Trang chủ Thông tin y khoa Tin tức y khoa Bài báo y học Nghiên cứu hiệu quả hỗ trợ điều trị của Cytoflavin ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu bán cầu đại não

Nghiên cứu hiệu quả hỗ trợ điều trị của Cytoflavin ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu bán cầu đại não

T6, 09/10/2020

Tóm tắt:Nghiên cứu trên 119 bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não giai đoạn cấp: 59 bệnh nhân nhóm chứng được điều trị theo phác đồ cơ bản nhồi máu não theo khuyến cáo của Hội đột quỵ Thế giới; 60 bệnh nhân nhóm nghiên cứu được kết hợp thêm cytoflavin. Kết quả: tỷ lệ bệnh nhân có cải thiện mức độ lâm sàng theo thang điểm NIHSS là 84%: nhóm nghiên cứu 93,3%, cao hơn nhóm chứng (74,6%); tỷ lệ xuất hiện tác dụng không mong muốn nói chung ở nhóm nghiên cứu là 10%, cao hơn nhóm chứng (6,8%). Tuy nhiên, khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Các tác dụng không mong muốn đều ở mức độ nhẹ, thoáng qua và không để lại di chứng.

Summary: A study included 119 patients (59 patients in control group with current standard therapy according to WSO’s guideline and 60 patients in treated group received standard therapy plus Cytoflavin supplement treatment). Result: Total rate of patients improved in NIHSS score was 84%, in which 93.3% in Cytoflavin treated group and 74.6% in control group. The complication rate was 10% in treated group and 6.8% in the control group. However, the difference was not significant (p > 0.05), and the complications was mild and transient and did not result in permanent disabilities.

1. Đặt vấn đề

Đột quỵ não là bệnh lý có tỷ lệ tử vong cao, để lại nhiều di chứng nặng nề.

Cytoflavin của Hãng khoa học – công nghệ dược phẩm Polysan.Lmt (Liên bang Nga) đã nghiên cứu và đưa vào điều trị cho bệnh nhân đột quỵ ở Liên bang Nga. Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu hệ thống về thuốc này. Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài nhằm 2 mục đích như sau:

1- Đánh giá tác dụng cải thiện lâm sàng của cytoflavin  ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não giai đoạn cấp.

2- Theo dõi tác dụng không mong muốn của thuốc cytoflavin  trên lâm sàng và một số chỉ tiêu cận lâm sàng.

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1. Đối tượng nghiên cứu.

Gồm 119 bệnh nhân đột quỵ nhồi máu trên lều tiểu não giai đoạn  cấp nằm điều trị nội trú tại khoa Đột quỵ não bệnh viện 103 từ tháng 6/2011 đến tháng 4/2012 có tuổi đời từ 30 đến 80 tuổi.

2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân.

ü Bệnh nhân đột quỵ não được chẩn đoán nhồi máu não ở bán cầu đại não theo tiêu chuẩn của Tổ chức y tế Thế giới năm 1989, có ý thức ≥ 9 điểm Glasgow.

ü Cận lâm sàng: có hình ảnh nhồi máu não trên phim chụp cắt lớp vi tính sọ não hay cộng hưởng từ sọ não.

ü Thời gian nhập viện trong vòng 24h tính từ khi khởi phát.

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ.

ü Bệnh nhân có các bệnh thần kinh kết hợp: động kinh, sa sút trí tuệ, chấn thương sọ não nặng, u não

ü Nghiện rượu, ma túy

ü Bệnh hệ thống nặng: suy tim, suy gan, suy thận, bệnh lý hô hấp nặng

ü Bệnh nhân mắc các bệnh ung thư, viêm não, bệnh não do ký sinh trùng.

ü Bệnh nhân có các bệnh kèm theo như: nhiễm HIV, lao.

ü Bệnh nhân không hợp tác điều trị nghiên cứu.

2.2. Phương pháp nghiên cứu.

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu.

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng.

119 bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não được chia ngẫu nhiên vào 2 nhóm: nhóm nghiên cứu 60 bệnh nhân, nhóm chứng 59 bệnh nhân. Cả 2 nhóm đều được điều trị theo phác đồ cơ bản tuân theo nguyên tắc điều trị đột quỵ não tại bệnh viện 103:

* Duy trì chức năng sống và điều chỉnh các hằng số sinh lý.

* Thuốc chống kết tập tiểu cầu: Aspirin: 100mg/ngày.

* Thuốc dinh dưỡng và bảo vệ tế bào não:

Cerebrolysin 10ml x 1 ống tiêm tĩnh mạch.

Citicoline 1gr x 1 ống tiêm bắp hoặc pha dịch đẳng trương.

* Điều trị triệu chứng, biến chứng và yếu tố nguy cơ:

* Bảo đảm dinh d­ưỡng, chăm sóc hộ lý, phục hồi chức năng

* Riêng bệnh nhân nhóm nghiên cứu: dùng phác đồ điều trị nhồi máu não hiện tại kết hợp cytoflavin ống 1% 10ml

Liều lượng và cách dùng: bệnh nhân có cân nặng dưới 50kg dùng 1 ống cytoflavin 1 ngày; 50-60kg dùng 2 ống 1 ngày; trên 60kg dùng 3 ống 1 ngày. Cytoflavin được pha 200ml huyết thanh mặn 0.9% truyền tĩnh mạch 1-2 lần/ngày. Thời gian dùng từ khi bệnh nhân nhập viện kéo dài tối thiểu 15 ngày.

2.2.2. Phương pháp nghiên cứu.

- Các chỉ tiêu lâm sàng, cận lâm sàng được đánh giá trước và sau liệu trình điều trị 15 ngày.

Các chỉ tiêu lâm sàng: đánh giá ý thức theo thang điểm Glasgow, độ liệt Henry, mức độ lâm sàng đột quỵ theo thang điểm NIHSS.

Các chỉ tiêu cận lâm sàng được xác định trước và sau điều trị: các xét nghiệm theo dõi chức năng gan thận, đường máu, công thức máu.

- Theo dõi tác dụng không mong muốn của trên hệ tim mạch, thần kinh, tiêu hóa, tiết niệu, da, niêm mạc và các cơ quan khác qua các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng.

3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận

3.1. Đặc điểm chung bệnh nhân nghiên cứu

Các bệnh nhân nghiên cứu có tuổi đời từ 30 đến 80. Đa số bệnh nhân có độ tuổi từ 50 trở lên (chiếm 78,2%). Tỷ lệ nam/nữ là 2,1. Phân bố bệnh nhân theo tuổi, giới ở 2 nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

3.2. Đặc điểm lâm sàng


Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân liệt độ II chiếm tỷ lệ cao nhất (31,9%). Khác biệt giữa 2 nhóm về tỷ lệ phân bố bệnh nhân theo mức độ liệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Kết quả nghiên cứu phù hợp với Nguyễn Minh Hiện [6]: tỷ lệ liệt độ II chiếm tỉ lệ cao nhất (37%).

Nhận xét: Các bệnh nhân có điểm NIHSS từ 1 đến 24 điểm. Trong đó, đa số có điểm NIHSS từ 5-14 điểm (71,4%). Khác biệt về tỷ lệ phân bố bệnh nhân theo thang điểm NIHSS giữa 2 nhóm không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

3.3. Đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính não


Nhận xét: Vị trí tổn thương hay gặp nhất ở vùng nhân xám (29,4%), bao trong (21,8%). Phân bố vị trí tổn thương trên phim cắt lớp vi tính não ở 2 nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Kết quả nghiên cứu phù hợp với Nguyễn Văn Thông và cộng sự [7], vị trí tổn thương hay gặp nhất cũng ở vùng nhân xám (29,5%).

Nhận xét: Đa số bệnh nhân có kích thước ổ tổn thương trên phim cắt lớp vi tính não từ từ 2 đến 5cm (84%). Khác biệt về kích thước ổ tổn thương trên phim cắt lớp vi tính giữa 2 nhóm không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Kết quả nghiên cứu phù hợp với Nguyễn Minh Hiện và cộng sự [6]: kích thước ổ tổn thương 2-5cm chiếm 93,2%.

3.4. Tác dụng trên lâm sàng của cytoflavin.


Nhận xét: Hiệu số điểm Glasgow trước và sau điều trị dao động từ -2 đến +5 điểm. Có 72,3% (nhóm chứng 71,2%, nhóm nghiên cứu 73,3%) không thay đổi điểm Glasgow. Khác biệt giữa 2 nhóm về cải thiện ý thức sau điều trị không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có khác với S. A. Rumyantseva [11], Fedin A.I [9]: cải thiện ý thức ở nhóm dùng cytoflavin tốt hơn nhóm chứng.

Nhận xét: Các bệnh nhân có hiệu số độ liệt theo thang điểm Henry sau và trước điều trị từ +1 đến -3 điểm. Đa số bệnh nhân cải thiện 1 độ liệt theo thang điểm Henry (65,5%). Tỷ lệ có cải thiện độ liệt ở nhóm nghiên cứu là 88,3%, cao hơn nhóm chứng (74,6%). Tuy nhiên, khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).        Theo Fedin A.I [9], nhóm dùng cytoflavin cũng có cải thiện vận động tốt hơn nhóm chứng.

Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân có cải thiện mức độ lâm sàng theo thang điểm NIHSS là 84%: nhóm nghiên cứu 93,3%, cao hơn nhóm chứng (74,6%). Khác biệt tỷ lệ cải thiện lâm sàng giữa 2 nhóm có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Kết quả nghiên cứu phù hợp với S. A. Rumyantseva [11]: nhóm dùng cytoflavin có cải thiện lâm sàng theo thang điểm  NIHSS tốt hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê.

3.5. Tác dụng không mong muốn trên lâm sàng và cận lâm sàng của cytoflavin


Nhận xét: Tỷ lệ xuất hiện tác dụng không mong muốnnói chung ở nhóm nghiên cứu là 10%, cao hơn nhóm chứng (6,8%). Tuy nhiên, khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Nhóm nghiên cứu gặp 1 bệnh nhân (1,7%) khô họng; 2 bệnh nhân (3,3%) nóng bừng mặt; 3 bệnh nhân hồi hộp đánh trống ngực (sau đó theo dõi điện tim không có biến đổi bệnh lý).  Các tác dụng không mong muốnđều ở mức độ nhẹ, thoáng qua và không để lại di chứng.

Nghiên cứu của Belolipetskaya V.G có tỷ lệ tác dụng không mong muốn ở nhóm dùng cytoflavin cao hơn nhiều so với nghiên cứu của chúng tôi: khô họng 79,1%, nóng bừng mặt 58,3%. Nguyên nhân do nghiên cứu của Belolipetskaya V.G tác giả cho truyền cytoflavin với tốc độ nhanh. Tuy vậy, các tác dụng không mong muốn cũng chỉ xuất hiện trong quá trình dùng thuốc và nhanh chóng tự hết, không có trường hợp nào phải dừng nghiên cứu. Theo nghiên cứu của Beĭn B. N [8], Fedin A.I [9] cũng cho thấy các tác dụng không mong muốn trên lâm sàng của cytoflavin nhẹ, không kéo dài.

Nhận xét: Theo dõi các biến đổi bất thường về đường máu, ure, creatinin, men gan ở 2 nhóm cho thấy khác biệt không có ý nghĩa thống kê.

Ở nhóm nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân tăng đường máu trước điều trị 23,3%, sau điều trị giảm còn 8,3%. Tuy nhiên, kết quả này chưa đủ kết luận cytoflavin có tác dụng hạ đường máu do đã có nhiều nghiên cứu chứng minh các bệnh nhân đột quỵ não giai đoạn cấp có tình trạng tăng đường máu phản ứng, sau đó dần trở về mức bình thường.

Tỷ lệ tăng ure, creatinin, men gan trước và sau điều trị ở cả 2 nhóm tương đương nhau.

Như vậy, chưa thấy cytoflavin gây ra các biến đổi bất thường về đường máu, chức năng gan, thận. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của, Romantsov M.G [10].

Nhận xét: Tỷ lệ có bất thường thành phần tế bào máu  ở 2 nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Các trường hợp có tăng bạch cầu và bạch cầu đa nhân đa số là do có nhiễm trùng hoặc bệnh lý gây viêm kết hợp (gout, đợt cấp viêm khớp dạng thấp…). Sau điều trị thích hợp thì công thức bạch cầu lại trở về bình thường. Không có trường hợp nào bị giảm tế bào máu sau điều trị.

Theo Romantsov M.G [10], cytoflavin cũng không làm thay đổi bất thường thành phần tế bào máu.

4. Kết luận

Nghiên cứu trên 119 bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não giai đoạn cấp: 59 bệnh nhân nhóm chứng được điều trị theo phác đồ đột quỵ nhồi máu não theo khuyến cáo của Hội đột quỵ Thế giới; 60 bệnh nhân nhóm nghiên cứu được kết hợp thêm cytoflavin. Chúng tôi có kết luận như sau:

4.1- Tác dụng cải thiện lâm sàng của cytoflavin  ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não giai đoạn cấp.

Tỷ lệ có cải thiện độ liệt ở nhóm nghiên cứu là 88,3%, cao hơn nhóm chứng (74,6%). Tuy nhiên, khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Tỷ lệ bệnh nhân có cải thiện mức độ lâm sàng theo thang điểm NIHSS là 84%: nhóm nghiên cứu 93,3%, cao hơn nhóm chứng (74,6%). Khác biệt tỷ lệ cải thiện lâm sàng giữa 2 nhóm có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

4.2- Tác dụng không mong muốn của thuốc cytoflavin  trên lâm sàng và các chỉ tiêu cận lâm sàng.

Tác dụng không mong muốn trên lâm sàng: Tỷ lệ xuất hiện tác dụng không mong muốnnói chung ở nhóm nghiên cứu là 10%, cao hơn nhóm chứng (6,8%). Tuy nhiên, khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Các tác dụng không mong muốnđều ở mức độ nhẹ, thoáng qua và không để lại di chứng.

Tác dụng không mong muốn trên các chỉ tiêu cận lâm sàng:

Theo dõi các biến đổi bất thường về đường máu, ure, creatinin, men gan ở 2 nhóm cho thấy khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Như vậy, chưa thấy cytoflavin gây ra các biến đổi bất thường về đường máu, chức năng gan, thận.

Tỷ lệ có bất thường thành phần tế bào máu  ở 2 nhóm thấp và khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. A.I. Fedin, S.A. Rumyanxeva, M.A. Piradov và CS (2005) "Hiệu quả bảo vệ trao đổi chất thần kinh của cytoflavin trong nhồi máu não", Tập san Học viện Y khoa I.I. Mechnicov Saint - Petersburg, số 1, tr: 13-19.
  2. Nguyễn Văn Chương (2004), “Nghiên cứu lâm sàng và hình ảnh chụp cắt lớp vi tính ở bệnh nhân thiếu máu não giai đoạn sớm”, Y học Việt Nam, tập 301, tr:37-43.
  3. E.G. Klocheva, M.V. Alexandrov, E.B. Formina (2002), "Sử dụng cytoflavin ở những bệnh nhân thiếu oxy đại não do nguyên nhân thiếu máu cục bộ", Tập san Học viện Y khoa I.I. Mechnicov Saint - Petersburg, số 1 (2), tr: 128-133
  4. G.A. Livanov, B.V. Batoxurenow, A.N. Lodyagin và CS (2003), "Sử dụng thuốc trao đổi chất chống oxy hóa cytoflavin trong điều trị tích cực ngộ độc cấp tính các chất độc thần kinh", Tập san Học viện Y khoa I.I. Mechnicov Saint - Petersburg, số 3, tr:110-112
  5. Phan Việt Nga, Nguyễn Thị Thanh Nhàn (2012), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và yếu tố tiên lượng ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não có hội chứng chuyển hóa"; Tạp chí Y dược lâm sàng 108, tập 7 – số đặc biệt tháng 10/2012; tr:253-260.
  6. Nguyễn Minh Hiện, Phạm Đình Đài, Hoàng Văn Tú và CS, (2012); “Nghiên cứu hiệu quả phác đồ điều trị kết hợp Thư  huyết ninh với y học hiện đại ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu bán cầu đại não”; Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở; Bệnh viện 103
  7. Nguyễn Văn Thông, Đinh Thị Hải Hà, Nguyễn Hồng Quân (2012), "Nhận xét đặc điểm, tính chất, cơ cấu bệnh tại Trung tâm đột quỵ - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ 01/2003 đến 06/2012; Tạp chí Y dược lâm sàng 108, tập 7 – số đặc biệt tháng 10/2012; tr:10-22.
  8. Beĭn BN, Dravert NE, (2010), "Efficacy of cytoflavin in the treatment of vertebrobasilar insufficiency", Eksp Klin Farmakol, 73(4):8-10.
  9. Fedin A.I., Rumyantseva S.A., Piradov M.A, (2006), "Multi-centered placebo-controled clinical trial of cytoflavin solution for intravenous use in patients with consequences of acute ischemic cerebrovascular accident in the early recovery period", Vrach, No.13, p.52-58

10.  Romantsov M.G, Kovalenko A.L, (2005), "Double-blinded placebo-controlled multi-centered clinical trial of cytoflavin in patients with acute cerebrovascular accident (brain infarction) in the first 3 weeks of the disease", Base clinical trials, No.5, p.29-33

11.  S. A. Rumyantseva, A. I. Fedin, S. B. Bolevich et al, (2011), "Effects of Early Correction of Energy and Free Radical Homeostasis on the Clinical and Morphological Picture of Cerebral Infarction", Neuroscience and Behavioral Physiology, 41 (8): 843-848

 

Nguyễn Minh Hiện; Phạm Đình Đài; Đặng Phúc Đức;

Phạm Thị Thanh Hòa; Nguyễn Văn Tuấn; Đỗ Đức Thuần

 

Dịch vụ thiết kế website wordpress