Trang chủ Thông tin y khoa Tin tức y khoa Bài báo y học Nghiên cứu cơ cấu bệnh thần kinh ở đối tượng lao động quân sự tại khoa nội thần kinh, Bệnh viện Quân y 103

Nghiên cứu cơ cấu bệnh thần kinh ở đối tượng lao động quân sự tại khoa nội thần kinh, Bệnh viện Quân y 103

T6, 09/10/2020

TÓM TẮT:

Mục tiêu: nghiên cứu cơ cấu bệnh thần kinh và một số yếu tố liên quan ở đối tượng lao động quân sự. Đối tượng: gồm 2264 bệnh nhân được điều trị tại khoa A4 - Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 9/2012 đến tháng 7/2015. Phương pháp: nghiên cứu hồi cứu. Kết quả: tỷ lệ nam (84,1%), nữ (15,9%);độ tuổi từ 30 - 39 chiếm tỷ lệ cao nhất (30,0%) với tuổi trung bình 36,27 ± 10,60; lao động chân tay chiếm chủ yếu (63,8%), lao động trí óc (36,2%); nguyên nhân gây bệnh: chấn thương cơ học chiếm tỷ lệ cao nhất(47,7%); cơ cấu bệnh thần kinh:nhóm bệnh lý thần kinh ngoại vi chiếm tỷ lệ cao nhất (57,0%); thần kinh trung ương (39,2%) và nhóm bệnh lý thoái hóa, miễn dịch, nhiễm khuẩn là 3,8%. Kết luận: Xác định được cơ cấu bệnh thần kinh ở nhóm đối tượng lao động quân sự, có mối liên quan giữa tuổi, nghề nghiệp với nguyên nhân gây bệnh.

SUMMARY

Objective: To study the structure of neurological disease and some related factors in military labor subjects. Subjects: Includes 2264 patients were treated at department A4 - Military Hospital 103from September 2012 to July 2015. Method: retrospective study. Results: Male (84.1%), female (15.9%); Age group 30-39 accounts for the highest proportion (30.0%) with the average age of 36.27 ± 10.60; Physical labor (84.1%), intellectual work (15.9%); Cause of the disease: mechanical injury accounted for the highest proportion (47.7%); Structure of neurological diseases: Peripheral neuropathy group accounts for the highest proportion (57.0%); The central nervous system (39.2%) and the degenerative, immunological and infectious diseases group are 3.8%. Conclusion: Identification of the neurological structure in the militant group The relationship between age, occupation and cause.

* Keywords:structure of neurological, military labor

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh viện Quân Y 103 nói chung và khoa Nội Thần kinh (A4) nói riêng là đơn vị tuyến cuối thu dung, phân loại và cứu chữa cho các đối tượng là quân nhân trong cả nước, đặc biệt là khu vực miền Bắc. Việc nghiên cứu về cơ cấu mặt bệnh thần kinh ở đối tượng quân nhân là hết sức cần thiết, giúp chúng ta định hướng được các mặt bệnh hay gặp ở những nhóm tuổi, những loại hình lao động nào. Từ đó,có thể đề xuất hoặc làm tư liệu tham khảo cho các chuyên ngành y học quân sự để có biện pháp nghiên cứu phương thức lao động, bảo hộ lao động giúp hạn chế bệnh nghề nghiệp. Đồng thời, bổ sung thêm các bác sỹ chuyên khoa sâu để phân loại kỹ hơn nữa trong công tác sàng lọc, tuyển quân, giúp hạn chế được các quân nhân có bệnh lý phức tạp, tiềm ẩn gây ảnh hưởng đến công tác huấn luyện, đào tạo và sản xuất. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu cơ cấu bệnh thần kinh ở đối tượng lao động quân sự”với hai mục tiêu:

1. Xác định cơ cấu bệnh của bệnh nhân quân thuộc chuyên khoa thần kinh.

2. Tìm hiểu mối liên quan giữa tuổi, giới, nghề nghiệp với nguyên nhân gây bệnh và cơ cấu bệnh của bệnh nhân quân.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Gồm 2264 bệnh nhân quân được điều trị tại khoa A4- Bệnh viện Quân y 103từ tháng 9/2012 đến tháng 7/2015.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu hồi cứu dựa vào bệnh án lưu trữ, sổ theo dõi quá trình điều trị tại khoa, viện. Các bệnh nhân được chẩn đoán xác định bệnh dựa vào lâm sàng và các xét nghiệm hiện có của bệnh viện trong những năm qua, các bệnh nhân khó đều được hội chẩn khoa, viện hoặc ở cấp cao hơn.

*Bệnh viện quân y 103

3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung


Nhận xét:tỷ lệ nam là 84,1%; nữ là 15,9%.

Nhận xét: Tuổi trung bình 36,27± 10,60.  Tuổi của nhóm bệnh nhân nghiên cứu tập trung từ 20 – 49 (84,9%), trong đó nhóm tuổi từ 30- 39 chiếm tỷ lệ cao nhất (30,0%).

Nhận xét: lao động chân tay 63,8%; lao động trí óc 36,2%.

3.2. Cơ cấu bệnh thần kinh của đối tượng quân tại khoa A4


Nhận xét: nguyên nhân cơ học chiếm tỷ lệ cao nhất 47,7%.

Nhận xét: nhóm bệnh lý thần kinh ngoại vi chiếm tỷ lệ cao nhất 57,0%.

Nhận xét: suy nhược thần kinh và rối loạn phân ly chiếm tỷ lệ cao nhất 55,1% trong nhóm bệnh lý thần kinh trung ương và 21,6% trên tổng số bệnh nhân.

Nhận xét: bệnh lý cột sống chiếm tỷ lệ cao, điển hình là thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng với 60,7% trong nhóm thần kinh ngoại vi và 35,3% trên tổng số bệnh nhân.

Nhận xét: nhóm bệnh lý thoái hóa, miễn dịch, nhiễm khuẩn thần kinh chiếm tỷ lệ thấp nhất trong cơ cấu các bệnh thần kinh (3,8%).

3.3. Mối liên quan giữa tuổi, giới, nghề nghiệp và cơ cấu bệnh

Nhận xét: - Ở nhóm nguyên nhân cơ học, nhóm tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất từ 30 – 49 tuổi (32,4%), p < 0,05.

- . Nhóm nguyên nhân tâm lý tỷ lệ mắc bệnh cao nhất 20 – 29 (29,5%), p < 0,05.

Nhận xét: nhóm thần kinh ngoại vi độ tuổi 30 – 39 có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất (31,2%),

p < 0,05.

Nhận xét: nhóm lao động chân tay có nguyên nhân gây bệnh do cơ học chiếm tỷ lệ cao 65%, khác biệt có ý nghĩa với p < 0,05

Nhận xét: tỷ lệ bệnh lý thần kinh trung ương và thần kinh ngoại vi gặp nhiều hơn ở nhóm lao động chân tay so với nhóm lao động trí óc, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05

Nhận xét: tỷ lệ các nguyên nhân gây bệnh thần kinh gặp nhiều hơn ở nhóm nam giới so với nhóm nữ giới, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Do trong quân đội lực lượng chủ yếu là nam giới.

Nhận xét: tỷ lệ về cơ cấu bệnh thần kinh gặp nhiều hơn ở nhóm nam giới so với nhóm nữ giới, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Do trong quân đội lực lượng chủ yếu là nam giới.

4. BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung

Về đặc điểm tuổi, giới của nhóm nghiên cứu chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt tương đối rõ về tỷ lệ giới tính. Tỷ lệ nam giới (84,1%) rất cao so với nữ giới (15,9%). Nguyên nhân dolực lượng chính trong quân đội là nam giới và các nam quân nhân phải hoạt động trong môi trường khắc nghiệt hơn nữ quân nhân nên khả năng mắc bệnh cao hơn.Tuổi của nhóm bệnh nhân nghiên cứu tập trung từ 20 – 49 (84,9%), trong đó nhóm tuổi từ 30- 39 chiếm tỷ lệ cao nhất (30,0%). Độ tuổi 20 - 49 là độ tuổi phục vụ của đa số quân nhân vì vậy số bệnh nhân ở độ tuổi này chiếm tỷ lệ rất cao.Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 36,27± 10,60 cho thấy rằng khoảng 15 năm sau khi nhập ngũ (với độ tuổi nhập ngũ chủ yếu từ 19 – 23) thì nhóm nghiên cứu bắt đầu có biểu hiện bệnh. Nhóm tuổi 19 – 20 có tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất (2,7 %) là phù hợp vì đây là lứa tuổi trẻ, khỏe mạnh, chưa phải tiếp xúc nhiều với các yếu tố phơi nhiễm trong các môi trường đặc biệt của quân đội. Ở nghiên cứu của Nhữ Đình Sơn (2010) nghiên cứu về cơ cấu mặt bệnh thần kinh cũng tại khoa A4 - Bệnh viện 103 nhóm tuổi từ 30 – 39 chỉ chiếm tỷ lệ 15,3% thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi (30,0%) [3]. Nguyên nhân là nhóm đối tượng nghiên cứu của Nhữ Đình Sơn bao gồm tất cả các đối tượng quân, dân và bảo hiểm y tế. Điều đó cho thấy tuổi bị bệnh thần kinh của nhóm bệnh nhân quân thấp hơn so với cộng đồng.

Về đặc điểm nghề nghiệp, việc phân loại lao động chân tay và lao động trí óc chỉ là tương đối. Nhóm lao động chân tay chiếm tỷ lệ cao hơn rõ rệt (63,8%) so với nhóm lao động trí óc (36,2%). Do xuất phát từ đặc điểm, nhiệm vụ của quân đội là thiên về các hoạt động cần có sức khỏe, sức bền nên tỷ lệ lao động chân tay ở trong quân đội cũng cao hơn tương đối so với lao động trí óc.

4.2. Cơ cấu bệnh thần kinh của đối tượng quân tại khoa A4

Nguyên nhân gây bệnh lý thần kinh ở bộ đội được chia thành 4 nhóm nguyên nhân lớn đó là chấn thương cơ học, chấn thương tâm lý, nguyên nhân tự nhiên và các loại nguyên nhân khác. Để ý thấy rằng nhóm nguyên nhân cơ học chiếm tỷ lệ cao 47,7%. Trong môi trường hoạt động thể lực cao, những bài tập huấn luyện phức tạp không thể tránh khỏi những chấn thương cơ học gây tổn thương thần kinh. Tuy nhiên, những chấn thương cơ học là hoàn toàn có thể kiểm soát được nếu trong quá trình huấn luyện và thực hiện nhiệm vụ bộ đội thực hiện đúng thao tác và có sự bảo hộ hợp lý.Về cơ cấu bệnh thần kinh được phân chia thành 3 nhóm lớn là các bệnh lý thần kinh trung ương, các bệnh lý thần kinh ngoại vi và nhóm các bệnh lý thoái hóa, miễn dịch, nhiễm khuẩn hệ thần kinh. Cơ cấu nhóm bệnh lý thần kinh ngoại vi chiếm tỷ lệ cao nhất (57,0%) vì đây là nhóm bệnh mà nguyên nhân phần nhiều do chấn thương cơ học (47,7%) như đã phân tích ở trên) với các bệnh lý điển hình như thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ...

Bệnh lý của hệ thần kinh trung ương chiếm 39,2%, trong đó đột quỵ não chiếm tỷ lệ thấp (2,4%). Sở dĩ có hiện tượng này là vì có rất ít quân nhân nằm trong lứa tuổi nguy cơ của bệnh. Hơn nữa bệnh nhân đột quỵ não thuộc diện thu dung điều trị của khoa đột quỵ não (A14) .Số bệnh nhân đột quỵ não nằm tại khoa thần kinh được thống kê ở trên đều đang trong giai đoạn phục hồi chức năng.Trong nhóm bệnh nhân thần kinh trung ương , bệnh suy nhược thần kinh và rối loạn phân lý chiếm tỷ lệ cao nhất (55,1% trong nhóm TKTW và 21,6% trong toàn nhóm nghiên cứu), sau đó là  nhóm bệnh nhân Migraine (19,3%). Đứng hàng thứ 3 là nhóm bệnh nhân động kinh (10,4%). Các bệnh nhân động kinh thường có tần số cơn thấp, đa số mới có cơn khởi đầu. Các bệnh nhân này tới nằm nội trú để xác định chẩn đoán,và xác định liều thuốc cắt cơn. Việc điều trị bệnh duy trì được tiến hành theo con đường ngoại trú. So sánh với nghiên cứu của Lê Văn Chắt (2007) thấy tỷ lệ bệnh suy nhược thần kinh trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn của Lê Văn Chắt (5,9%) [4]. Nghiên cứu của Lê Văn Chắt được tiến hành ở trên tất cả các đối tượng còn nghiên cứu của chúng tôi chỉ tập trung vào đối tượng quân, chứng tỏ bộ đội có thể có nguy cơ mắc bệnh suy nhược thần kinh cao hơn so với cộng đồng.

Bệnh lý thần kinh ngoại vi chiếm 57,0% nhóm bệnh nhân nghiên cứu. Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng rất hay gặp ở lứa tuổi lao động nên có tỷ lệ rất cao (60,7%). Nguyên nhân của hiện tượng này là do bộ đội thường xuyên phải hoạt động với cường cao, bê vác nặng nên trong các hoạt động quân sự cần chú ý bệnh lý thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng để có phương án bảo hộ tích cực mà vẫn hoàn thành được nhiệm vụ của quân đội. Các bệnh lý như viêm đa dây thần kinh, viêm đa rễ thần kinh chiếm tỷ lệ thấp (0,8%) vì nó nằm trong nhóm các bệnh lý ít gặp.

Nhóm bệnh lý thoái hóa, miễn dịch, nhiễm khuẩn thần kinh chiếm tỷ lệ thấp nhất trong cơ cấu các bệnh thần kinh (3,8%). Cao nhất trong nhóm này là bệnh Parkinson (32,2%), đứng hàng thứ hai là bệnh viêm tủy ngang (18,4%), tiếp theo là bệnh nhược cơ (8,0%) và nhược não (8,0%). Đây là nhóm bệnh lý ít gặp trong quân đội vì thực tế tỷ lệ mắc những bệnh này trong cộng đồng cũng không cao. Hơn nữa bộ đội được khám sức khỏe sàng lọc nên đã loại được nhiều trường hợp mắc bệnh từ trước khi nhập ngũ.

4.3. Mối liên quan giữa tuổi, giới, nghề nghiệp với nguyên nhân và cơ cấu bệnh

Mỗi nhóm nguyên nhân lại có nhóm tuổi bị bệnh khác nhau. Ở nhóm nguyên nhân cơ học, nhóm tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất từ 30 – 49 tuổi (32,4%) tiếp theo là nhóm 40 – 49 tuổi (30,4%), đây là 2 nhóm tuổi đang trong độ tuổi phục vụ quân đội với cường độ cao và thời gian phục vụ quân đội đã được 15 – 25 năm. Nhóm nguyên nhân tâm lý tỷ lệ mắc bệnh cao nhất 20 – 29 (29,5%), đây chủ yếu là nhóm đối tượng mới nhập ngũ, chưa quen với môi trường rèn luyện kỉ luật cao của quân đội nên dễ mắc các bệnh về tâm lý như suy nhược thần kinh, rối loạn phân ly... sự khác biệt giữa các nhóm có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Nhóm bệnh lý thần kinh trung ương tuổi trải đều từ 20 – 49, cao nhất ở nhóm tuổi 20 – 29 (28,3%), tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa với p > 0,05. Nhóm thần kinh ngoại vi độ tuổi 30 – 39 có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất (31,2%) với điển hình là bệnh thoát vị đĩa đệm, khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Trong nhóm thoái hóa miễn dịch cũng không có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi với p > 0,05.

Nhóm lao động chân tay có nguyên nhân gây bệnh do cơ học chiếm tỷ lệ cao 65%, khác biệt có ý nghĩa với p < 0,05. Điều này là hoàn toàn hợp lý với những phân tích ở trên. Nguyên nhân tâm lý không ảnh hưởng gì đến loại hình lao động với p > 0,05.

Tỷ lệ bệnh lý thần kinh trung ương và thần kinh ngoại vi gặp nhiều hơn ở nhóm lao động chân tay so với nhóm lao động trí óc, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Do nghề nghiệp lao động chân tay vốn dĩ chiếm tỷ lệ cao hơn so với lao động trí óc ở trong quân đội.

Tỷ lệ các nguyên nhân gây bệnh thần kinh và cơ cấu bệnh thần kinh gặp nhiều hơn ở nhóm nam giới so với nhóm nữ giới, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Do trong quân đội lực lượng chủ yếu là nam giới.

  1. 5. KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 2264 bệnh nhân quân đến điều trị tại khoa A4 Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 9/2012 đến tháng 7/2015 chúng tôi rút ra một số kết luận:

- Tỷ lệ nam (84,1%); nữ (15,9%).

- Tuổi trung bình là36,27 ± 10,60; trong đó nhómtuổi từ 30 - 39 chiếm tỷ lệ cao nhất (30,0%).

- Lao động chân tay chiếm chủ yếu (63,8%); lao động trí óc (36,2%).

- Nguyên nhân gây bệnh: chấn thương cơ học chiếm tỷ lệ cao nhất(47,7%); chấn thương tâm lý (9,6%);nguyên nhân tự nhiên (26,2%); nguyên nhân khác (16,5%).

- Cơ cấu bệnh thần kinh:nhóm bệnh lý thần kinh ngoại vi chiếm tỷ lệ cao nhất (57,0%);thần kinh trung ương (39,2%) và nhóm bệnh lýthoái hóa, miễn dịch, nhiễm khuẩn là 3,8%.

- Có mối liên quan giữa nhóm tuổi với nguyên nhân gây bệnh vàcơ cấu bệnh thần kinh, p < 0,05.

- Nhóm lao động chân tay mắc bệnh thần kinh do nguyên nhân cơ học chiếm tỷ lệ cao 65%, với p < 0,05. Nguyên nhân tâm lý không liên quan vớinghề nghiệp, p > 0,05.

- Không có mối liên quan giữa giới với nguyên nhân và cơ cấu bệnh thần kinh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.  Tổng cục Hậu cần (2009), Tổ chức và chỉ huy quân y, tập 2, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội.

2.  Nguyễn Văn  Chương (1991) Cơ cấu bệnh ở khoa thần kinh- tâm thần bệnh viện quân y Hamburg, Y dược học quân sự.

3.  Nhữ Đình Sơn, Cao Hữu Hân (2010) Nghiên cứu cơ cấu bệnh tật tại khoa Nội Thần kinh - Bệnh viện 103 (2004-2008) ,Y dược học quân sự, Volum 35 (2),tr. 20-24.

4.  Nhữ Đình Sơn, Lê Văn Chắt (2007) Cơ cấu bệnh tật khoa A1 - Viện quân y 6 (2002 – 2006),Y học quân sự, 5, tr. 94 - 96

 

Nhóm tác giả:

Nhữ Đình Sơn*, Phan Việt Nga*,Dương Tạ Hải Ninh*,Hoàng Thị Dung*, Nguyễn Thị Cúc*,

Tạ Thị Hồng Nhung*, Nguyễn Trọng Hiếu* - Khoa A4, BVQY 103

Dịch vụ thiết kế website wordpress