3.1. Các phương pháp
- Đối với người bệnh thể nhẹ: Sử dụng video hướng dẫn cho người bệnh qua Ipad, điện thoại di động...hoặc phát tờ rơi, hướng dẫn ngắn gọn cho người bệnh.
- Đối với người bệnh nặng, nguy kịch không thể tự thực hiện các bài tập PHCN thì kỹ thuật viên PHCN, điều dưỡng, cán bộ y tế tại cơ sở điều trị người bệnh nhiễm COVID - 19 sẽ thực hiện sau khi có kết luận hội chẩn của bác sĩ chuyên khoa PHCN, bác sĩ điều trị.
- Các phương pháp cần cá nhân hóa tùy thuộc vào tình trạng người bệnh, đặc biệt đối với người bệnh nặng, người cao tuổi và người có bệnh mạn tính.
3.2. Kỹ thuật phục hồi chức năng cho người bệnh COVID-19
3.2.1. Đối với thể nhẹ (viêm đường hô hấp trên, viêm phổi nhẹ).
Phục hồi chức năng (PHCN) cho nhóm người bệnh này tập trung vào các kỹ thuật thở: thở cơ hoành, thở chúm môi, thở dưỡng sinh và tập vận động… để nâng cao thể chất, tinh thần.
Nếu người bệnh có tiết nhiều đờm dịch thì bổ sung thêm kỹ thuật thở chu kỳ chủ động và kỹ thuật ho hữu hiệu.
3.2.1.1 Kỹ thuật tập các kiểu thở
+ Mục đích của kỹ thuật: làm giãn nở lồng ngực, tăng không khí vào phổi.
a, Kỹ thuật tập thở cơ hoành (4 bước)
• Bước 1: ngồi ở tư thế thoải mái, thả lỏng cổ và vai.
• Bước 2: đặt 1 bàn tay lên bụng và đặt bàn tay còn lại lên ngực.
• Bước 3: hít vào chậm qua mũi sao cho bàn tay trên bụng có cảm giác bụng phình lên. Lồng ngực không di chuyển.
• Bước 4: hóp bụng lại và thở ra chậm qua miệng với thời gian thở ra gấp đôi thời gian hít vào và bàn tay trên bụng có cảm giác bụng lõm xuống.

Ảnh 1: Tư thế và cách đặt bàn tay trong kiểu thở cơ hoành

Ảnh 2: Hoạt động hít vào, thở ra của thở cơ hoành
b, Kỹ thuật tập thở chúm môi


Ảnh 3: Hình ảnh môi, luồng khí, bụng trong thở chúm môi
• Bước 1: người bệnh tư thế ngồi thoải mái, thả lỏng cổ và vai. Hít thật sâu từ từ bằng mũi đồng thời bụng phình lên.
• Bước 2: môi chúm lại như đang huýt sáo, thở ra bằng miệng chậm sao cho thời gian thở ra gấp đôi thời gian hít vào, đồng thời bụng hóp vào.
c, Kỹ thuật ho hữu hiệu
+ Mục đích: tăng khả năng tống thải đờm, làm thông thoáng đường thở.
+ Thực hiện kỹ thuật:
• Bước 1: người bệnh thở chúm môi khoảng 5 – 10 lần giúp đẩy đờm từ phế quản nhỏ ra các phế quản vừa.
• Bước 2: tròn miệng, hà hơi 5 – 10 lần, tốc độ tăng dần: giúp đẩy đờm từ phế quản vừa ra khí quản.
• Bước 3: hít vào thật sâu, nín thở và ho liên tiếp 2 lần, lần 1 nhẹ, lần 2 nhanh mạnh để đẩy đờm ra ngoài.

Ảnh 4: Hình ảnh tròn miệng, hà hơi của kỹ thuật ho hữu hiệu
d, Kỹ thuật thở chu kỳ chủ động
- Mục đích của kỹ thuật: làm tăng khả năng tống thải đờm dịch, làm thông thoáng đường thở cho những người bệnh có tổn thương phổi trên Xquang hoặc có biểu hiện khó thở, ho khạc đờm hoặc kèm theo bệnh có tăng tiết đờm như: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, giãn phế quản, viêm phổi kẽ, ung thư phổi...
- Thực hiện kỹ thuật:
• Bước 1: (Thở có kiểm soát): hít thở nhẹ nhàng trong 20 đến 30 giây.
• Bước 2: (Căng giãn lồng ngực): hít thật sâu bằng mũi, nín thở 2 đến 3 giây và thở ra nhẹ nhàng, lặp lại 3 đến 5 lần.
• Bước 3: (Hà hơi): hít thật sâu, nín thở 2 đến 3 giây và tròn miệng hà hơi đẩy mạnh dòng khí ra ngoài. Lặp lại 1 đến 2 lần.

Sơ đồ 1: Chu kỳ thở có kiểm soát, căng giãn lồng ngực và hà hơi
e, Kỹ thuật tập vận động
- Mục đích của kỹ thuật: nâng cao thể lực, tăng cường khả năng vận động ngăn chặn sự suy giảm thể chất và tinh thần.
- Thực hiện kỹ thuật: Tập vận động chủ động, tập vận động tự do tứ chi, các động tác đứng lên, ngồi xuống, duỗi thẳng chân ra sau, nâng chân lên, đi lại trong phòng nhiều vòng, chạy tại chỗ nếu có thể… (áp dụng cho những người bệnh có thể tự vận động trong phòng cách ly). Tập vận động ít nhất 2 lần/ngày, mỗi lần 30 phút trở lên.
- Đối với những người bệnh không thể đứng, có thể ngồi, có thể nằm thực hiện các động tác: nâng cao tay, co duỗi cẳng tay, duỗi chân, nâng cao chân, co duỗi cẳng chân và nâng mông… Thực hiện ít nhất 2 lần/ngày. Mỗi động tác lặp lại 8-12 lần tùy theo tình trạng sức khỏe của người bệnh.
3.2.2. Đối với người bệnh thể nặng
Người bệnh thể nặng nhưng vẫn tỉnh và tự thực hiện các kỹ thuật theo hướng dẫn của video, tờ rơi hoặc dưới sự giám sát của nhân viên y tế. Kỹ thuật viên phục hồi chức năng hoặc điều dưỡng hướng dẫn đứng cách xa người bệnh trên 2 mét.
- Mục đích của PHCN: tống đờm, chất tiết từ đường hô hấp ra ngoài, làm tăng thông khí, dễ thở, đề phòng các biến chứng loét da, biến chứng suy hô hấp, tim mạch và các cơ quan khác.
- Các kỹ thuật cần thực hiện:
+ Tập vận động chủ động: Vận động chủ động tay chân, co duỗi tay, co duỗi chân, nâng tay, nâng chân, nâng mông, thực hiện mỗi động tác 8-12 lần hoặc nhiều hơn tùy theo khả năng.
+ Người bệnh tự lăn trở 2h/lần, tự kiểm tra vùng da hay bị đè ép.
+ Tập thở cơ hoành, tập thổi vào bình nước to hoặc dụng cụ tập hô hấp
+ Tập ho hữu hiệu (điều dưỡng chuẩn bị sẵn dụng cụ đựng đờm, chất tiết của người bệnh). Nếu người bệnh tỉnh nhưng yếu để thực hiện động tác, cần người điều trị trợ giúp một phần để người bệnh thực hiện các kỹ thuật đó.
+ Tư vấn tâm lý: Những người bệnh thể nặng thường có biểu hiện lo lắng, trầm cảm, căng thẳng tâm lý kéo dài…Nhân viên y tế nếu phát hiện các vấn đề tâm lý của người bệnh có thể sử dụng các kiến thức về chuyên môn, kinh nghiệm của mình để tư vấn cho người bệnh. Nếu các vấn đề tâm lý của người bệnh càng ngày càng trầm trọng có thể mời các bác sỹ chuyên ngành sức khỏe tâm thần.
+ Người điều trị theo dõi, ghi hồ sơ bệnh án kết quả thực hiện, các thận trọng và lưu ý khi thực hiện kỹ thuật đối với người có bệnh kèm theo hoặc người cao tuổi.
3.2.3. Đối với người bệnh hôn mê hoặc nguy kịch không thể thực hiện được thì người điều trị (KTV PHCN, điều dưỡng) thực hiện các kỹ thuật
3.2.3.1. Kỹ thuật Điều chỉnh tư thế người bệnh
- Mục đích của kỹ thuật: thư giãn cơ hoành giúp hô hấp dễ dàng hơn.
- Thực hiện kỹ thuật:
+ Đặt người bệnh ngồi hơi gập người về phía trước hoặc nằm đầu cao 30º - 60º, khớp gối hơi gập.
+ Trường hợp ARDS nặng, thở máy thì đặt người bệnh nằm sấp khi có chỉ định của bác sĩ điều trị.
+ Thực hiện lăn trở thường xuyên 2 giờ/ lần, kiểm tra tình trạng da, đặc biệt các điểm tỳ đè.
+ Nên để người bệnh nằm đệm hơi để phòng loét.
+ Thực hiện ngày 3 lần (sáng, chiều, tối)
3.2.3.2. Kỹ thuật tập vận động thụ động
- Mục đích của kỹ thuật: nâng cao thể lực, tăng cường khả năng vận động, duy trì cân bằng cơ, ngăn ngừa co rút khớp và ngăn ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu.
- Thực hiện kỹ thuật: đối với những người bệnh hôn mê hoặc liệt cơ thì tiến hành tập vận động thụ động các khớp vai, khớp khuỷu tay, khớp cổ tay, khớp háng, khớp gối, khớp cổ chân trong tầm vận động của mỗi khớp. Tập theo tầm vận động khớp. Thời gian thực hiện tối thiểu 15 phút.
3.2.3.3. Kỹ thuật dẫn lưu tư thế
- Mục đích: Phòng tích tụ các chất đờm rãi và dẫn lưu các đờm dịch ra ngoài.
- Kỹ thuật: điều chỉnh tư thế sao cho vùng phổi tổn thương lên trên và có ứ đọng dịch lên trên (có thể dựa vào phim Xquang ngực để đánh giá).
- Thời gian thực hiện 10-15 phút tùy tình trạng người bệnh.
* Các tư thế dẫn lưu:
- Dẫn lưu hai thùy trên (phân thùy đỉnh, PT 1): bệnh nhân nằm ngửa, kê gối cao, để ở tư thế nửa nằm nửa ngồi, kê một gối nhỏ dưới kheo để đỡ khớp gối.
- Dẫn lưu thùy trên phải, thùy trên trái (phân thùy trước, PT 3): nằm ngửa, ngang bằng mặt giường, kê một gối nhỏ ở dưới kheo.

Ảnh 5: Dẫn lưu phân thùy đỉnh (hình trái) và phân thùy trước (hình phải) của thùy trên.
- Dẫn lưu thùy trên phải (phân thùy sau, PT 2): nằm sấp, chân trái duỗi, chân phải co, kê gối nâng vai phải cao trên mặt giường 20cm.

Ảnh 6 và 7: Dẫn lưu phân thùy sau thùy trên phải (hình trái) và phân thùy bên thùy dưới phải (hình phải).
- Dẫn lưu thùy trên trái (phân thùy sau, PT 2): nằm sấp, nâng đầu cao hơn chân 300.
- Dẫn lưu thùy giữa phải (phân thùy 4 và 5): nằm ngửa, nghiêng 3/4 sang trái, đầu dốc xuống 150 - 200, cánh tay dưới (trái) gấp 900.
- Dẫn lưu cả hai thùy dưới (phân thùy sau, PT 8): nằm ngửa, đầu dốc xuống 300.
- Dẫn lưu thùy dưới phải (phân thùy bên, PT 9): nằm nghiêng trái, đệm một gối dài giữa hai chân để bệnh nhân dễ chịu, đầu dốc xuống 300.
- Dẫn lưu thùy dưới trái, phân thùy bên và thùy dưới phải, phân thùy giữa: nằm nghiêng phải, đệm một gối dài giữa hai chân, đầu dốc xuống 300.
- Dẫn lưu cả hai thùy dưới, phân thùy sau: nằm sấp, đầu dốc 300.

Ảnh 8 và 9: Dẫn lưu phân thùy sau (PT 10) và phân thùy trước (PT 8) của thùy dưới

Ảnh 10-12: Dẫn lưu thùy dưới trái, phân thùy bên và thùy dưới phải, phân thùy giữa (hình trái); Dẫn lưu thùy dưới phải, phân thùy sau (hình giữa); Dẫn lưu cả hai thùy dưới, phân thùy sau (hình phải).
- Dẫn lưu thùy dưới phải (phân thùy sau, PT 10): nằm sấp, chân phải co, đệm gối nâng vai phải cao hơn mặt giường 20cm, đầu dốc xuống 300.
- Dẫn lưu cả hai thùy dưới (phân thùy sau, PT 10): nằm sấp, dùng chăn hay gối đệm nâng khung chậu lên cao hơn mặt giường 20 - 30cm (giống tư thế chổng mông).


Ảnh 13: Minh họa dẫn lưu các phân thùy phổi
3.2.3.4. Kỹ thuật vỗ, rung lồng ngực
- Mục đích của kỹ thuật: làm rung cơ học và làm long đờm ứ đọng. Vỗ sẽ tạo nên sóng cơ học tác động qua thành ngực chuyển vào phổi. Rung có tính chất cơ học làm long đờm và đờm di chuyển vào phế quản rộng hơn và thoát ra ngoài.
- Thực hiện kỹ thuật: vỗ áp dụng trên thành ngực ở vị trí tương ứng với các phân thuỳ phổi có chỉ định dẫn lưu. Thời gian vỗ lồng ngực 10-15 phút tùy thuộc tình trạng người bệnh.
* Kỹ thuật vỗ lồng ngực
- Bàn tay kỹ thuật viên khum, các ngón tay khép. Khi vỗ sẽ tạo ra một đệm không khí giữa lòng bàn tay và thành ngực để tránh gây đau rát cho bệnh nhân.
- Vai, khuỷu tay, cổ tay của kỹ thuật viên phải giữ ở trạng thái thoải mái, dễ dàng và mềm mại, lắc cổ tay là chính.
- Hai tay vỗ nhịp nhàng và di chuyển trên thành ngực với lực đều nhau. Bệnh nhân phải thư giãn và chùng cơ khi vỗ.
- Lực vỗ vừa phải, bệnh nhân có cảm giác dễ chịu.
- Thời gian một lần vỗ nên duy trì từ 3 - 5 phút.

Ảnh 14: Tư thế bàn tay khi vỗ.
- Thực hiện kỹ thuật: vỗ áp dụng trên thành ngực ở vị trí tương ứng với các phân thuỳ phổi có chỉ định dẫn lưu. Thời gian vỗ lồng ngực 10-15 phút tùy thuộc tình trạng người bệnh
Chú ý:
- Nếu vỗ gây đỏ da, bệnh nhân cảm thấy khó chịu là do không khum bàn tay để tạo đệm không khí hoặc lực vỗ quá mạnh cần điều chỉnh lại.
- Những bệnh nhân gầy nên lót một lớp vải trên da khi vỗ.

Ảnh 16: Kỹ thuật vỗ lồng ngực bên phải
* Kỹ thuật rung lồng ngực
- Rung và nén chỉ làm ở thì thở ra, nên yêu cầu bệnh nhân hít vào sâu. Kỹ thuật viên để các ngón tay theo kẽ liên sườn, bắt đầu ấn và rung khi bệnh nhân bắt đầu thở ra và tiếp tục trong suốt thì thở ra. Nếu bệnh nhân khó thở, thở nhanh thì có thể rung cách một nhịp thở một lần.
- Vị trí bàn tay kỹ thuật viên khi rung thay đổi, có thể hai tay đồng thời rung hai bên ngực, có thể chồng hai tay lên nhau.
Chú ý: những bệnh nhân có bệnh lý xương sườn như loãng xương, chấn thương ngực cần chống chỉ định để tránh gây gãy xương.
3.2.3.5. Kỹ thuật thở có trợ giúp
- Mục đích của kỹ thuật: giúp tống thải đờm từ các phế quản nhỏ ra đường thở lớn.
- Thực hiện Kỹ thuật: ép bàn tay vào lồng ngực theo hướng di chuyển của khung sườn ở thì thở ra của người bệnh.
Lưu ý: Người điều trị ghi chép hồ sơ bệnh án và các lưu ý về kỹ thuật cũng như tình trạng người bệnh đặc biệt thực hiện kỹ thuật đối với những người có bệnh kèm theo, người cao tuổi.

Ảnh 17:Kỹ thuật thở có trợ giúp