GGT (g-GLUTAMYL TRANSFERASE) CÓ Ý NGHĨA QUAN TRỌNG TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ TIÊN LƯỢNG HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA
(g-GLUTAMYL TRANSFERASE HAVE IMPORTANT VALUE IN DIAGNOSIS AND PREDICTIVE ANALYSIS OF METABOLIC SYNDROME)
Nguyễn Trường Vũ1, Nguyễn Thị Cẩm Anh1, Nguyễn Thị Minh Hiếu1, Phan Duy Nguyên1, Lê Thanh Tùng1, Huỳnh Quang Thuận1, Phạm Văn Trân1.
1: Học viện Quân y.
Tóm tắt
Mục tiêu của đề tài nhằm xác định vai trò của hoạt độ enzym AST, ALT, GGT trong chẩn đoán và tiên lượng hội chứng chuyển hóa. Phương pháp nghiên cứu: Thực hiện trên 100 người được chia thành 2 nhóm: Nhóm bệnh (50 người) mắc hội chứng chuyển hóa theo tiêu chuẩn NCEP-ATP III (2001) và nhóm chứng (50 người) không mắc hội chứng này. Định lượng nồng độ glucose máu, các chỉ số lipid máu và xác định hoạt độ các enzym AST, ALT và GGT. Kết quả: Hoạt độ AST, ALT không có sự khác biệt giữa nhóm có và không có HCCH trong khi GGT tăng cao ở nhóm có HCCH so với nhóm chứng. Phân chia mẫu nghiên cứu theo tứ phân vị các giá trị GGT từ thấp đến cao cho thấy 50% nam giới trong nghiên cứu có hoạt độ GGT ở mức cao. Đặc biệt, sự tăng GGT tỉ lệ thuận với sự tăng nồng độ glucose máu. Đối với nữ, con số này chỉ đạt 25% và sự tăng GGT có tỉ lệ thuận với sự tăng nồng độ triglycerid. Kết luận: Tăng GGT ở người có HCCH mặc dù trong giới hạn bình thường có giá trị trong chẩn đoán sớm kịp thời người mắc hội chứng chuyển hóa.
Từ khóa: AST, ALT, GGT, hội chứng chuyển hóa.
Abstract:
The aim of research to know if the activity of AST, ALT, GGT have a predictive value in diagnosis and monitoring of metabolic syndrome (MS). Methods: 100 peoples were divided into 2 groups: patients (50) with the metabolic syndrome diagnosed by NCEP-ATP III (2001) criteria and control group (50 people) do not have this syndrome. Liver function tests, fasting blood glucose levels and lipid profile of the subjects were recorded. Results: The activity of AST, ALT did not differ between the groups with and without metabolic syndrome, while GGT increased in the group with metabolic syndrome compared with controls. Dividing the sample by quartiles values GGT from low to high, the result show that 50% of men have activity of GGT at a high level. In particular, the increase in GGT is proportional with blood glucose level. For women, this number was only 25% and an increase in GGT is proportional with triglyceride levels. Conclusion: Increased GGT in people with metabolic syndrome, although in the normal range could play important role in the early diagnosis of metabolic syndrome.
Keywords: AST, ALT, GGT, metabolic syndrome.
1. Đặt vấn đề
Hội chứng chuyển hóa (HCCH), còn được gọi là hội chứng X, có liên quan với nguy cơ cao phát triển bệnh tim mạch. Bệnh đang gia tăng trên toàn thế giới, thu hút sự chú ý của nhiều nghiên cứu khoa học. Sau khi xác định sự liên quan của hội chứng chuyển hóa với tăng nguy cơ bệnh tim mạch, việc chẩn đoán sớm hội chứng chuyển hóa đã trở nên quan trọng hơn. Hiện nay, định nghĩa HCCH theo NCEP-ATP III (2001) hoặc Liên đoàn tiểu đường Quốc tế (IDF) dựa trên các tiêu chí, bao gồm tăng chu vi vòng eo, tăng triglycerid, HDL thấp, tăng glucose lúc đói và tăng huyết áp. Mặc dù đã được nghiên cứu nhiều nhưng các dấu hiệu lâm sàng, các dấu ấn sinh học để chẩn đoán và theo dõi điều trị vẫn chưa hoàn toàn sáng tỏ.
Hội chứng chuyển hóa có liên quan đến sự đề kháng insulin tại gan, là yếu tố nguy cơ tiến triển bệnh gan. Vì thế hoạt độ ALT, AST, GGT có thể xem là dấu ấn sinh học hữu ích trong chẩn đoán và tiên lượng điều trị hội chứng chuyển hóa. Ngoài độ nhạy và độ đặc hiệu cao, các xét nghiệm đánh giá hoạt độ enzym gan được tiến hành rất dễ dàng và giá thành thấp. Vì vậy, nó được coi là xét nghiệm thường qui phục vụ cho chẩn đoán và điều trị nói chung. Ở Việt Nam, vai trò của các enzym này trong HCCH còn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài với mục tiêu xác định hoạt độ enzym ALT, AST, GGT trong huyết tương của những bệnh nhân mắc HCCH và phân tích mối liên quan giữa hoạt độ các enzym này với các tiêu chí trong chẩn đoán HCCH.
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang được thực hiện tại bệnh viện quân y 103 từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 10 năm 2013 trên 100 người chia thành hai nhóm: Nhóm bệnh gồm 50 bệnh nhân được chẩn đoán HCCH theo tiêu chuẩn NCEP-ATP III năm 2001 (bảng 2.1) và nhóm chứng gồm 50 người không có hội chứng chuyển hóa có giới tính và tuổi phù hợp nhóm bệnh. Các đối tượng được đo chiều cao, cân nặng, chu vi vòng eo, huyết áp, chỉ số khối cơ thể.
Mẫu máu chống đông heparin (3ml) được lấy sau khi bệnh nhân nhịn ăn 8-12h. Các thông số hóa sinh được xác định là cholesterol toàn phần (CHO TP), HDL-cholesterol, LDL-cholesterol, triglycerid (TG), Alanin transaminase (ALT), aspartate transaminase (AST) và gama-glutamyl transferase (GGT), glucose. Glucose, cholesterol và triglycerid đo theo phương pháp enzym đo màu điểm cuối, HDL cholesterol theo phương pháp phân tích trực tiếp [1]. Đái tháo đường và hội chứng giảm đường huyết lúc đói được chẩn đoán theo tiêu chuẩn của Hiệp hội tiểu đường Mỹ [2]. Các xét nghiệm sinh hóa được thực hiện trên máy tự động hoàn toàn Au640 sử dụng kít, dịch chuẩn và huyết tương kiểm tra của hãng Beckman Coulter.
Loại trừ tất cả những bệnh nhân suy giáp, bệnh ác tính, suy thận nặng, xơ gan, bệnh gan do nhiễm virut viêm gan và nghiện rượu. Các số liệu thu được tính toán theo phương pháp thống kê y học sử dụng test khi bình phương, test student. Có ý nghĩa thống kê khi p<0.05. Sử dụng phần mềm SPSS, version 13 (SPSS Inc., Chicago, IL, USA).
Bảng 2.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán HCCH của NCEP-ATP III (2001), áp dụng cho người châu Á
|
Tiêu chí đánh giá |
Trị số |
|
Béo bụng thể hiện ở chu vi vòng eo |
Nam >90 cm Nữ >80 cm |
|
Triglycerid |
≥1,7mmol/L |
|
HDL cholesterol |
Nam <1,03 mmol/L Nữ <1,29 mmol/L |
|
Huyết áp |
≥130/≥85 mmHg |
|
Glucose máu lúc đói |
≥6,1 mmol/L |
3. Kết quả nghiên cứu
Bảng 3.1. Tỷ lệ hoạt độ các enzym AST, ALT, GGT
cao trên mức bình thường
|
|
AST |
ALT |
GGT |
|||
|
n |
% |
n |
% |
n |
% |
|
|
Bình thường |
50 |
100 |
50 |
100 |
36 |
72 |
|
Tăng |
0 |
0 |
0 |
0 |
14 |
28 |
Tất cả các bệnh nhân trong nhóm HCCH có hoạt độ AST và ALT bình thường, trong khi đó có tới 28% có hoạt độ GGT tăng trên giới hạn bình thường.
Bảng 3.2. So sánh hoạt độ của các enzym AST, ALT, GGT
giữa nhóm HCCH và nhóm chứng
|
Enzym gan |
Nhóm HCCH ( ± SD) |
Nhóm chứng ( ± SD) |
P |
|
AST |
24.96± 8.24 |
24.20 ± 8.74 |
0.655 |
|
ALT |
23.78± 9.27 |
20.40 ± 8.78 |
0.064 |
|
GGT |
45.58 ± 41.87 |
27.34 ± 11.60 |
0.003 |
Hoạt độ GGT của nhóm HCCH cao hơn so với nhóm chứng có ý nghĩa thống kê (P=0.003). trong khi đó, hoạt độ AST và ALT tuy có khác so với nhóm chứng nhưng sự khác nhau không có ý nghĩa thống kê (P>0.05)
Bảng 3.3. Sự thay đổi các thành phần của HCCH
theo phân bố tứ phân vị của hoạt độ GGT huyết tương ở nam
|
|
GGT-1 (12-32 U/l) |
GGT-2 (33-42 U/l) |
GGT-3 (43-61 U/l) |
GGT-4 (62-180 U/l) |
|
HATT |
137.85 ± 19.97 |
130 ± 23.09 |
142.50 ± 14.74 |
135.00 ± 20.00 |
|
HATTr |
79.28 ± 9.32 |
70.00 ± 11.54 |
82.50 ± 14.74 |
86.00 ± 18.16 |
|
Vòng bụng |
88.57 ± 5.50 |
87.00 ± 7.43 |
85.50 ± 7.39 |
83.20 ± 9.47 |
|
Glucose |
7.81 ± 3.48 |
6.54 ± 1.47 |
7.76 ± 3.02 |
10.64 ± 2.62 |
|
Triglycerid |
2.95 ± 1.65 |
2.70 ± 0.95 |
3.10 ± 1.32 |
2.82 ± 1.42 |
|
HDL-C |
0.89 ± 0.08 |
1.05 ± 0.12 |
0.96 ± 0.19 |
0.93 ± 0.46 |
HATT: Huyết áp tâm thu, HATTr: Huyết áp tâm trương, HDL-C: High density lipoproteine cholesterol.
50% bệnh nhân có hoạt độ GGT trong giới hạn bình thường ở mức cao và trên giới hạn bình thường (GGT-3 và GGT-4) và trong đó sự tăng GGT tỉ lệ thuận với sự tăng nồng độ glucose máu.
Bảng 3.4. Sự thay đổi các thành phần của HCCH
theo phân bố tứ phân vị của hoạt độ GGT huyết tương ở nữ.
|
|
GGT-1 (8- 14 U/l) |
GGT-2 (15-21 U/l) |
GGT-3 (22-39 U/l) |
GGT-4 (40-71 U/l) |
|
HATT |
131.42 ± 14.63 |
127.50 ± 22.74 |
137.50 ± 14.74 |
130.00 ± 14.14 |
|
HATTr |
82.85 ± 14.96 |
81.66 ± 9.83 |
90.00 ± 10.95 |
81.66 ± 8.16 |
|
Vòng bụng |
82.00 ± 7.00 |
87.83 ± 6.67 |
92.83 ± 7.08 |
87.33 ± 5.08 |
|
Glucose |
7.90 ± 3.47 |
7.63 ± 3.22 |
6.53 ± 3.92 |
6.65 ± 3.39 |
|
Triglycerid |
2.71 ± 1.35 |
2.48 ± 0.79 |
2.93 ± 0.89 |
3.93 ± 3.27 |
|
HDL-C |
0.88 ± 0.25 |
1.03 ± 0.24 |
1.04 ± 0.24 |
1.30 ± 0.35 |
HATT: Huyết áp tâm thu, HATTr: Huyết áp tâm trương, HDL-C: High density lipoproteine cholesterol.
Chỉ có 25% số bệnh nhân nữ là có hoạt độ GGT ở mức cao trong giới hạn bình thường (GGT-3) và trên giới hạn bình thường (GGT-4), và trong đó đối với nữ thì sự tăng GGT có tỉ lệ thuận với sự tăng nồng độ triglycerid và HDL-C trong máu.
Bảng 5. Mối tương quan giữa hoạt độ GGT huyết tương
với các thành phần của HCCH ở nam
|
Enzym gan Các TP của HCCH |
GGT |
||
|
R |
P |
||
|
Huyết áp |
TT |
0.03 |
P = 0.000 |
|
TTr |
0.33 |
P = 0.120 |
|
|
Vòng bụng |
-0.10 |
P = 0.000 |
|
|
Glucose |
0.40 |
P = 0.000 |
|
|
Lipid máu |
HDL - C |
-0.07 |
P = 0.000 |
|
Triglycerid |
0.09 |
P = 0.000 |
|
Hoạt độ GGT ở nam giới có HCCH có tương quan thuận với nồng độ glucose máu có ý nghĩa thống kê (P< 0.05).
Bảng 6. Mối tương quan giữa hoạt độ GGT huyết tương
với các thành phần của HCCH ở nữ
|
Enzym gan Các TP của HCCH |
GGT |
||
|
R |
P |
||
|
Huyết áp |
Tâm thu |
-0.08 |
P = 0.000 |
|
Tâm trương |
-0.08 |
P = 0.000 |
|
|
Vòng bụng |
0.18 |
P = 0.000 |
|
|
Glucose |
-0.07 |
P = 0.000 |
|
|
Lipid máu |
HDL - C |
0.52 |
P = 0.100 |
|
Triglycerid |
0.28 |
P = 0.000 |
|
Hoạt độ GGT ở những người nữ có HCCH có tương quan theo chiều thuận với nồng độ triglycerid huyêt tương và sự tương quan này có ý nghĩa thống kê (P< 0.05).
4. Bàn luận và kết luận
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy hoạt độ trung bình các enzym AST, ALT khác nhau không có ý nghĩa thống kê giữa nhóm HCCH và nhóm chứng p= 0.655 (AST) và p= 0.064 (ALT). Trong khi đó sự tăng hoạt độ enzym GGT trong nhóm HCCH và nhóm chứng khác nhau có ý nghĩa thống kê với p= 0.003 (bảng 3.2.). Kết quả trên cũng phù hợp với nghiên cứu của Kasapolu và cộng sự năm 2009 khi nghiên cứu 908 người Thổ Nhĩ Kỳ [3]. Theo tác giả này thì hoạt độ trung bình của các enzym AST, ALT và GGT trong nhóm HCCH và nhóm chứng lần lượt là 21.1-17.7 U/l, 26.8-19.2 U/l và 40.9-21.0 U/l. Chỉ có GGT khác nhau có nghĩa thống kê.
Qua bảng phân tích sự thay đổi các thành phần của HCCH (tiêu chuẩn của NCEP-ATP III) theo phân bố tứ phân vị của hoạt độ GGT huyết tương trong từng giới, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ nam/nữ trong nhóm HCCH có hoạt độ GGT ở giới hạn bình thường cao và trên giới hạn bình thường là 50/25 %. Mặc dù chưa thực sự rõ ràng nhưng sự tăng hoạt độ GGT có liên quan đên tăng tỉ lệ mắc HCCH, tỉ lệ này có sự khác biệt theo giới.
Nghiên cứu của Kasapolu và cộng sự cũng chia hoạt độ enzym GGT theo tứ phân vị, kết quả cho thấy tăng hoạt độ GGT có tương quan thuận với sự gia tăng tỉ lệ mắc HCCH.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 72% bệnh nhân mắc HCCH có hoạt độ GGT nằm trong giới hạn bình thường nhưng vẫn cao hơn so với nhóm chứng. Hoạt độ GGT ở nam có mối tương quan tuyến tính đồng biến với nồng độ glucose máu - một thành phần của HCCH với hệ số tương quan R=0.40, P<0.05.
Kết quả trên cũng phù hợp với nghiên cứu hoạt độ AST, ALT và GGT ở bệnh nhân béo phì liên quan đến hiện tượng kháng insulin và hội chứng chuyển hóa của Marchesini G và CS (2005) khi nghiên cứu trên 459 bệnh nhân béo phì [4]. Tác giả đã chứng minh mối tương quan chặt chẽ giữa hiện tượng đề kháng insulin và hoạt độ enzym GGT với hệ số R = 0,080; p <0,0001.
Ở những bệnh nhân nữ có HCCH trong nghiên cứu của chúng tôi, hoạt độ GGT có tương quan tuyến tính đồng biến với nồng độ triglycerid huyết tương và sự tương quan này có ý nghĩa thống kê (P < 0.05). Kết quả của nghiên cứu cũng phù hợp với nghiên cứu về mối liên quan của GGT với HCCH trên 353 phụ nữ béo phì tại Bệnh viện Professor Edgard Santos của Araújo LM và CS (2005) [5]. Trong nghiên cứu này các tác giả nhận thấy hoạt độ GGT cao ở những bệnh nhân có HCCH hơn bệnh nhân không có HCCH (32% so với 20%, p = 0,05) và nồng độ GGT trung bình ở những bệnh nhân với HCCH cao hơn đáng kể hơn so với người không mắc HCCH (52,8 ± 42,3 U / L; Md: 40,0 so với 40,1 ± 28,8 U / L; Md: 33.0, p = 0.0001).
Kết luận: Hoạt độ GGT tăng cao ở người có HCCH và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng. Ở nam giới, hoạt độ GGT tương quan tuyến tính đồng biến với nồng độ glucose huyết tương trong khi ở nữ giới hoạt độ GGT tương quan tuyến tính đồng biến với nồng độ triglycerid. Kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị của các xét nghiệm này đặc biệt là GGT, phải được xem xét cẩn trọng trong các thuật toán nhằm chẩn đoán và tiên lượng hội chứng chuyển hóa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lee, D.H., et al., 2003, “Gamma-glutamyltransferase is a predictor of incident diabetes and hypertension: the Coronary Artery Risk Development in Young Adults (CARDIA) Study”, Clin Chem, 49(8): p. 1358-66.
2. Resnick, H.E., et al., 2000, “American Diabetes Association diabetes diagnostic criteria, advancing age, and cardiovascular disease risk profiles: results from the Third National Health and Nutrition Examination Survey”, Diabetes Care, 23(2): p. 176-80.
3. Kasapoglu, C. Turkay, 2009, “Role of GGT in diagnosis of metabolic syndrome : A clinic-based cross-sectional survey”, Fatih University Medical School Department of Internal Medicine.
4. Marchesini G, et al., 2005, “Aminotransferase and gamma-glutamyltranspeptidase levels in obesity are associated with insulin resistance and the metabolic syndrome”. J Endocrinol Invest, 28(4):333-9.
5. Araújo LM, Lima DS, Daltro C, 2005, “Association of gamma-glutamyl transferase and the metabolic syndrome in obese women”, Arq Bras Endocrinol Metab, vol.49, n.4, pp. 557-562.












