũng tác động ngược lại, gây rất nhiều khó khăn cho điều trị vô sinh.
1. Biểu hiện của trầm cảm ở bệnh nhân vô sinh
Trầm cảm rất phổ biến ở người vô sinh. Một số nghiên cứu đã phát hiện ra rằng tỷ lệ trầm cảm ở các cặp vợ chồng vô sinh được điều trị vô sinh cao với ước tính khoảng 15% -54%. Lo âulan tỏa cũng được chứng minh là cao hơn đáng kể ở các cặp vợ chồng vô sinh khi so sánh với dân số nói chung, với 8% -28% các cặp vợ chồng vô sinh báo cáo có lo âu lan tỏa.
Một số nghiên cứu đã tìm hiểu mối tương quan giữa vô sinh và các rối loạn tâm thần. Trong một nghiên cứu trên 112 phụ nữ vô sinh Nhật Bản, đã cho thấy rối loạn tâm thần gặp trên 40% trường hợp. Các chẩn đoán phổ biến nhất là rối loạn lo âu lan tỏa (23%), rối loạn trầm cảm (17%) và loạn khí sắc (9,8%).
Một nghiên cứu năm 2010 cho thấy trầm cảm có thể ngăn cản mọi người tìm cách điều trị vô sinh.
Mặc dù nhiều người có vấn đề về khả năng sinh sản có thể có con sau khi điều trị, chẳng hạn như thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), lo lắng về việc liệu phương pháp điều trị có hiệu quả hay không cũng có thể làm suy yếu sức khỏe tâm thần của họ.
Trầm cảm ở bệnh nhân vô sinh cũng giống như trầm cảm ở nội sinh. Bệnh nhân luôn cảm thấy buồn hoặc chán nản. Tình trạng này bền vững theo thời gian và ảnh hưởng rõ ràng đến khả năng lao động, chất lượng cuộc sống và các chức năng quan trọng khác cuả người bệnh.
Bệnh nhân có thể được chẩn đoán trầm cảm khi họ có năm hoặc nhiều triệu chứng sau:
- Tâm trạng chán nản trong hầu hết các ngày trong hầu hết các ngày.
- Mất hứng thú với hầu hết các hoạt động, ngay cả những sở thích cũ.
- Giảm cân hoặc tăng cân không phải do ăn kiêng có chủ ý.
- Ngủ quá nhiều hoặc quá ít.
- Kích động về vận động hoặc chậm chạp hầu hết thời gian trong ngày.
- Mệt mỏi, mất năng lượng hầu hết thời gian trong ngày.
- Cảm thấy mình vô giá trị hoặc có tội lỗi.
- Khó tập trung suy nghĩ hoặc khó ra quyết định.
- Suy nghĩ thường xuyên về cái chết hoặc có hành vi tự tử
Đối với một bác sĩ để chẩn đoán trầm cảm, các triệu chứng của người bệnh không phải là do lạm dụng thuốc hoặc một chất.
2. Các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở bệnh nhân vô sinh
Có nhiều yếu tố liên quan đến trầm cảm ở bệnh nhân vô sinh, bao gồm:
2.1. Căng thẳng
Vô sinh có thể là một trải nghiệm căng thẳng, đặc biệt là nơi có nhiều áp lực đối với người mang thai.
Đối với các cặp vợ chồng xác định trải nghiệm vô sinh của họ là một sự kiện cuộc sống đau khổ nhất, thì khắc phục tình trạng hiện tại của họ chỉ có thể bằng cách đối phó với căng thẳng và thích nghi với tình hình hiện tại.
Các cá nhân được chẩn đoán vô sinh buộc phải chống lại một điều kiện không thể giải quyết bằng các chiến lược đối phó có sẵn.Trong việc kiểm soát căng thẳng thì năng lực cá nhân, kinh nghiệm trong quá khứ và sự hỗ trợ từ xã hội là rất quan trọng. Thất bại trong việc có con tạo áp lực tới môi trường gia đình của các cặp vợ chồng, gây căng thẳng ở nhà.
Nếu thất bại trong việc sinh sản được coi là một tội ác và nếu nó buộc cá nhân đó cảm thấy mình là kẻ thua cuộc trong cộng đồng, thì các cặp vợ chồng vô sinh sẽ chọn cách ly mình khỏi cộng đồng.
2.2. Bệnh cơ thể và sử dụng chất
Các bệnh cơ thể gây ra vô sinh cũng chính là các nguyên nhân gây ra trầm cảm ở bệnh nhân nữ vô sinh. Đây không phải là trầm cảm nội sinh mà là trầm cảm do một bệnh thực tổn gây ra.
Bệnh tật, thuốc, di truyền, thói quen lối sống hoặc thậm chí tiếp xúc với một số chất độc có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản. Lý do giảm khả năng sinh sản bao gồm:
- Lạc nội mạc tử cung: Tình trạng này ảnh hưởng đến khoang chậu của phụ nữ, nơi các mảnh mô từ lớp lót trong cùng của tử cung (nội mạc tử cung) phát triển và hoạt động bên ngoài tử cung. Chúng là một trong những nguyên nhân gây đau bụng kinh và vô sinh.
- Nhiễm trùng đường sinh dục: Một nguyên nhân hàng đầu gây vô sinh ở cả nam và nữ là các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) - đặc biệt là chlamydia và lậu. Nếu không được điều trị, sẹo hoặc tổn thương ống dẫn trứng có thể gây vô sinh.
- Bệnh viêm vùng chậu (PID): Nhiễm trùng hệ thống sinh sản trên của phụ nữ liên quan đến ống dẫn trứng, tử cung và buồng trứng. Một đợt duy nhất của PID có thể gây vô sinh khoảng 15% bệnh nhân.Tỷ lệ này lên đến 50% ở người viêm vùng chậu lần thứ 3.
- Mất cân bằng nội tiết tố nữ: Nếu nội tiết tố nữ của bạn không truyền được tín hiệu hóa học vào đúng thời điểm, sự rụng trứng có thể không đều, không thường xuyên hoặc không xảy ra. Một số mất cân bằng nội tiết tố gây vô sinh cũng có thể góp phần gây ra các triệu chứng tâm trạng và dễ bị trầm cảm.
Cơ chế của trầm cảm có thể ảnh hưởng trực tiếp đến vô sinh liên quan đến sinh lý của trạng thái trầm cảm như tăng prolactin, phá vỡ trục hạ đồi-tuyến yên-tuyến thượng thận và rối loạn chức năng tuyến giáp. Một nghiên cứu trên 10 phụ nữ bị trầm cảm và 13 phụ nữ bình thường cho thấy trầm cảm có liên quan đến sự điều hòa bất thường của hormone luteinizing, một loại hormone điều chỉnh sự rụng trứng.
Những thay đổi trong chức năng miễn dịch liên quan đến căng thẳng và trầm cảm cũng có thể ảnh hưởng xấu đến chức năng sinh sản. Các nghiên cứu tiếp theo là cần thiết để phân biệt các tác động trực tiếp của trầm cảm với các hành vi liên quan (ví dụ: ham muốn thấp, hút thuốc, sử dụng rượu) có thể cản trở thành công sinh sản.
- Cà phê: Một số phụ nữ tiêu thụ quá nhiều cà phê - tương đương với năm tách cà phê mỗi ngày - mất nhiều thời gian hơn để mang thai. Trong một nghiên cứu, những người tiêu thụ nhiều cà phê nhất có nguy cơ 45% chờ đợi hơn chín tháng trước khi mang thai.
- Rượu, ma túy: Đối với người mẹ sắp sinh, rượu và ma túy làm giảm tỷ lệ thụ thai và tăng nguy cơ sảy thai.
- Hút thuốc: Hóa chất trong khói thuốc lá có thể làm giảm khả năng thụ thai của một người đàn ông. Phụ nữ hút thuốc cũng có thể gặp khó khăn khi mang thai và có tỷ lệ sảy thai cao hơn so với những phụ nữ không hút thuốc.
- Những tác động về tâm thần và thể chất khi điều trị vô sinh: Một nghiên cứu năm 2014 ở những phụ nữ điều trị vô sinh cho thấy lo âu và trầm cảm của họ trở nên tồi tệ hơn trong quá trình điều trị vô sinh.
- Tác dụng phụ của thuốc: Nhiều loại thuốc sinh sản liên quan đến việc sử dụng hormon. Đôi khi những hormon này có thể ảnh hưởng đến tâm trạng của một người, làm tăng nguy cơ trầm cảm.
2.3. Tiền sử bị trầm cảm ở bệnh nhân vô sinh
Trầm cảm phổ biến hơn trong số những người bị vô sinh có tiền sử gia đình bị trầm cảm, những người có tiền sử trầm cảm trước đây, hoặc những người thiếu sự hỗ trợ của người thân.
Vô sinh thường xuyên gây ra cảm giác xấu hổ, điều này có thể khiến việc nói chuyện với bạn bè và gia đình trở nên khó khăn hơn. Sự cô lập này làm cho trầm cảm dễ xuất hiện hơn.
Vai trò của rối loạn tâm lý trong sự phát triển của vô sinh vẫn là một vấn đề tranh luận. Một nghiên cứu trên 58 phụ nữ cho thấy nguy cơ vô sinh tăng gấp 2 lần ở những phụ nữ có tiền sử trầm cảm.Tuy nhiên, họ không thể kiểm soát các yếu tố khác cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, bao gồm hút thuốc lá, sử dụng rượu, giảm ham muốn và chỉ số khối lượng cơ thể.
PGS.TS. Bùi Quang Huy












