TÓM TẮT
1. Mục tiêu: Xác định nhu cầu tư vấn của bệnh nhân bị bệnh lý ung thư nằm điều trị tại bệnh viện Quân y 103. Từ đó đề xuất những nội dung mà nhân viên y tế cần tư vấn cho bệnh nhân bị bệnh lý ung thư.
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có so sánh và phân tích
- Đối tượng: 110 bệnh nhân bị mắc bệnh lý ung thư đang điều trị tại Bệnh viện Quân y 103. Thời gian phỏng vấn từ tháng 11 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014. Đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn theo mẫu phiếu điều tra.
3. Kết quả:
Có 85,5% số người được hỏi cần tư vấn diễn biến bệnh; 83,6% cần tư vấn về cách chăm sóc trong quá trình điều trị tại bệnh viện; 78,2% quan tâm bệnh có khỏi được hay không; 74,5% muốn biết về phương thức điều trị; chi phí cho điều trị (33,6%). Đối tượng nghiên cứu cần phòng tư vấn riêng (80,0%); cần tư vấn về chuyên môn (94,5%). Thời điểm tư vấn thích hợp là khi vào khoa đã có chẩn đoán xác định (91,8%) và trước khi ra viện (74,5%). Đa số cần được tư vấn trực tiếp với bác sĩ điều trị (84,5%). Thời gian tư vấn tùy theo nhu cầu (90,9%). Các tư vấn là miễn phí (83,6%).
4. Kết luận:
Những vấn đề có nhu cầu tư vấn cao: tư vấn về diễn biến của bệnh, muốn biết bệnh có khỏi được hay không; những lưu ý khi chăm sóc bệnh nhân điều trị tại bệnh viện; phương pháp điều trị; cách chăm sóc bệnh nhân trong quá trình điều trị tại bệnh viện; chi phí điều trị. Một số yêu cầu về tư vấn điều trị: phòng tư vấn riêng; tư vấn về chuyên môn; thời điểm tư vấn thích hợp; cần được tư vấn trực tiếp với bác sĩ điều trị; thời gian tư vấn, các tư vấn là miễn phí.
ASTRACT
RESEARCH NEEDS UNDERSTANDING OF PATIENTS
WHICH TO HAVE CANCER
1. Purpose: To define needs understanding of patients that to have cancer, were treated at 103 hospital. From that point, to put forward contents that staff health need understanding to patients.
2. Subjects and research methods:
- Methods: interrupting description which have compare and analysis.
- Subjects: 110 patients to have cancer that were treated at 103 hospital. The time of interview from November, 2013 to May, 2014. Subjects were interviewed according to investigative blank.
3. Results: 85,5% patients need to needs understanding about happening of diseases; 78,2% patients were in a divided mind be well again or not; 83,6% patients need to needs understanding about paying attention to inpatients treatment; 74,5% patients were interested in treatment method; 33,6% patients need treatment expenditure; the subjects need private needs understanding department (80,0%); need professional needs understanding (94,5%); the time suitable needs understanding was in department which has define diagnosis (91,8%) and before coming out of hospital (74,5%); need direct needs understanding to attending physician (84,5%); needs understading for time (90,9%); needs understading is free (83,6%).
4. Conclusion: The questions have hight needs understanding: happening patients; be well again or not; to pay attention to inpatients treatment; treatment method; looking after inpatients treatment; treatment expenditure. A number of need about treatment needs understanding: private needs understanding department; professional needs understanding; the time suitable needs understanding; need direct needs understanding to attending physician; needs understading for time; needs understading is free.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh hiện nay: gánh nặng bệnh ung thư đã và đang trở thành một trong những thách thức không hề nhỏ trong công tác chăm sóc sức khỏe của ngành y tế. Thực tế trên đòi hỏi công tác phòng bệnh, chẩn đoán sớm, điều trị bệnh, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân ung thư cần có hiệu quả hơn nữa. Để nâng cao chất lượng điều trị cần nhiều yếu tố, trong đó đóng vai trò quan trọng là sự hợp tác giữa bệnh nhân với nhân viên y tế. Muốn có được sự hợp tác này, cần có lòng tin của bệnh nhân vào công tác điều trị, vào nhân viên y tế. Đồng thời họ cần có những hiểu biết nhất định về căn bệnh mà họ đang mắc phải. Những vấn đề trên đặt ra yêu cầu về cung cấp thông tin [10].
Năm 2008, Dự án Phòng chống Ung thư Quốc gia được triển khai với nội dung chính là truyền thông phòng bệnh, khám và sàng lọc phát hiện sớm ung thư tại cộng đồng nhằm cung cấp cho người dân những kiến thức cần thiết để phát hiện các dấu hiệu sớm của bệnh, các biện pháp phòng bệnh ung thư cũng như chăm sóc giảm nhẹ triệu chứng. Như vậy, nhu cầu về thông tin của cộng đồng nói chung, của bệnh nhân ung thư nói riêng đã phần nào được đáp ứng. Tuy nhiên, bệnh nhân mắc bệnh ung thư cũng phải trải qua quá trình điều trị tại các cơ sở y tế ở các tuyến khác nhau,do vậy họ cần những tư vấn cụ thể hơn, sát hơn với thực tế điều trị.
Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi về phòng chống ung thư [1], [2], [7],… Một số nghiên cứu về thái độ, nhận thức, quan điểm của bệnh nhân mắc bệnh ung thư về 1 vài vấn đề như: việc cung cấp thông tin cho bệnh nhân ung thư, vấn đề thông báo tin xấu,…[4], [6], [8]. Tuy nhiên,những nghiên cứu này cũng chỉ nghiên cứu ở những khía cạnh nhất định và ở những địa điểm cụ thể mà chưa có nghiên cứu nào về những vấn đề cần tư vấn của bệnh nhân mắc bệnh lý ung thư tại Bệnh viện Quân y 103.
Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu nhu cầu tư vấn của bệnh nhân bị bệnh lý ung thư”.
Mục tiêu: Xác định nhu cầu tư vấn của bệnh nhân bị bệnh lý ung thư nằm điều trị tại Bệnh viện Quân y 103. Từ đó đề xuất những nội dung mà nhân viên y tế cần tư vấn cho bệnh nhân bị bệnh lý ung thư.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Người bệnh đã được chẩn đoán xác định bệnh lý ung thưđang điều trị tại Bệnh viện Quân y 103.
- Tiêu chuẩnlựa chọn: Biết đọc, biết viết; có đủ sức khỏe tham gia phỏng vấn; đồng ý tham gia trả lời phỏng vấn; Không bị khuyết tật như điếc, mù, câm… hoặc các bệnh rối loạn tâm thần kinh như động kinh, trầm cảm…; có trách nhiệm pháp lý.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Không có đủ các tiêu chuẩn lựa chọn; bệnh nặng, không đủ sức khỏe tham gia phỏng vấn; từ chối tham gia phỏng vấn.
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh nhân bị mắc bệnh ung thư tại các khoa điều trị trong Bệnh viện Quân Y 103.
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 11 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang có so sánh và phân tích.
- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản: bệnh nhân bị mắc bệnh ung thư đang điều trị tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Quân y 103 nằm trong tiêu chuẩn lựa chọn và không nằmtrong tiêu chuẩn loại trừ được tư vấn, phát phiếu phỏng vấn, hướng dẫn và trả lời các câu hỏi trong phiếu phỏng vấn, sau đó phiếu phỏng vấn được thu lại.
- Phương pháp xử lý số liệu: bằng phần mềm thống kê y học EPI INFO 6.04
- Các chỉ tiêu nghiên cứu:
+ Đặc điểm đối tượng nghiên cứu: Giới tính; địa dư sống; tuổi; hoàn cảnh kinh tế; trình độ văn hóa; nghề nghiệp.
+ Các nhu cầu tư vấn của bệnh nhân:
. Tư vấn về khả năng điều trị.
. Tư vấn về khả năng lây truyền, di truyền bệnh ung thư
. Tư vấn về cơ sở điều trị chuyên khoa hiện nay tại Việt Nam
. Dự phòng ung thư
. Kinh phí cho tư vấn
- Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu: Đối tượng tự nguyện tham gia và có quyền từ chối tham gia nếu trong quá trình nghiên cứu cảm thấy không phù hợp; mọi thông tin cá nhân của bệnh nhân và thân nhân được giữ kín.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
- Tỷ lệ nam mắc ung thư (56,36%) cao hơn nữ (43,64%). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đương với số liệu ghi nhận tại trung tâm ung bướu Thái Nguyên trong 5 năm (2007-2011) [3], tại đây số bệnh nhân nam nằm điều trị nội trú là 57,3% cao hơn số bệnh nhân nữ (42,7%). Kết quả này cũng phù hợp với các ghi nhận ung thư tại nhiều trung tâm ung bướu trên toàn quốc.
- Bệnh nhân ở độ tuổi từ 50 đến 69 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (61,8%). Theo Vũ Xuân Hùng (2012) [3], thì tỷ lệ bệnh nhân điều trị nội trú chủ yếu ở lứa tuổi 40-59 (44,6%) và lứa tuổi ≥ 60 tuổi (44,1%). Các ghi nhận ung thư trên thế giới cũng cho biết độ tuổi phổ biến của căn bệnh ung thư là 40-60. Như vậy, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự với kết quả của Vũ Xuân Hùng và cs (2012) và các tác giả nước ngoài. Do ở độ tuổi này cấu trúc của tế bào có thể xuất hiện những biến đổi, quá trình sửa chữa các gen gây ung thư đã trải qua một thời gian dài và trở nên khó kiểm soát. Ở nữ giới, đây là độ tuổi của tiền mãn kinh và mãn kinh gây nên các rối loạn về nội tiết do đó nhiều phụ nữ đã dùng hormon thay thế trị chứng bốc hỏa, khô âm đạo và loãng xương lúc mãn kinh. Nhiều nghiên cứu cho thấy oestrogen tăng nguy cơ bị ung thư tử cung, ung thư vú khi dùng oestrogen liều cao kéo dài.
- Bệnh nhân ung thư có trình độ THCS và PTTH chiếm tỷ lệ cao nhất (29,1% và 39,1%), trình độ ĐH và sau ĐH chiếm tỷ lệ thấp (11,8% và 2,7%). Cũng tương đồng với kết quả ghi nhận ung thư tại thành phố Hà Nội, Huế, Hồ Chí Minh cho thấy: ở trình độ ĐH và sau ĐH chiếm 11,9%, trình độ THCS và PTTH là 79,5 %. Bên cạnh đó còn nhiều nghiên cứu khác cũng cho kết quả tương tự như trên [5]. Hiện nay do kinh tế phát triển, sự giao lưu rộng rãi, một phần bệnh nhân ung thư có trìnhđộ ĐH hoặc sau ĐH đã tìm một địa chỉ điều trị tại nước ngoài. Điều này đặt ra một thách thức cũng như một điều trăn trở cho những người làm chuyên ngành ung thư. Bằng cách nào đó để nâng cao trình độ chuyên môn mọi mặt đáp ứng yêu cầu khám, chẩn đoán và điều trị của bệnh nhân, để chuyên ngành tiến gần hơn với những tiến bộ của y học trong khu vực và thế giới
- Theo địa dư sống: Bệnh nhân ung thư có tỷ lệ sống ở nông thôn cao hơn thành phố (70% so với 30%). Theo chúng tôi điều này là hợp lý bởi địa điểm chúng tôi nghiên cứu là Bệnh viện Quân y 103, bệnh viện nằm trên địa bàn một quận ngoại thành, do vậy đối tượng phục vụ ngoài quân nhân thì bao gồm cả nhân dân quanh vùng.
- Hoàn cảnh kinh tế: bệnh nhân chủ yếu nằm ở hoàn cảnh kinh tế trung bình và nghèo (91,8%). Trong đó nhóm hoàn cảnh kinh tế trung bình chiếm tỷ lệ (70,0%). Nhóm hoàn cảnh kinh tế nghèo vẫn chiếm 21,8%. Các ghi nhận ung thư năm 2013 [5] cho thấy hoàn cảnh kinh tế của người được phỏng vấn: nghèo chiếm 23,7%, không nghèo chiếm 76,3%. Kết quả cũng khá tương đồng với nghiên cứu của chúng tôi. Đây là một vấn đề khó khăn cho việc điều trị bệnh. Mặc dù hiện nay nhiều thuốc điều trị ung thư mới ra đời, nhưng đa số giá thành còn cao, chưa phù hợp với thu nhập trung bình của người dân. Điều này đặt ra một thách thức cho cơ quan BHYT.
- Theo nghề nghiệp: nghề nghiệp làm ruộng chiếm tỉ lệ cao nhất (37,3%). Tỷ công chức chiếm thấp nhất (12,7%). Theo Nguyễn Văn Xáng và cs (2013) [9] cho thấy nghề nghiệp chủ yếu là nông dân và công nhân (31,0%), công chức chiếm 17,8%. Vì trên thực tế nước ta về cơ bản là nước nông nghiệp nên số người làm ruộng và công nhân chiếm tỷ lệ tương đối cao so với các ngành nghề khác. Ngoài ra, sự phân bố nghề nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào trình độ học vấn, hoàn cảnh kinh tế để đáp ứng với yêu cầu do từng nghề đặt ra.
3.2. Kết quả thu được theo từng nhóm nhu cầu

- Nhu cầu tư vấn về diễn biến bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất (85,5%).
- Nhu cầu tư vấn về thân nhân phải chăm sóc bệnh nhân như thế nào trong quá trình điều trị tại bệnh viện (83,6%).
- Bệnh có thể chữa khỏi được hay không (78,2%). Theo Nguyễn Văn Xáng và cs (2013) [9], số người được phỏng vấn không biết ung thư có thể chữa khỏi được hay không chỉ chiếm tỷ lệ 21,5%, thấp hơn so với tỷ lệ người có nhu cầu tư vấn trong nghiên cứu của chúng tôi. Theo chúng tôi, có thể đó là một nhu cầu mang tính chất giải tỏa tâm lý, bệnh nhân muốn khẳng định lại vấn đề.
- Quan tâm đến phương pháp điều trị (74,5%). Theo nghiên cứu của Đinh Trần Phương và cs [6], tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng các câu hỏi liên quan đến phương pháp điều trị là 90,77%. Bệnh nhân ít có nhu cầu tư vấn thêm vì họ biết khá rõ phương pháp điều trị đang áp dụng cho mình và không có nhu cầu tìm hiểu sâu thêm.
- Thời gian điều trị bao lâu (70%). Bệnh có ảnh hưởng tới việc sinh con hay không (70%).
- Dự phòng bệnh được hay không (69,1%). Theo Nguyễn Văn Xáng và cs (2010) [9] có 26,8% cho rằng ung thư không khó phòng ngừa; 50,8% ung thư rất khó phòng ngừa; 22,4% không biết ung thư có dự phòng được hay không; đáng lưu ý là có 1/4 tổng số đối tượng nghiên cứu tuyên bố rằng ung thư phổi không thể phòng ngừa được. Theo nhóm nghiên cứu (2013) [5] cho thấy có sự khác nhau về hiểu biết các bệnh ung thư phổ biến ở người dân, tỷ lệ đáng kể người dân hiểu biết về biện pháp phòng tránh ung thư phổi (85,0%) và ung thư gan (66,0%) nhưng lại thấp ở các bệnh phổ biến khác: ung thư cổ tử cung (34,1%),ung thư vú (40,0%), ung thư dạ dày (33,2%), ung thư đại - trực tràng (20,6%).
- Bệnh có lây truyền được hay không (59,1%). Theo Nguyễn Văn Xáng và cs (2013) [9]: có 59,2 % cho rằng ung thư không thể lây từ người này sang người khác, chỉ có 19% số người không biết ung thư có lây hay không lây, khá ngạc nhiên là có 21,8% cho rằng ung thư có thể lây. Vì có một tỷ lệ nhất định số người đã tìm hiểu về tính lây truyền của ung thư, nhưng vẫn muốn được tư vấn thêm, hoặc cũng có thể những thông tin tuyên truyền về ung thư trên các phương tiện truyền thông đã đến được với người dân, phần nào nâng cao nhận thức của họ. Theo khảo sát của Chương trình phòng chống ung thư quốc gia cho thấy 2/3 người dân hiểu sai về bệnh ung thư.
- Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân ít cần tư vấn về chi phí điều trị do đa số bệnh nhân đã mua BHYT và được BHYT chi trả phần lớn chi phí. Những chi phí phát sinh được thân nhân bệnh nhân thanh toán, và thường không cho người bệnh biết để người bệnh yên tâm điều trị.
- Về khả năng di truyền, có 62,7 % quan tâm: Theo Nguyễn Văn Qui (2010) [7] qua khảo sát kiến thức - thái độ - thực hành về phòng chống một số bệnh ung thư phổ biến trong cộng đồng thành phố Cần Thơ cho thấy 24,35% số người được phỏng vấn không biết ung thư vú có di truyền hay không. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ người cần được tư vấn về tính di truyền của ung thư cao hơn gần gấp 3 lần so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Qui. Điều này có thể do chúng tôi nghiên cứu trên nhiều mặt bệnh ung thư, ngoài ra còn do ảnh hưởng của các yếu tố trình độ học vấn, hoàn cảnh kinh tế, địa dư sống, sự hiểu biết về kiến thức ung thư ở những người có học vấn thấp, sống ở nông thôn, khó khăn về kinh tế nhìn chung còn thấp.
3.3. Mối liên quan giữa các kết quả thu được với đối tượng nghiên cứu

- Đa số bệnh nhân có nhu cầu về phòng tư vấn riêng với tỷ lệ lần lượt là 80,0%. Bệnh nhân rất quan tâm tới tư vấn về chuyên môn, tỷ lệ thấy cần tư vấn là 94,5%.

- Hầu hết bệnh nhân cho rằng: khi đã có chẩn đoán xác định thì đó là thời điểm thích hợp để tư vấn về bệnh (91,8%). Thời điểm quan tâm thứ hai để tư vấn là trước khi bệnh nhân ra viện (74,5%). Rất ít bệnh nhân cho rằng thời điểm bệnh nhân vào phòng khám là thích hợp cho việc tý vấn (9,1%).
- Về thời gian tối thiểu cho một lần tư vấn: bệnh nhân mong muốn tư vấn theo nhu cầu chiếm phần lớn (90,9%). Tỷ lệ mong muốn được tư vấn miễn phí chiếm tỷ lệ cao (83,6%), chỉ có 16,4% cho rằng cần trả phí cho việc tư vấn.

- Ở nhóm có trình độ ĐH và sau ĐH, nhu cầu tư vấn có chi phí chiếm tỷ lệ cao (93,7%). Nhu cầu tư vấn miễn phí ở nhóm có trình độ PTCS và THCS, PTTH chiếm tỷ lệ cao (100%; 93,8%; 97,7%). Do thực tế số bệnh nhân bị bệnh ung thư sống chủ yếu ở vùng nông thôn (70,0%) và có hoàn cảnh kinh tế nghèo hoặc trung bình (21,8% và 70,0%). Cũng theo ghi nhận của nhóm nghiên cứu ung thư (2013) [5] thì hoàn cảnh kinh tế của người được phỏng vấn: nghèo chiếm 23,7%; không nghèo chiếm 76.3%. Kết quả cũng khá tương đồng với nghiên cứu của chúng tôi. Ở nông thôn thường ít có điều kiện để học lên trình độ cao do điều kiện kinh tế còn khó khăn. Việc chi phí cho gia đình hằng ngày và điều trị bệnh ung thư rất tốn kém, vì vậy việc tư vấn miễn phí là điều họ mong muốn.

- Bệnh nhân muốn đuợc tư vấn trực tiếp với bác sĩ điều trị chiếm tỷ lệ cao nhất (84,5%); tiếp đến là qua sách báo, tờ rơi, tivi, mạng internet (44,5%).

- Ở trình độ PTTH và THCS có nhu cầu tư vấn trực tiếp với bác sĩ điều trị chiếm tỷ lệ cao nhất (35,6%, 30%). Hình thức tư vấn đối với những người có trình độ ĐH và sau ĐH khá đa dạng và tương đối đồng đều ở các hình thức.
KẾT LUẬN
1. Các nhóm nhu cầu
- Những vấn đề có nhu cầu tư vấn cao: Có 85,5% số người được hỏi cần tư vấn diễn biến bệnh; 83,6% cần tư vấn về cách chăm sóc trong quá trình điều trị tại bệnh viện; 78,2% quan tâm bệnh có khỏi được hay không; 74,5% muốn biết về phương thức điều trị.
- Những vấn đề có nhu cầu tư vấn thấp: Chi phí cho điều trị (33,6%); các cơ sở điều trị chuyên khoa tại Việt Nam (49,1%); chế độ chính sách (56,4%); khả năng lây (59,1%).
2. Yêu cầu về công tác tư vấn
Đối tượng nghiên cứu cần phòng tư vấn riêng (80,0%); cần tư vấn về chuyên môn (94,5%). Thời điểm tư vấn thích hợp là khi vào khoa đã có chẩn đoán xác định (91,8%) và trước khi ra viện (74,5%). Đa số cần được tư vấn trực tiếp với bác sĩ điều trị (84,5%). Thời gian tư vấn tùy theo nhu cầu (90,9%). Các tư vấn là miễn phí (83,6%).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
|
|
1.Bùi Diệu, Nguyễn Bá Đức, Nguyễn Hoài Nga và cs (2010), “Khảo sát kiến thức, thực hành về phòng một số bệnh ung thư phổ biến của cộng đồng dân cư tại 1 số tỉnh thành”, Tạp chí Ung thư học Việt Nam, 1, tr.118-128. |
|
|
|
2.Từ Quốc Hiệu, Trương Quang Vinh, Nguyễn Thị Thu Phương (2013), “Đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi về phòng chống ung thư người dân tỉnh Bắc Giang 2012”, Tạp chí ung thư học Việt Nam, 1, tr.65-71. |
|
|
|
3.Vũ Xuân Hùng (2012), “Cơ cấu bệnh nhân đến khám và điều trị tại trung tâm ung bướu Thái Nguyên 5 năm, giai đoạn (2007-2011)”, Tạp chí ung thư học Việt Nam, 4, tr.33-36. |
|
|
|
4.Lê Văn Đạt Nhân, Đặng Huy Quốc Thịnh, Nguyễn Minh Hùng và cs (2011), “Thông báo tin xấu: ý nghĩa và tầm quan trọng”, Tạp chí ung thư học Việt Nam, 3, tr.759-762. |
|
|
|
5.Nhóm nghiên cứu (2013),“Đánh giá nhu cầu truyền thông phòng chống ung thư cho cộng đồng tại Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí ung thư học Việt Nam, 1, tr.88-94. |
|
|
|
6.Đinh Trần Phương, Mai Trọng Khoa (2013), “Nghiên cứu kiến thức, thái độ của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân về việc cung cấp thông tin cho bệnh nhân ung thư”, Tạp chí ung thư học Việt Nam, 1, tr.412-418. |
|
|
|
7.Nguyễn Văn Qui (2010), “Khảo sát kiến thức - thái độ - thực hành về phòng chống một số bệnh ung thư phổ biến trong cộng đồng thành phố Cần Thơ (01/01/2008-31/12/2009)”, Tạp chí ung thư học Việt Nam, 1, tr.123-128. |
|
|
|
8.Cam Ngọc Thúy và cs (2010), “Quan điểm của bệnh nhân và thân nhân trong việc cung cấp các thông tin cho bệnh nhân ung thư”, Phụ san ung bướu học 4, tr.781-788. |
|
|
|
9.Nguyễn Văn Xáng và cs (2013), “Điều tra kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống bệnh ung thư trong cộng đồng dân cư tỉnh Khánh Hòa năm 2012”, Tạp chí Ung thư học Việt Nam, 1, tr.72-79. |
|
|
|
10.Thomas J. S., et al. (2010), “Giving honest information to patients with advanced cancer maintains hope”, Oncology, Vol 4, N06. |
|
TS. Nguyễn Văn Bằng, TS. Nghiêm Thị Minh Châu
PGS.TS Nguyễn Hoàng Thanh, BS Nguyễn Trọng Hà
Bộ môn-khoa Máu, Độc xạ và bệnh nghề nghiệp
Bệnh viện Quân y 103












