1. Đặt vấn đề
Ghép thận là phương pháp điều trị thay thế thận suy mang nhiều lợi ích toàn diện đến sức khỏe người bệnh, tỷ lệ sống sót của những người được ghép thận đã được cải thiện đáng kể. Đóng góp lớn cho tỷ lệ thành công này là nhờ vào sự phát triển của các thuốc ức chế miễn dịch. Nhiều nghiên cứu khoa học gần đây đưa ra khuyến cáo sử dụng phác đồ thuốc ức chế miễn dịch Everolimus kết hợp giảm liều nhóm Calcineurin có cải thiện chức năng thận ghép [1], [2]. Đồng thời kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm trùng CMV và nhiễm BK giảm ở những bệnh nhân ghép thận, ghép tim dùng Everolimus [3].
Nồng độ đáy mục tiêu trong máu của Everolimus thay đổi tùy thuộc vào liều lượng các thuốc ức chế miễn dịch khác được sử dụng kết hợp và giai đoạn điều trị của bệnh nhân. Theo dõi nồng độ Everolimus được khuyến cáo do thuốc có khoảng điều trị hẹp và sự biến thiên lớn về dược động học cũng như đáp ứng điều trị trong cùng một cá thể và giữa các cá thể. Một số báo cáo cho rằng nồng độ Everolimus máu an toàn và hiệu quả nằm trong khoảng 3-8 ng/mL [4]. Theo dõi nồng độ Everolimus qua xét nghiệm máu bệnh nhân là công cụ quan trọng để từ đó các bác sĩ lâm sàng điều chỉnh liều Everolimus phù hợp cho từng bệnh nhân [1].
2. Một số đặc tính của Everolimus
2.1. Cơ chế hoạt động
Everolimus là thuốc ức chế miễn dịch thuộc nhóm ức chế mTOR. Khi Everolimus liên kết với FKBP12, phức hợp ngăn chặn sự hoạt hóa của mTOR, đây là một kinase đặc hiệu chu kỳ tế bào kích hoạt kinase S6 ribosome p70 ngăn chặn sự tiến triển của chu kỳ tế bào từ pha G1 sang pha S, ức chế sự tăng sinh tế bào T. Ngoài ra, ngăn chặn sự trưởng thành của các tế bào dạng sợi, dẫn đến ức chế các tế bào T hiệu ứng và mở rộng các tế bào T điều hòa có vai trò quan trọng trong sự phát triển khả năng dung nạp ghép [4].
2.2. Dược động học Everolimus
Everolimus hầu như không tan trong nước nhưng tan trong rượu, acetonitril, ete… Everolimus có dạng rắn màu trắng ngà, khối lượng phân tử là 958,224 g/mol (C53H83NO14) và nhạy cảm với ánh sáng và nhiệt độ. Everolimus được hấp thu nhanh vào máu, đạt đỉnh trong vòng 1 - 2 giờ, liên kết với protein huyết tương và là chất nền của P-glycoprotein, được chuyển hóa bởi cytochrome P450. Everolimus được đào thải chủ yếu qua mật (98%), chỉ 2% được bài tiết dưới dạng không đổi qua thận. Bệnh nhân bị suy giảm chức năng gan cho thấy độ thanh thải Everolimus giảm 50%, bữa ăn nhiều chất béo làm chậm quá trình hấp thụ Everolimus [4], [5].
3. Định lượng nồng độ Everolimus
3.1. Nguyên lý xét nghiệm
Xét nghiệm định lượng nồng độ Everolimus được thực hiện trên máy Cobas E602 theo nguyên lý miễn dịch điện hóa phát quang. Là phương pháp xét nghiệm hiện đại, chính xác nhất hiện nay. Trước khi xét nghiệm, các mẫu máu, mẫu chuẩn và mẫu chứng phải được tiền xử lý với Elecsys ISD Sample Pretreatment.
Xét nghiệm được tiến hành qua hai bước: Bước một, mẫu huyết tương và kháng thể anti-Everolimus được kết hợp lại. Kháng nguyên Everolimus có trong mẫu gắn với kháng thể anti-Everolimus tạo thành phức hợp kháng thể-kháng nguyên. Sau khi rửa lần 1, chất kết hợp có đánh dấu được cho vào ở bước hai để tạo phức hợp phản ứng là kháng thể-kháng nguyên-kháng thể có gắn chất đánh dấu. Tiếp theo là lần rửa thứ hai. Sau đấy tiếp tục cho dung dịch phát quang vào hỗn hợp phản ứng. Ánh sáng phát ra được đo bởi hệ thống đo tín hiệu ánh sáng. Cường độ ánh sáng sẽ tỷ lệ thuận với nồng độ Everolimus máu [6].

3.2. Tiến hành xét nghiệm
Đối chiếu các thông tin bệnh nhân ghi trên ống nghiệm với thông tin trên phiếu chỉ định xét nghiệm.
Xử lý mẫu trước khi làm xét nghiệm: Cho vào tuýp 1,5 mL theo đúng thứ tự các thành phần như sau:
- 300 µL máu toàn phần.
- 300 µL dung dịch thuốc thử ISD Sample Pretreatment.
Vortex các thành phần trong tuýp thành một hỗn dịch đồng nhất, ly tâm ở t0: 2-80C trong 10 phút với tốc độ 10.000 vòng/phút. Hút dịch trong phía trên trong tuýp cho vào ống nghiệm chuyên dụng để chạy xét nghiệm.
Mẫu có nồng độ Everolimus trên khoảng đo, cần được pha loãng thủ công theo tỷ lệ 1 : 2 với dung dịch Diluent Universal 2 trước khi tiến hành tiền xử lý mẫu. Sau khi pha loãng, nhân kết quả với hệ số pha loãng.
Chú ý: Để đảm bảo chất lượng xét nghiệm thì trước khi chạy mẫu bệnh nhân phải tiến hành chạy nội kiểm (QC). Kết quả nội kiểm phải đạt yêu cầu. Nồng độ Everolimus máu bệnh nhân cần đạt theo khuyến cáo.
Bệnh nhân quên uống thuốc hoặc uống không đúng giờ theo yêu cầu của bác sỹ, quá trình thực hiện xét nghiệm có một số bước làm thủ công có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm. Tất cả các trường hợp kết quả nghi ngờ cần kiểm tra kỹ quá trình làm xét nghiệm, kịp thời trao đổi với bác sỹ lâm sàng để theo dõi bệnh nhân một cách tốt nhất.
Tài liệu tham khảo
- 1. Hà Phan Hải An, 2021 “Sử dụng thuốc có cửa sổ điều trị hẹp trong ghép tạng”, Tạp chí nghiên cứu y học, tr300-308.
- 2. Đỗ Tất Cường, Bùi Văn Mạnh, Lê Việt Thắng, Phạm Quốc Toản, Hoàng Trân Anh. (2010). Nhận xét về kết quả các trường hợp ghép thận tại Bệnh viện 103. Y học Việt Nam, tr306-310.
- 3. Jacques Dantal, 2012. Everolimus: preventing organ rejection in adult kidney transplant recipients, Drug Evaluation, 13(5):767-778
- 4. Oliver Witzke, 2015. Everolimus immunosuppression in kidney transplantation: What is the optimal strategy? Transplantation Reviews: 6-8
- 5. Hallvard Holdaas, 2012. A drug safety evaluation of everolimus in kidney transplantation, Drug Safety Evaluation, 11(6):1013-1022.
- 6. Bộ môn khoa Sinh hóa, 2024. “Quy trình xét nghiệm định lượng Everolimus trên máy Cobas E602”.
TS.BS. Vũ Quang Hợp












