Trang chủ Thông tin y khoa Tin tức y khoa Bài báo y học Nghiên cứu nồng độ Homocysteine huyết tương ở bệnh nhân mắc bệnh Parkinson

Nghiên cứu nồng độ Homocysteine huyết tương ở bệnh nhân mắc bệnh Parkinson

T6, 09/10/2020

 

TÓM TẮT

Cơ sở: Parkinson là bệnh hay gặp ở người cao tuổi, nồng độ homocysteine huyết tương có thể có liên quan tới bệnh nhân (BN) Parkinson. Mục tiêu: Nhận xét sự thay đổi nồng độ homocysteine huyết tương ở BN mắc bệnh Parkinson. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 40 BN Parkinson (19 nam, 21nữ) có tuổi mắc bệnh trung bình là 62,6 ± 8,78 và 30 đối tượng làm nhóm chứng. Định lượng nồng độ homocysteine huyết tương bằng phương pháp hóa miễn dịch đo độ đục. Kết quả: Nồng độ homocysteine huyết tương trung bình ở nhóm bệnh Parkinson và bệnh Parkinson có suy giảm nhận thức là 9,77 ± 4,44 và 11,39 ± 2,85μmol/l, cao hơn nhóm chứng có ý nghĩa. Nồng độ homocysteine huyết tương trung bình ở nhóm sử dụng L dopa là 10,16 ± 4,80 μmol/l cao hơn nhóm không dùng L dopa nhưng chưa có ý nghĩa thống kê. Kết luận: Nồng độ homocysteine huyết tương có thể tăng ở bệnh nhân Parkinson và bệnh Parkinson có suy giảm nhận thức.

Từ khóa: bệnh Parkinson,homocysteine huyết tương.

STUDIYNG PLASMA HOMOCYSTEINE CONCENTRATION IN PATIENTS

WITH PARKINSON'S DISEASE

ABSTRACT

Base: Parkinson's disease is common in the elderly, plasma homocysteine ​​concentrations may be related to the patient with Parkinson's disease. Objective: Reviews plasma homocysteine ​​levels in patients with Parkinson's disease. Subjects and Methods: 40 patients with Parkinson's (19 male, 21 female) with average age of 62.6 ± 8.78 and 30 subjects as controls. Quantification of plasma homocysteine ​​concentrations by immunohistochemistry method to measure turbidity. Results: The concentration of the average plasma homocysteine ​​in Parkinson's disease and Parkinson's disease with cognitive impairment was 9.77 ± 4.44 and 11.39 ± 2,85μmol / l, higher than the control group. Plasma homocysteine ​​concentrations average in the group used L dopa is 10.16 ± 4.80 μmol /l higher than the group not using the L dopa, but not statistically significant. Conclusion: plasma homocysteine ​​concentrations may be increased in patients with Parkinson's and Parkinson's disease with cognitive impairment.

Keywords: Parkinson's disease, plasma homocysteine.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh Parkinson là bệnh thường gặp trong nhóm bệnh do thoái hóa mạn tính tiến triển của hệ ngoại tháp đặc biệt là ở người cao tuổi. Homocysteine huyết tương là yếu tố nguy cơ đối với bệnh mạch máu và là yếu tố nguy cơ tương đối đối với bệnh sa sút trí tuệ và trầm cảm. Nguyên nhân thông thường gây tăng homocysteine huyết tương là thiếu axit folic và vitamine B12. Tuy vậy các BN bị bệnh Parkinson  có thể bị tăng homocysteine huyết tương do methyl hóa levodopa và dopamin bởi COMT, một enzym sử dụng S - adenosylmethionine như là một chất cho methyl và enzym này nhường adenosylhomocysteine. Vì adenosylhomocysteine được biến đổi nhanh thành homocysteine, nên điều trị bằng levodopa có thể làm cho BN bị tăng nguy cơ bị bệnh mạch máu, bệnh sa sút trí tuệ và trầm cảm do tăng mức homocysteine [48]. Việc đánh giá mối liên quan giữa nồng độ homocysteine huyết tương với lâm sàng và điều trị bệnh Parkinson có ý nghĩa quan trọng trong điều trị và tiên lượng bệnh.

Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến việc định lượng và đánh giá sự thay đổi nồng độ homocysteine huyết tương ở BN Parkinson.

Mục tiêu đề tài: Xác định nồng độ homocysteine huyết tương ở nhóm nghiên cứu

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Gồm 40 BN được chẩn đoán mắc bệnh Parkinson và 30 người không bị bệnh Parkinson có đặc điểm về tuổi, giới, học vấn tương tự nhóm bệnh, điều trị tại khoa Nội thần kinh – Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 8-2015 đến tháng 5-2016.

2.2. Tiêu chuẩn chọn BN nghiên cứu

Chọn BN theo tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng bệnh Parkinson của Hội Ngân hàng não thuộc Hội bệnh Parkinson Vương Quốc Anh.

Tiêu chuẩn chọn nhóm chứng Là các đối tượng BN đang điều trị tại khoa A4 - Bệnh viện Quân y 103 có độ tuổi, giới tương tự nhóm nghiên cứu.

Tiêu chuẩn loại trừ: Không mắc các bệnh có liên quan tới nguy cơ tăng nồng độ homocysteine huyết tương như: đột quỵ não, nội tiết, bệnh tim mạch, thận.

Nghiên cứu theo phương pháp tiến cứu, mô tả, cắt ngang, có đối chứng.

Đánh giá mức độ rối loạn vận động theo thang điểm thống nhất đánh giá bệnh Parkinson phần III (UPDRS).

Đánh giá giai đoạn bệnh theo Hoehn và Yahr.

Đánh giá chức năng nhận thức tổng quát: Sử dụng trắc nghiệm đánh giá trạng thái tâm trí tối thiểu của  Folstein (MMSE).

Định lượng nồng độ  homocysteine huyết tương: Nồng độ homocysteine huyết tương được định lượng lúc đói bằng phương pháp hóa miễn dịch đo độ đục, thực hiện tại Khoa Sinh hóa - Bệnh viện Quân y 103. Giá trị bình thường nồng độ homocysteine huyết tương theo khuyến cáo của nhà sản xuất là 5-15µmol/L.

2.3. Xử lý số liệu bằng phần mềm Excel 2010, Epi 2005.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Nhận xét: Tuổi của BN nghiên cứu chủ yếu phân bố ở lứa tuổi từ 50 trở lên chiếm 92,5%, trong đó lứa tuổi từ 60 - 69 có tỷ lệ cao nhất là 47,5%. Tuổi trung bình của nhóm bệnh là 62,6 ± 8,78. Sự khác biệt về tuổi giữa nhóm bệnh và nhóm chứng không có ý nghĩa thống kê với p>0,05.

 

Nhận xét: Tỷ lệ nữ mắc bệnh là tương đồng với  nam. Sự khác biệt về giới giữa nhóm bệnh và nhóm chứng không có ý nghĩa thống kê với p>0,05.

 

Nhận xét: Số lượng BN mắc bệnh chủ yếu ở giai đoạn II và III chiếm tỷ lệ 77,5%, trong đó cao nhất ở giai đoạn II (57,5%). Giai đoạn IV là ít nhất, có 3 BN chiếm 7,5%.

 

Nhận xét: Phần lớn BN bị bệnh ở mức độ vừa (60,0%), mức độ rất nặng không có BN nào, mức độ nhẹ và mức độ nặng đều có 8 BN chiếm tỷ lệ 20,0%.

 

Nhận xét:Nồng độ homocysteine trung bình ở nhóm bệnh là 9,77 ± 4,44μmol/l cao hơn nhóm chứng (5,80 ± 1,52 μmol/l), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001).

 

Nhận xét:Nồng độ homocysteine trung bình ở nam và nữ trong cả 2 nhóm bệnh và nhóm chứng là tương đồng nhau. Sự khác biệt nồng độ homocysteine giữa nam và nữ là không có ý nghĩa thống kê với p>0,05.

 

Nhận xét:Nồng độ homocysteine trung bình ở những BN có suy giảm nhận thức (11,39 ± 2,85μmol/l) cao hơn ở những BN không có suy giảm nhận thức (8,90 ± 4,93μmol/l), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05.

 

Nhận xét: Nồng độ homocysteine trung bình ở nhóm có sử dụng L- dopa (10,16 ± 4,80μmol/l) cao hơn ở nhóm không sử dụng L-Dopa (8,61 ± 3,06μmol/l), tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0,05.

4. BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung nhóm nghiên cứu

* Đặc điểm về tuổi và giới

Theo đa số tác giả, bệnh Parkinson là bệnh của người cao tuổi, thường khởi phát ở người trên 50 tuổi, tuổi hay gặp nhất là 60 - 70 tuổi. Cả nam và nữ đều mắc bệnh Parkinson tuy nhiên các tác giả cho rằng tỷ lệ nam mắc bệnh Parkinson cao hơn nữ. Có nhiều giả thiết được đưa ra nhưng nhìn chung các tác giả đều thống nhất ý kiến là có sự khác biệt giữa nam và nữ. Đặc biệt là hiệu quả bảo vệ của hormon  oestrogen đối với tế bào tiết dopamin, hơn nữa nam giới có nguy cơ tiếp xúc môi trường độc hại nhiều hơn nữ.

Nghiên cứu của chúng tôi thấy tuổi mắc bệnh của nhóm bệnh là 62,6 ± 8,78, tương tự so với các nghiên cứu trước đây. Chúng tôi chọn cách ngẫu nhiên thấy rằng số BN nam chiếm 47,5% số BN nữ là 52,5%, tỷ lệ nữ nhiều hơn nam. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có sự khác biệt với các nghiên cứu khác có thể do nhóm bệnh có cỡ mẫu nhỏ, thời gian thu nhận mẫu ngắn nên chưa đủ để thể hiện đặc điểm về phân bố giới tính của bệnh. Chúng tôi chọn nhóm chứng có tuổi trung bình và giới tương tự nhóm bệnh.

* Đặc điểm về mức độ bệnh và giai đoạn bệnh

Nhóm nghiên cứu chúng tôi thấy rằng: Giai đoạn I có 6 BN (15,0%); giai đoạn II: 23 BN (57,5%); giai đoạn III: 8 BN (20,0%); giai đoạn IV: 3 BN (7,5%). Về mức độ bệnh thì mức độ nhẹ có 8 BN (20,0%); mức độ vừa: 24 BN (60,0%) và mức độ nặng: 8 BN (20,0%)

Như vậy, số lượng BN đến khám và điều trị  ở giai đoạn II và III chiếm tỷ lệ cao (77,5%), mức độ nặng và vừa là 80%. Điều này chứng tỏ sự quan tâm cũng như sự hiểu biết về bệnh Parkinson trong cộng đồng còn chưa cao. Có lẽ do tâm lý người bệnh khi ở giai đoạn I, bệnh còn nhẹ chưa ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sinh hoạt hàng ngày nên thường muốn điều trị ngoại trú, điều trị không thường xuyên hoặc không điều trị. Khi bệnh tiến triển sang giai đoạn sau, bắt đầu có sự ảnh hưởng tương đối đến sinh hoạt hàng ngày, lúc đó BN mới đến viện điều trị. Đồng thời với sự tiến bộ của y học, việc điều trị và sử dụng các thuốc cũng làm chậm tiến triển của bệnh và kéo dài thêm thời gian ở mỗi giai đoạn bệnh, do đó số BN ở giai đoạn IV và V rất thấp (3 BN ở giai đoạn IV, không có BN ở giai đoạn V), các BN này chủ yếu do điều trị muộn và không thường xuyên.

Như vậy kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các tác giả trên.

4.3. Kết quả xét nghiệm nồng độ homocysteine huyết tương ở BN Parkinson

Từ bảng 3.5 đến 3.7 chúng tôi thấy nồng độ homocysteine trung bình ở nhóm bệnh là 9,77 ± 4,44µmol/L và nhóm chứng 5,80 ± 1,52µmol/L. Như vậy nồng độ homocysteine trung bình ở nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê với  p< 0,05. Ở cả hai nhóm thì nồng độ homocysteine ở nam và nữ là tương đương nhau. Trong nhóm bệnh, nồng độ homocysteine ở nhóm BN có suy giảm nhận thức (11,39 ± 2,85µmol/L) cao hơn ở những BN không có suy giảm nhận thức (8,90 ± 4,93µmol/L), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Zoccolella, Stefano và cs thấy rằng homocysteine ​​huyết tương có liên quan đến cả suy giảm nhận thức và sa sút trí tuệ. Các tác giả so sánh những BN có sa sút trí tuệ và không sa sút trí tuệ với nhóm khỏe mạnh và thấy nồng độ homocysteine cao hơn ở những BN bị bệnh Parkinson so với nhóm chứng (17,5 ± 10,2μmol/l so với 11 ± 4,1μmol/l; p <0.00001), tăng homocysteine cao hơn ở nhóm parkinson có sa sút trí tuệ  so với nhóm không có sa sút trí tuệ (20,7 ± 12,1μmol/l so với 15,8 ± 8,5μmol/l; p = 0,002).

Theo Gayle Helane Doherty (2013) [39] cho rằng Homocysteine có thể làm tăng mức độ stress ôxy hóa tế bào vì nó là một tác nhân oxy hóa mạnh theo đúng nghĩa của nó và có thể điều chỉnh các enzym chống oxy hóa.

Về ảnh hưởng của homocysteine đối với bệnh Parkinson, tác giả cho rằng chưa có sự thống nhất và cơ chế khá phức tạp. Trong một mô hình chuột của bệnh Parkinson, cho thấy rằng homocysteine có thể gây độc cho hệ thống dopaminergic, từ đó  homocysteine được tham gia vào cơ chế bệnh sinh của bệnh Parkinson [39].

Một nghiên cứu tại Đại học Trung tâm y tế Tây Nam Texas (2013) báo cáo về nồng độ homocysteine ​​cao ảnh hưởng đến BN Parkinson. Họ phát hiện ra rằng khoảng một phần ba trong số 97 BN có nồng độ homocysteine cao. Những BN này có suy giảm nhận thức hơn những người có homocysteine ​​bình thường. Các tác giả nghi ngờ nồng  độ homocysteine cao ​​có liên quan đến thuốc và được theo dõi trong quá trình điều trị [56].

Padraig E. và cs (2004) nghiên cứu 97 BN, các tác giả thấy rằng: Nhóm có nồng độ homocysteine  cao có độ tuổi cao hơn (68 so với 62 năm), nhưng có nồng độ vitamin B12 và folate trong huyết tương tương tự nhau (là các chất tham gia chuyển hóa homocysteine). Nhóm BN có tăng homocysteine máu bị trầm cảm hơn. Các tác giả kết luận BN bị bệnh Parkinson kèm tăng homocysteine ​​máu có nhiều khả năng bị trầm cảm và suy giảm nhận thức hơn so với BN homocysteine máu bình thường [53].

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi từ bảng 3.8 thấy rằng nồng độ homocysteine  ở nhóm có sử dụng L-dopa và không sử dụng L-dopa khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Điều này có thể giải thích do lượng BN còn ít, liều lượng sử dụng L-dopa thấp (200 – 400mg), thời gian sử dụng còn ngắn nên có thể chưa ảnh hưởng tới nồng độ homocysteine huyết tương.

Nghiên cứu về vấn đề này, Jung Han Yoon và cộng sự đã thấy nồng độ homocysteine cao hơn đáng kể ở những BN bị bệnh Parkinson có sử dụng L-dopa so với các nhóm chứng và nhóm không sử dụng L-Dopa [63].

John D.Rogers và cs (2003) thấy nồng độ homocysteine huyết tương trung bình cao hơn đáng kể ở những BN được điều trị bằng levodopa (16,1 ± 6,2μmol/l), so với BN chưa từng điều trị levodopa (12,2 ± 4,2μmol/l; p <0,001) [48].

KẾT LUẬN

Nghiên cứu 40 bệnh nhân mắc bệnh Parkinson có tuổi trung bình là 62,6 ± 8,78 và 30 đối tượng nhóm chứng, chúng tôi rút ra kết luận sau:

- Nồng độ homocysteine trung bình huyết tương ở nhóm bệnh là 9,77 ± 4,44μmol/l cao hơn nhóm chứng (5,80 ± 1,52μmol/l) có ý nghĩa thống kê nhưng vẫn ở trong giới hạn bình thường, không có sự khác biệt về nồng độ homocysteine giữa nam và nữ.

- Ở nhóm bệnh nhân Parkinson có rối loạn nhận thức thì nồng độ homocysteine huyết tương (11,39 ± 2,85μmol/l) cao hơn so với các bệnh nhân không có rối loạn nhận thức (8,90 ± 4,93μmol/l), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

- Nồng độ homocysteine trung bình ở nhóm bệnh nhân dùng L-dopa cao hơn nhóm không dùng L-dopa nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.

 

 

 

Tác giả:

Nhữ Đình Sơn, Nguyễn Bá Nam, Ngô Thị Phượng - khoa A4

 

 

Dịch vụ thiết kế website wordpress