TÓM TẮT:
Đặt vấn đề : Ung thư phổi (UTP) nguyên phát là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh ác tính ở người lớn. Ở Châu Âu, mỗi năm có khoảng 375.000 bệnh nhân ung thư phổi mới mắc, chiếm 12,9% tổng số ung thư mới mắc các loại [1]. Ở Việt Nam, ghi nhận ung thư ở 5 tỉnh thành trong giai đoạn 2001 -2004 (Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Thừa Thiên- Huế, Cần Thơ) thì tỉ lệ mắc ung thư phổi cao nhất ở Hà Nội và thấp nhất ở Huế [2]. Các dấu ấn ung thư (DAUT) trong huyết tương như CEA, Cyfra 21-1 có vai trò quan trọng đối với ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN): định hướng chẩn đoán, đặc biệt là theo dõi điều trị và tiên lượng bệnh nhân. Ở nước ta, các nghiên cứu về dấu ấn sinh học trong UTP chưa nhiều. Đối tượng và phương pháp : nghiên cứu cắt ngang trên 40 bệnh nhân có đầy đủ hồ sơ, chẩn đoán xác định ung thư phổi không tế bào nhỏ tại Bệnh viện K, từ tháng 01/2018 đến tháng 05/2020. Kết luận : Nồng độ CEA, Cyfra 21-1 tăng trong huyết tương bệnh nhân UTPKTBN, phân tán quanh giá trị trung vị tương ứng là 18,94 và 6,52, trong đó có 65% bệnh nhân tăng đồng thời cả CEA và Cyfra 21-1; nồng độ CEA và Cyfra 21-1 ở bệnh nhân UTPKTBN có mối tương quan thuận mức độ chặt (r = 0,84, p < 0,05); nồng độ Cyfra 21-1 khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ (p < 0,05); không tìm được mối liên quan giữa nồng CEA và Cyfra 21-1 với tuổi và kích thước khối u.
Từ khóa : CEA, Cyfra 21-1, ung thư phổi không tế bào nhỏ
Summary
Background: Lung cancer is the leading cause of death in adult malignancy. In Europe, there are about 375,000 new cases of lung cancer each year, accounting for 12.9% of all new cancers [1]. In Vietnam, cancer incidence was recorded in 5 provinces in the period 2001-2004 (Hanoi, Hai Phong, Thai Nguyen, Thua Thien-Hue, Can Tho), the highest incidence of lung cancer in Hanoi and low most in Hue [2]. Plasma cancer markers such as CEA and Cyfra 21-1 play an important role in non-small cell lung cancer: diagnostic orientation, especially for treatment monitoring and treatment. number of patients. In our country, there are not many studies on biomarkers in lung cancer. Subjects and methods: cross-sectional study on 40 patients with complete records, diagnosed and diagnosed with non-small cell lung cancer (NSCLC) in K Hospital, from January 2018 to May 2020. Conclusion: The concentration of CEA, Cyfra 21-1 increased in plasma of patients with NSCLC, dispersed around median values of 18.94 and 6.52 respectively, of which 65% of patients increased simultaneously CEA and Cyfra 21-1; the concentration of CEA and Cyfra 21-1 in patients with NSCLC had a positive correlation with tightness level (r = 0.84, p <0.05); The concentration of Cyfra 21-1 was statistically significantly different between men and women (p <0.05); No association was found between CEA and Cyfra 21-1 concentrations with tumor age and size.
Key words : CEA, Cyfra 21-1, non-small cell lung cancer (NSCLC)
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư phổi (UTP) nguyên phát là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh ác tính ở người lớn. Ở Châu Âu, mỗi năm có khoảng 375.000 bệnh nhân ung thư phổi mới mắc, chiếm 12,9% tổng số ung thư mới mắc các loại [1]. Ở Việt Nam, ghi nhận ung thư ở 5 tỉnh thành trong giai đoạn 2001 -2004 (Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Thừa Thiên- Huế, Cần Thơ) thì tỉ lệ mắc ung thư phổi cao nhất ở Hà Nội và thấp nhất ở Huế [2]. Tỉ lệ mắc ung thư phổi tăng dần theo lứa tuổi, hay gặp từ 40-75 tuổi, đỉnh cao nhất ở lứa tuổi từ 55-65 tuổi [3]. Ước tính trên thế giới, tử vong do ung thư phổi mỗi năm vào khoảng 1,2 triệu người [4]. Ung thư phổi là bệnh ác tính có tiên lượng xấu, kể cả ở giai đoạn sớm thì tỉ lệ sống thêm 5 năm sau khi được chẩn đoán cũng chỉ khoảng 10% [5]. Do vậy, việc chẩn đoán sớm và tìm hiểu các yếu tố tiên lượng bệnh sẽ giúp kéo dài thời gian sống, cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [6].
Các dấu ấn ung thư (DAUT) trong huyết tương như CEA, Cyfra 21-1 có vai trò quan trọng đối với ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN): định hướng chẩn đoán, đặc biệt là theo dõi điều trị và tiên lượng bệnh nhân. Ở nước ta, các nghiên cứu về dấu ấn sinh học trong UTP chưa nhiều. Nghiên cứu của Nguyễn Việt Cồ (1989), Nguyễn Hải Anh (2007) đã bước đầu chứng minh vai trò của CEA, Cyfra 21-1 trong định hướng chẩn đoán và mối liên quan với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân UTP [8],[9].
Do vậy chúng tôi nghiên cứu: Khảo sát nồng độ CEA, Cyfra 21-1 huyết tương và mối liên quan với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Gồm 40 bệnh nhân có đầy đủ hồ sơ, chẩn đoán xác định ung thư phổi không tế bào nhỏ tại Bệnh viện K, từ tháng 01/2018 đến tháng 05/2020.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang, định lượng các biến số nghiên cứu.
Tiến hành xét nghiệm định lượng các chỉ số sinh hóa, CEA, Cyfra 21-1 tại khoa Sinh hóa-Bệnh viện K.
2.3. Xử lý số liệu
Phân tích thống kê được thực hiện bằng phần mềm EpiInfo 2005 (Version 3.3.2), và Epi Calc 2000 và SPSS.
Đánh giá kết quả các dấu ấn ung thư
- CEA: bình thường < 5 ng/ml, tăng khi ≥ 5 ng/ml.
- Cyfra 21-1: bình thường < 3,3 ng/ml, tăng khi ≥ 3,3 ng/ml.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung nhóm nghiên cứu
Bảng 3.1: Phân bố bệnh nhân theo tuổi và giới
| Giới
Tuổi |
Nam | Nữ | Tổng | |||
| n | % | n | % | n | % | |
| ≤ 40 | 1 | 5,88 | 1 | 04,35 | 2 | 5,00 |
| 41- ≤ 50 | 2 | 11,76 | 5 | 21,74 | 7 | 17,50 |
| 51 - ≤ 60 | 4 | 23,54 | 5 | 21,74 | 9 | 22,50 |
| 61 - ≤ 70 | 8 | 47,06 | 10 | 43,47 | 18 | 45,00 |
| > 70 | 2 | 11,76 | 2 | 08,70 | 2 | 05,00 |
| Tổng | 17 | 100 | 23 | 100 | 40 | 100 |
| p | p>0,05 | |||||
| ± SD | 61.12 ± 11.48 | 58.83 ± 9.14 | 59.8 ±10.13 | |||
| p | p>0,05 | |||||
Nhận xét:
- Không có sự khác biệt về lệ giữa nam và nữ.
- Tuổi trung bình của các bệnh nhân nghiên cứu là 59.8 ±10.13 ít nhất là 32 tuổi, già nhất là 80 tuổi. Ở cả 2 giới đều gặp tỷ lệ cao bệnh nhân trên 50 tuổi với 82,36% ở nam và 73,91% ở nữ giới. Không có sự khác biệt về trung bình độ tuổi giữa 2 giới.
3.2. Nồng độ nồng độ CEA, Cyfra 21-1 huyết tương và mối liên quan với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng.
3.2.1. Nồng độ CEA, Cyfra 21-1 huyết tương
Bảng 3.2: Kết quả nồng độ CEA và Cyfra 21-1
| Chỉ số | Min | Tứ phân vị 1 | Trung vị | Tứ phân vị 3 | Max |
| CEA
( ng/mL) |
1,79 | 6,44 | 18,94 | 58,07 | 1553,0 |
| Cyfra 21-1
( ng/mL) |
1,51 | 3,39 | 6,52 | 9,3 | 590,0 |
Nhận xét:
Nồng độ CEA thấp nhất là 1,79 ng/mL, cao nhất là 1553,0 ng/mL, giá trị trung vị là 18,94 ng/mL. Nồng độ Cyfra 21-1 thấp nhất 1,51 ng/mL, cao nhất là 590,0 ng/mL, giá trị trung vị là 6,52 ng/mL.
Bảng 3.3. Kết quả nồng độ CEA, Cyfra 21-1 theo giá trị tham chiếu
| Nồng độ CEA (ng/mL)
Nồng độ Cyfra 21-1 (ng/mL) |
Số lượng | Tỷ lệ % |
| CEA < 5 và Cyfra 21-1 < 3,3 | 4 | 10 |
| CEA < 5 và Cyfra 21-1 > 3,3 | 2 | 5 |
| CEA > 5 và Cyfra 21-1 < 3,3 | 8 | 20 |
| CEA > 5 và Cyfra 21-1 > 3,3 | 26 | 65 |
| Tổng | 40 | 100 |
Nhận xét: Bệnh nhân có nồng độ CEA, Cyfra 21-1 cao hơn giá trị tham chiếu chiếm tỷ lệ cao nhất (96,23%). Có 10% bệnh nhân có nồng độ CEA, Cyfra 21-1 trong giới hạn bình thường, 20% bệnh nhân có nồng độ CEA tăng nhưng Cyfra 21-1 bình thường và 5% có nồng độ Cyfra 21-1 tăng nhưng CEA bình thường.
3.2.2 . Liên quan giữa nồng độ CEA, Cyfra 21-1 huyết tương với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
3.2.2.1. Liên quan giữa nồng độ CEA, Cyfra 21-1 huyết tương với tuổi
Bảng 3.4. Tương quan giữa CEA và Cyfra 21-1 với tuổi
| Chỉ số | r | p |
| CEA | 0,25 | > 0,05 |
| Cyfra 21-1 | 0,23 | > 0,05 |
Nhận xét: Không có mối tương quan giữa nồng độ CEA, Cyfra 21-1 với tuổi (p>0,05).
3.2.2.2. Liên quan giữa nồng độ CEA, Cyfra 21-1 huyết tương với giới tính
A![]() |
B![]() |
| Hình 3.1. Liên quan giữa CEA, Cyfra 21-1 và giới (A và B) | |
Nhận xét: Nồng độ CEA ở nam cao hơn nữ tuy nhiên sự khác biệt về nồng độ CEA trung bình giữa nam và nữ không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Nồng độ Cyfra 21-1 trung bình ở nam cao hơn nữ và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
3.2.2.3. Liên quan giữa nồng độ CEA, Cyfra 21-1 huyết tương với kích thước
A![]() |
B![]() |
| Hình 3.2. Liên quan giữa CEA, Cyfra 21-1 và kích thước khối u (cm)
(A và B) |
|
Nhận xét: Nồng độ CEA, Cyfra 21-1 của nhóm có kích thước khối u > 3 cm cao hơn nhóm có kích thước ≤ 3 cm tuy nhiên sự khác biệt này khồng có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.2.2.4. Tương quan nồng độ CEA và Cyfra 21-1 huyết tương

Biểu đồ 3.3. Mối tương quan giữa CEA và Cyfra 21-1
Nhận xét: Có mối tương quan thuận chặt chẽ giữa nồng độ CEA và Cyfra 21-1 ở đối tượng nghiên cứu (r = 0,84, p < 0,05).
4. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Kết quả của chúng tôi thấy bệnh nhân nghiên cứu có độ tuổi cao, tỷ lệ bệnh nhân >50 tuổi chiếm 82,36 %, trong đó độ tuổi từ 61-70 chiếm tỷ lệ cao nhất 45%. Tuổi trung bình của bệnh nhân nghiên cứu là 59.8 ±10.13, trẻ nhất là 32 tuổi, già nhất là 80 tuổi. Ở cả 2 giới đều gặp tỷ lệ cao ở nhóm bệnh nhân trên 50 tuổi. Không có sự khác biệt về trung bình độ tuổi giữa 2 giới cũng như không có sự khác biệt về tỷ lệ giữa nam và nữ (bảng 3.1).
Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với nghiên cứu của một số tác giả như Benjamin Nisman trên 88 bệnh nhân có tuổi từ 42-90, tuổi trung bình là 62 [10] và Nguyễn Việt Hà, Đặng Văn Khoa (2013) tuổi trung bình: 58,9±6,4; nhóm tuổi mắc nhiều nhất là 50-69 chiếm 82,2%; tỷ lệ nam/nữ 9/1 [11]. Vậy kết quả về sự phân bố theo tuổi và giới của chúng tôi tương đương với các tác giả khác, cho thấy UTP gặp chủ yếu ở độ tuổi trên 50.
Theo thống kê của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (2015) ước tính có khoảng 221,200 người mới mắc ung thư phổi, trong đó nam giới 115.610 ca (chiếm 52,3%), nữ giới 105.590 ca (chiếm 47,7%). Theo thống kê về dịch tễ học, ở Việt Nam và các nước trên thế giới, tỷ lệ mắc ung thư phổi giữa nam và nữ có sự khác biệt rõ rệt [2], [12]. Kết quả nghiên cứu có khác biệt với các thống kê trên. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nam và nữ khác biệt không có ý nghĩa thống kê, có thể vè cỡ mẫu nghiên cứu nhỏ nên chưa thấy được sự khác biệt.
4.2. Nồng độ nồng độ CEA, Cyfra 21-1 huyết tương và mối liên quan với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
4.2.1. Nồng độ CEA và Cyfra 21-1 huyết tương
Kết quả của chúng tôi cho thấy nồng độ CEA, Cyftra 21-1 trong huyết tương có trung vị lần lượt là 18,94 ng/ml và 6,94 ng/ml. Tỷ lệ BN trước điều trị có nồng độ CEA > 5 ng/ml và Cyfra 21-1 > 3,3 ng/ml là 65 %. Tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ Cyfra 21-1 > 3,3 ng/ml là 70%, có nồng độ CEA > 5 ng/ml là 85% (bảng 3.2). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của một số tác giả trên thế giới.
Sone. K. và CS (2017) khi nghiên cứu trên 100 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ trước hóa trị thấy rằng có 61% bệnh nhân có nồng độ CYFRA 21-1 huyết tương > 3,5 ng / ml, 89% bệnh nhân có nồng độ CEA > 5,0 ng / ml. Nồng độ CEA trung bình (ng/ml) là 14.1 (0.7-5235.5), nồng độ Cyfra 21-1 trung bình (ng/ml) là 5.0 (0.5-684.0) [13].
Tác giả Takeuchi, A. Và CS (2017), nghiên cứu trên 95 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ thu được kết quả: có 45.2% số bệnh nhân có nồng độ CYFRA 21-1 huyết tương > 3,5 ng / ml, 72.6% bệnh nhân có nồng độ CEA > 5,0 ng / ml. Nồng độ CEA trung bình (ng/ml) là 15.6 (1.1-4609), nồng độ Cyfra 21-1 trung bình (ng/ml) là 3.2 (0.6-83.6) [14].
Các kết quả nghiên cứu trên chỉ ra rằng CEA và CYFRA 21-1 trong huyết tương là các dấu ấn khối u đáng tin cậy để chẩn đoán ung thư phổi khi sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với hình ảnh chụp cắt lớp vi tính.
4.2.2. Liên quan giữa nồng độ CEA và Cyfra 21-1 với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
4.2.2.1. Liên quan giữa nồng độ CEA và Cyfra 21-1 huyết tương với tuổi và giới
Mối liên quan giữa CEA và Cyfra 21-1 với tuổi đươc thể hiện trong bảng 3.4. Chúng tôi không tìm được mối tương quan giữa nồng độ CEA và Cyfra 21-1 với tuổi. Biểu đồ 3.1 (A,B) thể hiện mối liên quan giữa nồng độ CEA và Cyfra 21-1 với giới tính. Qua hai biểu đồ cho thấy không có mối liên quan giữa nồng độ CEA với giới tính, tuy nhiên lại có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ Cyfra 21-1 giữa nam và nữ ( p < 0,05). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có sự khác biệt so với một số tác giả như:
Nghiên cứu của Bei.Y và CS năm 2016 [15] nghiên cứu trên 104 bệnh nhân ung thư phổi thấy rằng nồng độ CEA huyết tương trước khi hóa trị ở nữ cao hơn ở nam (P <0,05), trong khi CYFRA21-1 cho thấy không có sự khác biệt thống kê với giới tính, tuổi tác và giai đoạn lâm sàng. CEA thiếu sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm tuổi khác nhau.
Tác giả Jiasi Wang và CS năm 2019 khi nghiên cứu trên 213 bệnh nhân ung thư phổi thấy rằng độ tuổi và giới tính không liên quan đến hiệu suất đánh giá của CEA [16].
Những kết quả nghiên cứu trên cho thấy rằng, nồng độ các dấu ấn này không phụ thuộc vào tuổi hay giới tính. Điều này càng khẳng định giá trị của chúng khi sử dụng để chẩn đoán ung thư phổi.
4.2.2.2. Liên quan giữa CEA và Cyfra 21-1 với kích thước khối u trên cắt lớp vi tính
Kết quả mối liên quan giữa nồng độ CEA và Cyfra 21-1 với kích thước khối u trong nghiên cứu của chúng tối được thể hiện trong biểu đồ 3.2 (A,B). Nồng độ CEA và Cyfra 21-1 ở nhóm có kích thước khối u > 3.0 cm cao hơn so với nhóm kích thước khối u ≤ 3.0 cm. Tuy nhiên sự khác biệt về nồng giữa hai nhóm chưa có ý nghĩa thống kê (p>0.05). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng với một số tác giả như:
Tác giả Jiasi Wang và CS năm 2019 khi nghiên cứu trên 213 bệnh nhân ung thư phổi thấy kích thước của khối u không liên quan đến nồng độ CEA trong huyết tương, trên biểu đồ biểu thị kích thước khối u và nồng độ CEA cho thấy khi kích thước khối u tăng lên không kèm theo tăng nồng độ CEA [17].
Theo nghiên cứu của Kim, Y.C. và CS trên 124 bệnh nhân ung thư phổi thấy rằng nồng độ Cyfra 21-1 tăng theo giai đoạn ung thư phổi nhưng chưa tạo sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các giai đoạn khác nhau. Tuy nhiên nồng độ này lại khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm thuộc các giai đoạn < IIIb và ≥ IIIb [18].
Năm 2018, Zhong-qing Chen và CS khi khảo sát mối liên quan của các dấu ấn ung thư với giai đoạn ung thư phổi theo TNM thấy rằng Cyfra 21-1 có mối tương quan nhẹ (r=0.233) với giai đoạn theo T ở nhóm bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ còn CEA thì không có mối tương quan [71]. Điều này chứng tỏ rằng kích thước khối u có ảnh hưởng đến nồng độ Cyfra 21-1, nhưng chưa thấy mối liên quan rõ ràng.
4.2.2.2. Mối tương quan giữa CEA và Cyfra 21-1
Chúng tôi thấy rằng có mối tương quan thuận chặt chẽ giữa CEA và Cyfra 21-1 với hệ số tương quan r = 0.84, phương trình tương quan y = 0,2726x – 9,1172. Mối tương quan này có thể giải thích trên góc độ giải phẫu bệnh bởi 100% đối tượng nghiên cứu đều có kết quả giải phẫu bệnh là ung thư biểu mô tuyến. Một số tác giả đã chỉ ra phần lớn bệnh nhân mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ có nồng độ CEA, Cyfra 21-1 tăng cao đều có giải phẫu bệnh là ung thư biểu mô tuyến [19]. Như vậy, trong UTPKTBN có sự tăng đồng thời cả hai dấu ấn CEA và Cyfra 21-1. Điều này rất hữa ích trong việc kết hợp cả hai dấu ấn để tăng độ nhạy và độ đặc hiệu khi sử dụng để chẩn đoán ung thư phổi không tế bào nhỏ.
KẾT LUẬN
- Nồng độ CEA, Cyfra 21-1 tăng trong huyết tương bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ(UTPKTBN). Kết quả nồng độ CEA và Cyfra 21-1 phân tán quanh giá trị trung vị tương ứng là 18,94 và 6,52, trong đó có 65% bệnh nhân tăng đồng thời cả CEA và Cyfra 21-1.
- Giữa nồng độ CEA và Cyfra 21-1 ở bệnh nhân UTPKTBN có mối tương quan thuận mức độ chặt (r = 0,84, p < 0,05).
- Nồng độ Cyfra 21-1 khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ.
- Không tìm được mối liên quan giữa nồng CEA và Cyfra 21-1 với tuổi và kích thước khối u.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Parkin D.M.(2004), International variation. Oncogene, 2004. 23(38): p. 6329-40.
- Nguyễn Bá Đức và CS (2006), Tình hình ghi nhận ung thư giai đoạn 2001-2004 qua ghi nhận ung thư tại 5 tỉnh thành Việt Nam. Tạp chí Y học thực hành, Bộ Y tế: p. 9-17.
- Hoàng Đình Chân (2004), Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị ung thư phổi tại Bệnh viện K. Tạp chí Y học thực hành, Số 489, Bộ Y tế: p. 147-49.
- Parkin D.M., et al (2005), Global cancer statistics, 2002. CA Cancer J Clin, 2005, 55(2): p. 74-108.
- Jemal A. et al (2008), Cancer statistics, 2008. CA Cancer J Clin, 2008, 58(2): p. 71-96.
- Stupp R., et al (2004), Small cell lung cancer: state of the art and future perspectives. Lung cancer, 45(1): p. 105-17.
- Zhang T., et al (2019), Treatment of uncommon EGFR mutations in non-small cell lung cancer: new evidence and treatment. Transl Lung Cancer Res, 8(3): p. 302-316.
- Nguyễn Hải Anh (2007), Nghiên cứu giá trị của Cyfra 21-1 và CEA trong chẩn đoán và theo dõi ung thư phế quản nguyên phát. Luận án tiến sỹ y học, Đại học Y Hà Nội.
- Nguyễn Việt Cồ (1996), Nghiên cứu phòng chống ung thư phổi phế quản. Tổng hội Y Dược học Việt Nam.
- Nisman, B., et al., The diagnostic and prognostic value of ProGRP in lung cancer. Anticancer Res, 2009. 29(11): p. 4827-32.
- Nguyễn Việt Hà và CS, Đánh giá hiệu quả phác đồ Paclitaxel - Cisplatin trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn IIIB- IV. Tạp chí Y học thực hành (873) 2013. 6: p. 28-31.
- Phạm Hoàng Anh, Nguyễn Hoài Nga, and Trần Hồng Trường, Tình hình ung thư ở Hà Nội giai đoạn 1996-1999. Tạp chí Y học thực hành số 431, 2002. Bộ Y tế: p. 4-12.
- Sone, K., et al., CYFRA 21-1 as a Predictive Marker for Non-small Cell Lung Cancer Treated with Pemetrexed-based Chemotherapy. Anticancer Res, 2017. 37(2): p. 935-939.
- Takeuchi, A., et al., Predictive and Prognostic Value of CYFRA 21-1 for Advanced Non-small Cell Lung Cancer Treated with EGFR-TKIs. Anticancer Res, 2017. 37(10): p. 5771-5776.
- Bei, Y., K. Liu, and M. Lu, Dynamic monitoring serum CEA and CYFRA21-1 during chemotherapy in patients with advanced lung adenocarcinoma and assessment of prognosis. 9: p. 3660-3665.
- Wang, J., et al., The clinical value of carcinoembryonic antigen for tumor metastasis assessment in lung cancer. PeerJ, 2019. 7: p. e7433.
- Kim, Y.C., et al., A comparison of serum CYFRA 21-1 and SCC Ag in the diagnosis of squamous cell lung carcinoma. Korean J Intern Med, 1996. 11(1): p. 50-7.
- Chen, Z.-q., L.-s. Huang, and B. Zhu, Assessment of Seven Clinical Tumor Markers in Diagnosis of Non-Small-Cell Lung Cancer. Disease Markers, 2018. 2018: p. 9845123.
- Matsuoka, K., et al., Prognostic value of carcinoembryonic antigen and CYFRA21-1 in patients with pathological stage I non-small cell lung cancer. Eur J Cardiothorac Surg, 2007. 32(3): p. 435-9.
Phạm Văn Trân, Huỳnh Quang Thuận, Nguyễn Thị Thu Hiền
Khoa Sinh hóa, BVQY 103
















