1. ĐẠI CƯƠNG
- Dị hình vách ngăn là một bệnh bẩm sinh hoặc mắc phải do chấn thương. Bệnh khá phổ biến thuộc chuyên khoa Tai mũi họng, gây các triệu chứng ngạt một hoặc cả hai bên mũi, gây bến chứng viêm xoang.
- Chỉnh hình vách ngăn là phẫu thuật xén sụn và xương vách ngăn dưới niêm mạc nhằm tạo lại một vách ngăn thẳng.
2. CHỈ ĐỊNH
- Tất cả những dị hình vách ngăn gây cản trở thông khí của mũi, cản trở sự dẫn lưu của mũi xoang, vẹo gây kích thích nhức đầu, cản trở đường vào của phẫu thuật nội soi xoang.
- Dị hình vách ngăn mũi gây viêm xoang.
3. CHỐNG CHỈ ĐỊNH
3.1. Chống chỉ định tuyệt đối
- Các bệnh lý nội khoa nặng, mất bù như suy thận, các bệnh lý về máu,..
3.2. Chống chỉ định tương đối
- Viêm nhiễm cấp tính vùng mũi xoang.
- Không nên phẫu thuật ở trẻ em dưới 16 tuổi (trừ trường hợp chấn thương).
4. CHUẨN BỊ
4.1. Người thực hiện
- Kíp vô cảm : do khoa Gây mê đảm nhiệm
- Kíp mổ: 03 bác sĩ (01 bác sĩ có chứng nhận phẫu thuật viên loại II trở lên, 02 bác sĩ phụ).
4.2. Phương tiện
- Dụng cụ: bộ dụng cụ dùng cho phẫu thuật nội soi (phụ lục 1).
- Máy nội soi: camera, optic 0º.
4.3. Người bệnh, hồ sơ bệnh án
- Người bệnh được khám xét tỉ mỉ trước phẫu thuật, đánh giá tình trạng toàn thân tại chỗ.
- Được giải thích rõ về các tai biến biến chứng trong sau phẫu thuật.
- Hồ sơ bệnh án:
+ Tiền sử người bệnh diễn biến bệnh.
+ Các xét nhiệm cơ bản đảm bảo cho phẫu thuật: Công thức máu, sinh hóa máu, đông máu cơ bản, nhóm máu, ví sinh vật, điện tim, Xq tim phổi.
- Vệ sinh hốc mũi, cắt lông cửa mũi.
5. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH
5.1. Vô cảm
- Phẫu thuật được thực hiện dưới gây tê hoặc gây mê nội khí quản.
- Tiêm tê bằng lidocain 2% pha Adrenalin 1%, tỉ lệ 1/200.000.
5.2. Tư thế bệnh nhân,vị trí kíp mổ
- Tư thế người bệnh: Người bệnh nằm ngửa, đầu cao 10-15 độ.
- Vị trí kíp mổ: Phẫu thuật viên chính đứng phía bên phải người bệnh ,phụ 1,2 đứng bên cạnh bệnh nhân đối diện phẫu thuật viên

5.3. Kỹ thuật
Thì 1: Đặt thuốc co mạch khoang mũi
- Phẫu thuật viên đặt thuốc co mạch (naphazolin,otrivin) hốc mũi bên dị hình vách ngăn, làm niêm mạc mũi co nhỏ lại mở rộng khe mũi tạo thuận lợi thao tác phẫu thuật.
- Phẫu thuật viên dùng nội soi với optic 0° quan sát từ trước ra sau, đánh giá chi tiết vùng dị hình vách ngăn. Tiêm tê dưới niêm mạc (bằng lidocain2% + Adrenalin 0,1% với tỉ lệ nhất định) tại các điểm xung quanh vùng dị hình vách ngăn,với mục đích co mạch đảm bảo ít chảy máu trong mổ.
Thì 2: Rạch niêm mạc và bóc tách vách ngăn
- Dùng dao lá lúa rạch niêm mạc vách ngăn vào tới màng sụn, vị trí theo chiều đứng dọc ngay phía trước vách ngăn hoặc theo một đường ngay trên dị hình vách (nếu dị hình vách ngăn là mào hoặc gai).
- Dùng bay bóc tách nhỏ và tù để bóc tách niêm mạc, màng sụn ra khỏi sụn. Bộc lộ phần sụn lệch. Chú ý bóc tách nhẹ nhàng tránh rách niêm mạc 2 bên cùng 1 vị trí.
Thì 3: Chỉnh hình phần sụn, xương bị dị hình.
Dùng đục thẳng, bay bóc tách, kìm gặm lấy phần sụn bị vẹo. Nếu phần dị hình ở xương ta có thể dùng đục để lấy bỏ xương vách ngăn (chỉ lấy bỏ phần dị hình).
Thì 4: Đặt lại niêm mạc
Sau khi lấy hết phần dị hình vách ngăn ta lấy bay đặt lại phần niêm mạc đã bóc tách về vị trí cũ. Có thể khâu lại niêm mạc và cố định vách ngăn bằng xốp cầm máu hoặc mèche tẩm dầu.
6. TAI BIẾN VÀ XỬ TRÍ
6.1. Rách niêm mạc vách ngăn
- Rách một bên: xếp lại niêm mạc ngay ngắn.
- Rách hai bên tại cùng một điểm: cắt một mảnh sụn vừa lấy bỏ đặt chêm vào giữa chỗ rách rồi ép niêm mạc lại.
6.2. Chảy máu
Dùng thuốc cầm máu, đôi khi cần đặt lại mèche.
6.3. Tụ máu vách ngăn
Chích rạch tháo khối tụ máu sau đó nhét lại mèche mũi để chèn vào vùng đó. Chú ý cho dùng kèm kháng sinh chống vi khuẩn kỵ khí để phòng hoại tử gây thủng vách ngăn.
7. THEO DÕI VÀ CHĂM SÓC SAU THỰC HIỆN KỸ THUẬT
- Nằm đầu cao 30° khoảng 12 giờ.
- Ăn uống bình thường nếu bệnh nhân tỉnh táo hoàn toàn.
- Sử dụng giảm đau nếu cần thiết.
- Dùng kháng sinh đường tiêm 5- 7 ngày.
- Rút mèche, merocel sau mổ 48 giờ.
- Hút máu đọng, lấy vẩy hoặc giả mạc, làm thuốc mũi hàng ngày..
- Sử dụng steroid xịt mũi liều thích hợp ngay sau rút merocel.
8. TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Y tế ( 2015), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh về tai mũi họng, Ban hành kèm theo quyết định số 5643/QĐ- BYT ngày 31/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế,tr193-196.
Bộ môn Tai mũi họng, Học viện Quân Y (2016), Bệnh học Tai mũi họng, Nhà xuất bản Quân Đội Nhân dân, tr 98-103.
Nguyễn Đình Bảng (1993), Tập tranh giải phẫu Tai mũi họng, Bộ môn Tai mũi họng, Trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh.
Võ Tấn (1993). Tai mũi họng thực hành, tập II. Nhà xuất bản Y học Hà Nội,tr 266-270.
Jemes N. Palmer, Alexander G. Chiu (2013), Atlas of endoscopic sinus and skull base surgery.
TS. Vũ Văn Minh
(Phó Chủ nhiệm Bộ môn – Khoa Tai mũi họng, Bệnh viện Quân y 103)












