Trang chủ Thông tin y khoa Tin tức y khoa Bài báo y học NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CAI NGHIỆN MDMA BẰNG THUỐC AN THẦN KẾT HỢP VỚI THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CAI NGHIỆN MDMA BẰNG THUỐC AN THẦN KẾT HỢP VỚI THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM

T6, 09/10/2020

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

-         Nghiện ma túy là một tệ nạn xã hội, gây hậu quả nặng nề cho bản thân người nghiện, gia đình và xã hội.

-         Số người nghiện ma túy nhóm kích thần, đặc biệt là MDMA (ecstasy) ngày càng tăng lên (chiếm khoảng 30% số người nghiện ma túy).

-         Hiện chưa có phác đồ thống nhất điều trị cắt cơn và chống tái nghiện MDMA.

II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

-         Nhận xét đặc điểm lâm sàng hội chứng cai MDMA

-         Kết quả điều trị cắt cơn cai nghiện MDMA bằng thuốc an thần và chống trầm cảm.

-         Kết quả điều trị chống tái nghiện MDMA

III. TÁC DỤNG DƯỢC LÝ CỦA MDMA

-         MDMA có cấu trúc hóa học giống cả methamphetamin (kích thần mạnh) và mescalin (gây ảo giác).

-         Hiệu quả kích thần xuất hiện sau 15-30 phút đường uống, 1-2 phút đường tiêm tĩnh mạch hoặc đường hút.

-         Sử dụng MDMA liều cao hoặc/và kéo dài sẽ gây ra ảo thị, ảo thanh, ảo xúc giác và hoang tưởng.

IV. NGỘ ĐỘC CẤP MDMA

-         Rối loạn tâm thần: lo âu, kích động, rối loạn định hướng, loạn thần.

-         Các triệu chứng khác: cơn nhịp nhanh, nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp, co giật, nhồi máu hoặc chảy máu não, sững sờ, hôn mê và đột tử.

VI. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Nhóm bệnh nhân nghiên  cứu: gồm 42 bệnh nhân được điều trị nội trú tại A6-103 từ tháng 1-2010 đến 12-2013.

2. Tiêu chuẩn chẩn đoán: DSM IV (1994):

-         Có bằng chứng sử dụng MDMA

-         Có các triệu chứng lâm sàng đặc trưng

-         Ảnh hưởng rõ ràng đến các chức năng xã hội-nghề nghiệp của bệnh nhân.

3. Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp tiến cứu mô tả lâm

sàng cắt ngang trên 42 BN, Theo dõi điều trị 22 BN qua hai giai đoạn, cụ thể là:

-         Giai đoạn cắt  cơn: Điều trị nội trú tại khoa tâm thần bệnh viện 103. Thời gian 1 tháng. Đánh giá hội chứng cai qua các ngày N1, N3, N5, N7, N14, N21 và N30.

-         Giai đoạn điều trị ngoại trú: BN được theo dõi, đánh giá kết quả trong 6 tháng.

4. Phác đồ điều trị

Tuần 1:

-         Olanzapine 10mg x 2 viên/ngày

-         Amitriptylin 25mg x 4 viên/ngày

-         Seduxen 5mg x 2 viên/ngày

Tuần 2-4:

-         Olanzapin 10mg x 2 viên/ngày

-         Amitriptylin 25mg x 4 viên/ngày

Điều trị củng cố

-         Olanzapin 10mg x 1 viên/ngày

-         Amitriptylin 25mg x 4 viên/ngày

Thời gian điều trị củng cố kéo dài 6 tháng.

 

VII. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Bảng 1 : Hội chứng cai MDMA

Bảng 2 : Các triệu chứng loạn thần

Bảng 3 : Các rối loạn lo âu

Bảng 4 : Các mức độ của trầm cảm

Bảng 5 : Các rối loạn thần kinh thực vật

Đánh giá kết quả điều trị (n=22)
Bảng 6: Diễn biến chung của hội chứng cai MDMA

Các triệu chứng thèm mãnh liệt, mệt mỏi, ác mộng gặp ở 100% số bệnh nhân trong ngày đầu ngừng sử dụng MDMA. Các triệu chứng ngủ nhiều và tăng cảm giác ngon miệng cũng gặp với tỷ lệ rất cao trong ngày N1 (81,82% và 72,73%). Kết quả này phù hợp với ý kiến của Gelder M. Và cộng sự (2009) khi cho rằng các triệu chứng thèm ecstasy, mệt mỏi, ngủ nhiều, ác mộng và tăng cảm giác ngon miệng gặp ở hầu hết số bệnh nhân cai ecstasy.

Trong quá trình điều trị, tất cả các triệu chứng trên đều thuyên giảm rõ ràng ở ngày N7 và hầu như không còn vào ngày N14 (chỉ 9,01% bệnh nhân còn ngủ nhiều).

Kết quả này phù hợp với nhận định của Sadock B. J. Và cộng sự (2007) khi cho rằng khi được điều trị bằng thuốc an thần và chống trầm cảm, các triệu chứng của hội chứng cai cơ bản được khắc phục sau 1 tuần.

Ở ngày N1, triệu chứng trầm cảm hay gặp nhất với 77,27%, tiếp theo là lo âu với 68,18%. Các triệu chứng ý định tự sát và kích động ít gặp hơn. Kết quả này phù hợp với Stephen M. Stahl (2008), tác giả cho rằng trầm cảm và lo âu gặp ở 72% số bệnh nhân cai MDMA ngày N1. Tác giả cho rằng trạng thái kích động và ý định tự sát cũng không phải là hiếm gặp.

Sau 7 ngày điều trị, chỉ còn một số ít bệnh nhân còn trầm cảm (18,19%) và lo âu (22,73%). Tỷ lệ này còn không đáng kể vào ngày N14. Kết quả này phù hợp với ý kiến của Sadock B. J (2007) khi cho rằng triệu chứng rối loạn cảm xúc thuyên giảm sau 1-2 tuần điều trị.

 

Bảng 7: Diễn biến của các triệu chứng loạn thần

Theo Bùi Quang Huy (2011), các triệu chứng loạn thần rất hay gặp trong cai MDMA, hay gặp nhất là hoang tưởng bị hại và ảo thanh bình phẩm. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy ở ngày N1, có 77,27% số bệnh nhân có ảo thanh bình phẩm và 54,54% số bệnh nhân có hoang tưởng bị hại.

Năm 2004, Kenneth A. cho rằng các hoang tưởng và ảo giác do cai MDMA thuyên giảm khá nhanh khi được điều trị bằng thuốc an thần. Kết quả bảng 3 cho thấy sau 1 tuần điều trị, chỉ còn 13,64% số bệnh nhân còn ảo thanh bình phẩm và 9,09% còn hoang tưởng bị hại.

Bảng 8: Diễn biến của các triệu chứng lo âu

Lo âu lan tỏa (40,91%) hay gặp hơn cơn hoảng sợ kịch phát (27,27%) ở ngày N1. Kết quả này phù hợp với Dan J. Stein (2010) khi cho rằng lo âu lan tỏa gặp ở 45% số bệnh nhân nhân cai MDMA, tỷ lệ cơn hoảng sợ kịch phát là 30%.

Theo nghiên cứu của chúng tôi, các rối loạn lo âu hầu như đã hết ở ngày N7. Kết quả này phù hợp với Dan J. Stein (2010), tác giả cho rằng lo âu lan tỏa và cơn hoảng sợ kịch phát hết sau 1 tuần điều trị.

Bảng 9: Diễn biến của mức độ HC trầm cảm

Tại ngày N1 có 45,46% số bệnh nhân có trầm cảm mức độ vừa, còn số bệnh nhân trầm cảm mức độ nặng và nhẹ ít gặp hơn. Kết quả này phù hợp với Sadock B. J. (2007) khi cho rằng gần 1/2 số bệnh nhân cai MDMA có hội chứng trầm cảm mức độ vừa, còn trầm cảm nặng và nhẹ ít gặp hơn. Tác giả cũng cho rằng tình trạng trầm cảm này thuyên giảm nhanh khi điều trị. Trong nghiên cứu của chúng tôi, sau 1 tuần điều trị, tình trạng trầm cảm hầu như đã hết.

Bảng 10: Diễn biến của rối loạn thần kinh thực vật

Năm 2011, Bùi Quang Huy cho rằng rôií loạn thần kinh thực vật trong hội chứng cai MDMA không quá nặng nề. Trong nghiên cứu của chúng tôi, triệu chứng hay gặp nhất là mạch nhanh trên 100 chu kỳ/phút với 59,09%.

Tác giả Sadock B. J. (2007) cho rằng triệu chứng này thuyên giảm nhanh và hết trong vòng 1 tuần điều trị. Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với nhận định này.

 

Bảng 11: Kết quả điều trị chống tái nghiện

MDMA là rất cao và 2 năm sau cai, hầu hết các bệnh nhân Tái nghiện MDMA là hiện tượng rất phổ biến. Trong nghiên cứu của chúng tôi, hiện tượng tái nghiện bắt đầu từ tháng thứ 4 với 4,55%, tăng nhanh ở tháng thứ 6 (với 22,73%). Điều này phù hợp với nhận định của các tác giả Sadock B. J. (2007), Gelder M. (2011). Các tác giả này cho rằng tỷ lệ tái nghiện này đều tái nghiện.

 

VIII. KẾT LUẬN

1. Đặc điểm lâm sàng hội chứng cai MDMA

- Các triệu chứng hay gặp nhất là: thèm mãnh liệt, mệt mỏi chiếm 100%, ác mộng chiếm 90,47%, ngủ nhiều chiếm 80,95% số bệnh nhân.

- Ảo thanh bình phẩm (76,19%) và hoang tưởng bị

hại (54,76%) là hai triệu chứng loạn thần hay gặp nhất.

- 40,47% số bệnh nhân có lo âu lan tỏa và chỉ 26,19% có cơn hoảng sợ kịch phát

- Hội chứng trầm cảm hay gặp trong cai MDMA (76,19%), nhiều nhất là trầm cảm mức độ vừa (45,23%).

- Các triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật gặp chủ yếu là mạch nhanh trên 100 lần/phút (59,52%).

2. Kết quả điều trị cắt cơn cai nghiện MDMA

- Các triệu chứng của hội chứng cai thuyên giảm rõ rệt ở ngày thứ 7 và hết ở ngày thứ 14.

- Các triệu chứng loạn thần như hoang tưởng bị hại và ảo thanh bình phẩm thuyên giảm rất rõ ràng ở ngày thứ 5 và chỉ còn một tỷ lệ nhỏ vào ngày thứ 7 (9,09% và 13,64%).

-Các triệu chứng rối loạn lo âu chỉ còn chiếm một tỷ lệ không đáng kể vào ngày thứ 7 (4,55% có loa âu lan tỏa).

-Hội chứng trầm cảm chỉ còn 4,55% ở mức độ vừa và 13,65% mức độ nhẹ ở ngày thứ 7.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bùi Quang Huy, Phùng Thanh Hải (2011). Cai nghiện ma túy và game online. Tr 38-74. Nhà xuất bản y học. Hà Nội.

2. Dan J. Stein; Eric H. and Barbara O. R. (2010). Textbook of anxiety disorder. Wasington DC and London UK. Pag 159-192. Vol 1.

3. American psychiatric association (2004). Practice guidelines for the treatment of psychiatric disorder. Wasington DC and London UK. Pag 500-524. Vol 1.

5. Sadock B. J. and Sadock  V. A. (2007). Synopsis of psychiatry. Tenth edition. Lippincott Williams and Wilkins. Pag 390-410.

6. Gelder G. M.; Andreasen N. C. and Geddes J. R. (2009). New Oxford textbook of psychiatry. Oxford university press. Peg 482-486. Vol 1.


PGS-TS. Bùi Quang Huy

Th.S. Đỗ Xuân Tĩnh

 







Dịch vụ thiết kế website wordpress