Trang chủ Thông tin y khoa Tin tức y khoa Bài báo y học Nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ tiêu sinh học ở máu của bệnh nhân ung thư sau xạ trị

Nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ tiêu sinh học ở máu của bệnh nhân ung thư sau xạ trị

T6, 09/10/2020

 

 

TÓM TẮT

1. Mục tiêu: Xác định biến đổi của tế bào máu ngoại vi ở những bệnh nhân sau xạ trị ung thư. Tìm hiểu mối liên quan giữa vị trí, liều chiếu xạ với sự biến đổi của tế bào máu ngoại vi.

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

Bệnh nhân điều trị ung thư tại khoa A7 và K71, được xạ trị tại K71- Bệnh viện 103 từ 6/2011- 4/2012, được lựa chọn và phân tích sự thay đổi các dòng tế bào máu ngoại vi trước và sau chiếu xạ theo thường quy kỹ thuật.

Các phương pháp chiếu xạ: Tuỳ thuộc chẩn đoán, bệnh nhân được xạ trị theo chỉ định. Xác định công thức máu ngoại vi: số lượng, công thức bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu và hình thái của chúng.

3. Kết quả nghiên cứu:

Trước chiếu xạ: không có bệnh nhân nào thiếu máu, các chỉ số của dòng hồng cầu bình thường. Sau chiếu xạ giá trị trung bình số lượng hồng cầu và huyết sắc tố của bệnh nhân giảm có ý nghĩa thống kê so với trước xạ. 33/37 bệnh nhân (89,19%) có thiếu máu. Tỷ lệ hồng cầu lưới (HCL) vẫn trong giới hạn bình thường, tuy nhiên, sau xạ trị, tỷ lệ HCL/máu trung bình giảm có ý nghĩa thống kê so với trước điều trị.

Sau xạ trị, số lượng trung bình của bạch cầu giảm so với trước xạ (5,58±2,86; 8,63±3,61) (p<0,05). Mặc dù giá trị trung bình của bạch cầu vẫn trong giới hạn bình thường nhưng có 30/39 bệnh nhân giảm bạch cầu (số lượng bạch cầu < 4G/L). Sau xạ, tỷ lệ trung bình của bạch cầu neutron (N) tăng có ý nghĩa thống kê so với trước xạ (p<0,05), tuy nhiên số lượng tuyệt đối của N trước và sau xạ không khác biệt có ý nghĩa, 32/39 bệnh nhân có số lượng tuyệt đối của bạch cầu Neutro trong giới hạn bình thường. Dòng bạch cầu lympho (L) sau xạ giảm cả tỷ lệ và số lượng tuyết đối so với trước xạ, sự khác biệt có ý nghĩa với p<0,05. 18/37 bệnh nhân giảm số lượng tuyệt đối dòng lympho.

Dòng tiểu cầu không thay đổi trước và sau xạ (270,18±131,90; 280,91±68,06).

Tế bào Lympho kích thước lớn, dạng chuyển dạng (tế bào lympho kích thích) gặp 10/37 bệnh nhân sau xạ chiếm 27,02%.

Biến đổi số lượng dòng hồng cầu và bạch cầu trong máu sau chiếu xạ chủ yếu tập trung ở những bệnh nhân chiếu xạ vùng ngực, thân mình và khung chậu. Biến đổi số lượng dòng hồng cầu và bạch cầu trong máu sau chiếu xạ chủ yếu tập trung ở những bệnh nhân chiếu xạ với liều trên 5000 Rad, tăng dần theo liều chiếu.

4. Kết luận:

Dòng hồng cầu, bạch cầu hạt ở máu ngoại vi giảm so với trước xạ trị (p<0,05), tuy nhiên vẫn trong giới hạn bình thường.

Dòng tiểu cầu ít thay đổi. Dòng bạch cầu lympho giảm cả tỷ lệ và số lượng tuyết đối so với trước xạ (p<0,05). 18/37 bệnh nhân giảm số lượng tuyệt đối dòng lympho. Biến đổi hình thái của dòng tế bào lympho là lympho kích thích, 2 nhân, dạng chuyển dạng.

Biến đổi các dòng tế bào máu ngoại vi của bệnh nhân sau chiếu xạ điều trị ung thư không gặp ở bệnh nhân chiếu xạ vùng đầu cổ. Không gặp trường hợp có những biến đổi tế bào máu và tủy xương với tổng liều chiếu dưới 5000 Rad.

* Từ khoá: Xạ trị, ung thư, hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu.

ABSTRACT

STUDY THE CHANGE OF THE KINDS OF BLOOD CELLS IN THE PATIENTS AFTER CANCER RADIATION THERAPY

1. Purpose:

To assess the changes of the kinds of blood cells in the patients after cancer radiation therapy. Study related between place and dose radiation with the changes of blood cells.

2. Patient and method:

Cancer patients was treated in A7 and K71 Department, cancer radiation therapy in K71- 103 Hospital from 6/2011 to 4/2012, was selected and Patients was tested blood cells before and after cancer radiation therapy on nomal rule technique.

Radiation methods: on diagnoses, patients were radiated on appointing. Study formula blood cells: quantity, the formula of white blood cell, erythrocyte, platenet and form of its.

3. Result:

Before cancer radiation therapy: There isnot any patients with anaemia, the index of erythrocyte was normal. After cancer radiation therapy, the mean of erythrocyte and hemoglobin decreased a significant with the group before cancer radiation therapy. 33/37 patients (89,19%) were anaemia. The rate of pro-erythrocyte still in normal confines. Hoever, after cancer radiation therapy, the rate of pro-erythrocyte/blood deceased a significant with before cancer radiation therapy.

After cancer radiation therapy, the mean of WBC decreased with before cancer radiation therapy (5,58±2,86; 8,63±3,61) (p<0,05), however, the mean quantity of WBC still in normal confines but 30/39 patients decreased WBC. After cancer radiation therapy, the mean rate of N increases a significant, the strict number of N isnot different to compare before and after radiation. 32/39 patients had the strict number of N in normal confines. Lyphocyte decreases both the rate and quantity when compare with before radiation (p<0,05), 18/37 patients decreased quantity.

Platelet didnot alter before and after radiation (270,18±131,90; 280,91±68,06). Large lymphocyte, stimulus lymphocyte got of 10/37 patients after radiation (27,02%).

The change the number of WBC and RBC after radiation the main to find the patients were radiated in chest, body and pelvis radiation, There is no significant difference  between the change the number of cells blood when dose under 5000 Rad.

4. Conclusion:

WRC, WBC decreased with before cancer radiation therapy (p<0,05), however still in normal confines.

Platenet didnot alter. Lymphocyte decreased both the rate and the quantity, compare with before radiation (p<0,05). 18/37 patients decreased the strict quantity of lymphocyte. The change of the form of lymphocyte was stimulus lymphocyte, 2 nuclears.

The change the number of WBC and RBC after radiation the main to find the patients were radiated in chest, body and pelvis radiation. There is no significant difference  between the change the number of cells blood when dose under 5000 Rad.

  • Key word: radiation, cancer, WBC, RBC, platelet.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Xạ trị có thể thực hiện chiếu xạ ngoài từ xa, xạ trị áp sát tổ chức bệnh lý hoặc có thể thực hiện bằng phép chiếu trong. Các tổ chức sinh học trong cơ thể khi bị chiếu xạ, các tia phóng xạ gây hiện tượng ion hoá thông qua cơ chế tác động trực tiếp hoặc gián tiếp.

Độ nhạy cảm phóng xạ phụ thuộc vào loại tế bào, giai đoạn sinh trưởng, mức độ biệt hoá và hoàn chỉnh cấu trúc của nó. Hậu quả của chiếu xạ là tế bào của tổ chức cơ quan bị tổn thương hoặc bị chết. Cơ quan trong cơ thể bị thay đổi cấu trúc, rối loạn chức năng. Nó không những xảy ra ở tế bào bệnh mà có thể xảy ra ở cả tế bào lành nếu các tế bào này nằm trong trường chiếu.

Trong điều trị, những tác dụng không mong muốn của xạ trị ung thư có thể ảnh hưởng đến các tế bào máu ngoại vi. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm: Đánh giá những biến đổi về hình thái của tế bào máu ở những bệnh nhân sau xạ trị ung thư; tìm hiểu mối liên quan giữa vị trí, liều chiếu xạ với sự biến đổi của tế bào máu ngoại vi.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng và địa điểm nghiên cứu: Bệnh nhân điều trị ung thư tại khoa A7 và K71, được xạ trị tại K71- Bệnh viện 103 năm 6/2011- 4/2012, không phân biệt giới, tuổi từ 18-60.

Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang kết hợp tiến cứu.

Xét nghiệm công thức máu (trước và sau chiếu xạ) theo “Thường qui kỹ thuật”. Tùy thuộc chẩn đoán, bệnh nhân được xạ trị theo chỉ định.

Số liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê y học trên phần mềm Epiinfo 6.0.

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1- Biến đổi các dòng tế bào máu của bệnh nhân sau chiếu xạ

Nhận xét:

- Trước chiếu xạ: Không có bệnh nhân nào thiếu máu, các chỉ số của dòng hồng cầu bình thường.

- Sau chiếu xạ giá trị trung bình số lượng hồng cầu và huyết sắc tố của bệnh nhân giảm có ý nghĩa thống kê so với trước xạ. 33/37 bệnh nhân (89,19%) có thiếu máu.

- Tỷ lệ hồng cầu lưới (HCL) vẫn trong giới hạn bình thường, tuy nhiên, sau xạ trị, tỷ lệ HCL/máu trung bình giảm có ý nghĩa thống kê so với trước điều trị.

Nhận xét:

- Sau xạ trị, số lượng trung bình của bạch cầu giảm so với trước xạ, sự khác biệt có ý nghĩa với p<0,05. Mặc dù giá trị trung bình của bạch cầu vẫn trong giới hạn bình thường nhưng có 30/39 bệnh nhân giảm bạch cầu (số lượng bạch cầu < 4G/L).

- Sau xạ, tỷ lệ trung bình của bạch cầu neutron (N) tăng cao có ý nghĩa thống kê so với trước xạ (p<0,05), tuy nhiên số lượng tuyệt đối của N trước và sau xạ không khác biệt có ý nghĩa, 32/39 bệnh nhân có số lượng tuyệt đối của bạch cầu Neutro trong giới hạn bình thường.

- Dòng bạch cầu lympho (L) ở máu bệnh nhân sau xạ giảm cả tỷ lệ và số lượng tuyết đối so với trước xạ. Sự khác biệt có ý nghĩa với p<0,05. 18/37 bệnh nhân giảm số lượng tuyệt đối dòng lympho.

- Dòng tiểu cầu không thay đổi trước và sau xạ

Nhận xét: Sự biến đổi hình thái chủ yếu được nhận thấy ở dòng tế bào lympho, gặp nhiều lympho kích thước lớn, dạng chuyển dạng.

Dòng bạch cầu lympho (L) ở máu bệnh nhân sau xạ giảm cả tỷ lệ và số lượng tuyết đối so với trước xạ. Sự khác biệt có ý nghĩa với p<0,05. 18/37 bệnh nhân giảm số lượng tuyệt đối dòng lympho. Sự biến đổi hình thái chủ yếu được nhận thấy ở dòng tế bào lympho, gặp nhiều lympho kích thước lớn, dạng chuyển dạng.

Kết quả nghiên cứu trên theo chúng tôi là hợp lý vì theo ghi nhận của nhiều nghiên cứu khác rằng tính nhạy cảm phóng xạ của tế bào máu xếp theo thứ tự giảm dần như sau: lympho bào trong bệnh bạch cầu > bạch cầu hạt trong bệnh bạch cầu > hồng cầu trong bệnh Vaquez > lympho bào thường > hồng cầu bình thường > bạch cầu hạt bình thường > monocyte bình thường > plasmocyte bình thường. Tiểu cầu có độ nhạy cảm phóng xạ tương đương bạch cầu hạt bình thường.

Tổ chức lympho rải rác khắp trong cơ thể, chiếm khoảng 1% trọng lượng cơ thể và gồm nhiều vùng khác nhau. Về vị trí có thể chia tổ chức lympho thành 3 vùng: Vùng tủy, vùng cơ quan bạch huyết trung tâm và vùng ngoại biên. Các lymphocyte thuộc các vùng này không có sự khác biệt nào về mặt hình thái nhưng rất khác nhau về mặt sinh lý học. Theo các công trình nghiên cứu thực nghiệm  đối với lymphocyt đánh dấu thì: Lymphocyt tủy xương có tác dụng kích thích một phần tủy xương và tuyến ức, nhưng không có tác dụng kích thích lymphocyt tại hạch hoặc máu. Teo tuyến ức và hạch do tia xạ đều có thể phục hồi nhờ các lymphocyt tại tủy. Tuy nhiên, khi tủy bị tổn thương thì quá trình này bị ảnh hưởng.

Sự thay đổi công thức máu có ý nghĩa lớn trong việc theo dõi ảnh hưởng của bức xạ ion hóa đối với sức khỏe người tiếp xúc. Tế bào máu và cơ quan tạo máu có độ nhạy cao với chất phóng xạ nhất là tế bào lympho.

Nordenson và cộng sự (1980) nghiên cứu trên 1556 người tiếp xúc phóng xạ thấy công thức bạch cầu chuyển trái, xuất hiện lympho to.

Sau khi được xạ trị, công thức máu của bệnh nhân thường bị thay đổi. Sớm nhất là các dòng bạch cầu bị giảm, kế đến là tiểu cầu và hồng cầu. Trong nghiên cứu của chúng tôi, các dòng tế bào trên đều bị ảnh hưởng, tuy nhiên, về mặt biến đổi hình thái tế bào, chúng tôi nhận thấy biểu hiện rõ hơn ở dòng bạch cầu đa nhân, điều này có thể do thời gian nghiên cứu của chúng tôi còn ngắn.

3.2- Liên quan giữa biến đổi các dòng tế bào máu ngoại vi với liều chiếu và vị trí chiếu xạ.

Nhận xét: Biến đổi số lượng dòng hồng cầu và bạch cầu trong máu sau chiếu xạ chủ yếu tập trung ở những bệnh nhân chiếu xạ vùng ngực, thân mình và khung chậu.

Nhận xét: Biến đổi số lượng dòng hồng cầu và bạch cầu trong máu sau chiếu xạ chủ yếu tập trung ở những bệnh nhân chiếu xạ với liều trên 5000 Rad, tăng dần theo liều chiếu.

Đối với người trưởng thành, tủy tạo máu tập trung chủ yếu tại xương ức, xương chậu, xương sống, các xương dẹt và đầu các xương dài. Như vậy, nếu các vùng xương này bị chiếu xạ hoặc  bị ảnh hưởng do nằm trên đường đi của tia thì tủy xương  sẽ bị  ảnh hưởng. Do vậy mà trong nghiên cứu của chúng tôi, các dòng hồng cầu, bạch cầu máu ngoại vi cũng bị ảnh hưởng nhiều hơn khi chiếu xạ tại những vùng tuỷ xương có chức năng tạo máu nhiều nhất.

Trong nghiên cứu này, những bệnh nhân có giảm số lượng dòng hồng cầu, bạch cầu chủ yếu ở những bệnh nhân có liều tổng trên 5000 Rad, như vậy rõ ràng khi liều trên 5000 Rad có tác dụng điều trị tốt hơn nhưng lại ảnh hưởng đến tế bào máu ngoại vi, vì vậy trên lâm sàng chúng ta phải cân nhắc liều tác dụng và tác dụng phụ của nó để có những biện pháp điều trị hỗ trợ thích hợp.

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu huyết đồ của 37 bệnh nhân được xét nghiệm trước và sau chiếu xạ, chúng tôi rút ra một số kết luận:

Biến đổi của các dòng tế bào máu ngoại vi của bệnh nhân sau xạ trị ung thư: Dòng hồng cầu, bạch cầu hạt ở máu ngoại vi giảm so với trước xạ trị (p,005), tuy nhiên vẫn trong giới hạn bình thường. Dòng tiểu cầu ít thay đổi. Dòng bạch cầu lympho giảm cả tỷ lệ và số lượng tuyết đối so với trước xạ (p<0,05). 18/37 bệnh nhân giảm số lượng tuyệt đối dòng lympho. Biến đổi hình thái của dòng tế bào lympho là lympho kích thích, 2 nhân, dạng chuyển dạng.

Liên quan giữa biến đổi các dòng tế bào máu ngoại vi của bệnh nhân sau chiếu xạ điều trị ung thư với vị trí và liều chiếu: Biến đổi các dòng tế bào máu ngoại vi của bệnh nhân sau chiếu xạ điều trị ung thư không gặp ở bệnh nhân chiếu xạ vùng đầu cổ. Không gặp trường hợp có những biến đổi tế bào máu với tổng liều chiếu dưới 5000 Rad.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Mai Anh, Lê Đức Mạnh, Hồ Văn Cư (2008), Đánh giá kết quả Thyroglobulin và hình ảnh xạ trị toàn thân ở bệnh nhân Ung Thư tuyến giáp thể biệt hóa đã phẫu thuật được xạ trị bằng I – 131. Y học thành phố Hồ Chí Minh, chuyên đề ung bướu học, phụ bản tập 12, 4, tr. 12-18.
  2. Bộ môn y học hạt nhân (2004), Học Viện Quân Y, Giáo Trình giảng dạy sau đại học. Nhà xuất bản quân đội nhân dân, Hà Nôi, tr. 221-232.
  3. Bộ môn Y học hạt nhân (2010), Ung thư đại cương.
  4. Bộ môn Y học hạt nhân (2005), Y học hạt nhân. Nhà xuất bản, Hà Nội, tr. 134–137.
  5. Nguyễn Bá Đức (2001). Thực hành xạ trị bệnh Ung Thư. NXB Y học, Hà Nội.
  6. Nguyễn Minh Hiếu (2001). Nghiên cứu tổn thương máu và cơ quan tạo máu ở người tiếp nghề nghiệp và động vật nhiễm độc thực nghiệm với Trinitrotoluen. Luận án tiến sĩ y học.
    1. Nguyễn Chấn Hùng (2004). Ung bướu học nội khoa. NXB Y học thành phố Hồ Chí Minh.
    2. D V Nostrand, J Neutze, F Atkins (1986). Nuclear Medicine Service, Uniformed Services University of Health Sciences, Walter Reed Army Medical, Washington, DC. Site Effects of  “Rational Dose” Iodine – 131 Therapy for Metastanic Well- Differentiated Thyroid Carcinoma. Journal of  Nuclear Medecine, 1986, Volume 27, pp 1519 – 1527.
    3. D F Yankelevitz, CI Henschke, L Nisce, Y Yi et al (1991). Effect of radiation therapy on thoracic and lumbar bone marrow: evaluation with MR imaging. American Journal - Am Roentgen Ray Soc.
    4. Friderman A. M (1987). Radionuclides in therapy. Boca Raton, Florida America, 1987.
    5. Goldenberg DM, Horowitz JA, Sharkey RM, et al (1991). Targeting, dosimetry, and radioimmunotherapy of B-cell lymphomas with iodine-131-labeled LL2 monoclonal antibody. J Clin Oncol 1991;9:548-564
      Web of Science | Medline
    6. Henkin R.E, et al (1986). Nuclear Medicine. Mosby, 1986.
    7. Harbert J, et al (1984). Texbook of Nuclear Medicine. Lea & Febiger, Philadelphia, 1984.
    8. I Nordenson, G Beckman, L Beckman, R Lemperg in Hereditas (1980), Chromosomal aberrations in children exposed to diagnostic X-rays.
    9. W P Peters, M Ross, J J Vredenburgh et al (1993). High-dose chemotherapy and autologous bone marrow support as consolidation after standard-dose adjuvant therapy for high-risk primary breast cancer. American Society of Clinical Oncology.

 

Nghiêm Thị Minh Châu, Nguyễn Văn Bằng và cs.

Bộ môn khoa Máu- Độc xạ và Bệnh nghề nghiệp - BVQY 103

Nguyễn Kim Lưu, Trần Đình Thiết và cs.

Bộ môn khoa Y học hạt nhân - BVQY 103

Dịch vụ thiết kế website wordpress