Trang chủ Thông tin y khoa Tin tức y khoa Bài báo y học Đánh giá vai trò của xét nghiệm nồng độ tự kháng thể kháng thụ cảm thể ACETYLCHOLINE trong chẩn đoán nhược cơ

Đánh giá vai trò của xét nghiệm nồng độ tự kháng thể kháng thụ cảm thể ACETYLCHOLINE trong chẩn đoán nhược cơ

T6, 09/10/2020

TÓM TẮT:

Cơ sở: Nhược cơ là một bệnh tự miễn dịch có sự xuất hiện của tự kháng thể kháng thụ cảm thể acetylcholin trong huyết thanh gây ra ức chế dẫn truyền xung động tại xi náp thần kinh cơ.

Mục tiêu:Xác định giá trị của xét nghiệm nồng độ kháng thể kháng thụ cảm thể acetylcholine huyết thanh trong chẩn đoán nhược cơ.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:92 bệnh nhân nhược cơ (61 nữ và 31 nam) với  tuổi trung bình là 44,96 ± 15,74 và 30 đối tượng làm nhóm chứng. Xét nghiệm tự kháng thể kháng thụ cảm thể acetylcholine (AChR Ab) được thực hiện bằng phương pháp ELISA.

Kết quả:Nồng độ trung bình AChR Ab huyết thanh là 32,67 nmol/l và dương tính ở 91,3% số bệnh nhân (nhóm chứng: 0,37 nmol/l). Xét nghiệm có độ nhạy 91,30 %, độ đặc hiệu và giá trị tiên đoán dương 100%, giá trị tiên đoán âm là 78,94 %. Không có mối liên quan giữa nồng độ AChR Ab huyết thanh với tuổi và giới ở nhóm nghiên cứu.

Kết luận:Xét nghiệm nồng độ AChR Ab huyết thanh có giá trị cao trong chẩn đoán xác định bệnh nhược cơ.

Từ khóa: kháng thể kháng thụ thể acetylcholine, nhược cơ, ELISA.

ASSESSING THE ROLE OF CONCENTRATION OF ACETYLCHOLINE RECEPTOR  AUTOANTIBODIES TESTING IN THE DIAGNOSIS OF MYASTHENIA GRAVIS

Base: Myasthenia gravis is an autoimmune disease with the presence of acetylcholine receptor antibodies in serum, which induced inhibition of impulse conduction in neuromuscular synaptic. Objective: Determine the value of the tested concentrations of the serum antibodies to acetylcholine receptors in diagnosis myasthenia gravis. Subjects and Methods: 92 patients with myasthenia gravis (61 female and 31 male) with a mean age of 44.96 ± 15.74 and 30 subjects as controls. Antibody acetylcholine receptor (AChR Ab) testing is performed by ELISA method. Results: The concentration of the serum AChR Ab average value of 32.67 nmol/l and positive in 91.3% of patients (control group: 0.37 nmol/l). The test had a sensitivity of 91.30%, specificity and positive predictive value of 100%, negative predictive value was 78.94%. No association between serum concentrations of ACHR Ab with age and gender in the study group. Conclusion: AChR Ab test concentration of high value in the determined diagnosis of myasthenia.

Keywords: acetylcholine receptor antibody, Myasthenia gravis, ELISA

*Bệnh viện 103,**Học viện Quân y

  1. 1. ĐẶT VN ĐỀ

Nhược cơ (Myasthenia  Gravis) là bệnh tự miễn mắc phải liên quan đến tổn thương thụ cảm thể acetylcholine ở synap thần kinh – cơ. Trước đây việc chẩn đoán nhược cơ chủ yếu dựa vào lâm sàng và các test điện thần kinh và test điều trị thử. Cùng với sự phát triển của kỹ thuật miễn dịch, các tác giả trên thế giới đã tìm ra kháng thể kháng thụ cảm thể acetylcholine (AChR Ab) có vai trò quan trọng trong bệnh sinh bệnh nhược cơ. Có nhiều tác giả đã coi xét nghiệm định lượng AChR Ab là “ tiêu chuẩn vàng ” để chẩn đoán xác định bệnh nhược cơ. Ở Việt Nam xét nghiệm này chưa được nghiên cứu nhiều, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu:

“Xác định giá trị của xét nghiệm nồng độ kháng thể kháng thụ cảm thể acetylcholine huyết thanh trong chẩn đoán nhược cơ”.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, phương pháp và vật liệu nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu: gồm hai nhóm

- Nhóm bệnh: gồm 92 bệnh nhân được chẩn đoán là nhược cơ điều trị tại khoa Nội Thần kinh Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 10/2010 đến tháng  04/ 2014 theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Klaus V. Toyka, Ralf Gold (2004)[3].

Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Bệnh nhược cơ kết hợp với tổn thương dây thần kinh.

+ Các hội chứng nhược cơ khác.

- Nhóm chứng: gồm 30 người khỏe mạnh, là những người tình nguyện hiến máu nhân đạo, tự nguyện cho máu làm xét nghiệm định lượng nồng độ AChR Ab

2.1.2. Phương pháp nghiên cứu: là nghiên cứu tiến cứu, cắt ngang, mô tả có đối chứng

- Khám bệnh nhân, chọn bệnh nhân theo tiêu chuẩn nghiên cứu

- Xét nghiệm định lượng nồng độ AChR Ab  được tiến hành theo phương pháp pháp xét nghiệm miễn dịch liên kết Enzyme  (Enzyme-linked immunosorbent assays - ELISA) biến thể cạnh tranh[4].

- Bộ kít ELISA định lượng AChR Ab do hãng DRG – Mỹ cung cấp (02 bộ)

- Mẫu huyết thanh của bệnh nhân nhược cơ và người khỏe mạnh được bảo quản ở nhiệt độ - 800C cho đến ngày xét nghiệm.

- Máy đo mật độ quang (đọc ELISA) DTX 880 do hãng BCE – Mỹ sản xuất

- Hóa chất, dụng cụ, vật tư tiêu hao khác đều đạt tiêu chuẩn phân tích do Labo xét nghiệm Miễn dịch - Học viện Quân y cung cấp.

2.2.  Tiến hành nghiên cứu

2.2.1. Khám lâm sàng bệnh nhân nghiên cứu

Bệnh nhân nghiên cứu được khám lâm sàng và làm các test chẩn đoán rồi thống kê theo mẫu bệnh án NC thống nhất

2.2.2.Tiến hành xét nghiệm ELISA xác định nồng độ tự kháng thể kháng thụ thể acetylcholine.

- Lấy 3 ml máu của đối tượng nghiên cứu cho vào ống xét nghiệm không có chất chống đông chuyển đến khoa Huyết học - Bệnh viện Quân y 103 để tách huyết thanh. Bảo quản mẫu và xét nghiệm xác định nồng độ AChR Ab tại Labo Miễn dịch - Học viện Quân y. Đọc kết quả bằng máy đo mật độ quang DTX 880 ở bước sóng 450 nm. Kết quả của các mẫu xét nghiệm được tính toán theo đường chuẩn xây dựng dựa trên 5 điểm chuẩn là 0,2; 0,5; 1; 6,5 và 20 nmol/l.

- Phân tích kết quả:

+ Kết quả dương tính khi nồng độ AChAb ≥ chứng âm  ± 2 SD

( chứng âm lấy theo khuyến cáo của nhà sản xuất bộ Kít: < 0,45 nmol )

+ So sánh kết quả xét nghiệm và nồng độ trung bình (TB) của AChR Ab giữa các nhóm bệnh và nhóm chứng.

2.2.3. Xử lí số liệu trên máy vi tính bằng các thuật toán thống kê

Dựa vào bảng 2x2 tính độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán dương trong chẩn đoán nhược cơ.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Nhóm bệnh gồm 61 nữ và 31 nam (tỉ lệ nữ/nam = 1,96/1) với  tuổi TB là 44,96 ± 15,74 trong đó tuổi TB của nam là 47,74 ±  20,48, của nữ là 43,54 ±  12,29.

Nhóm chứng gồm18 nữ , 12 nam; (nữ / nam=1.5/1), tuổi TB: 20,53  ±  1,04

3.2. Nồng độ AChR Ab của nhóm bệnh và nhóm chứng

Nhận xét: nồng độ TB của nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng rất nhiều, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Ngưỡng chẩn đoán (cut off) ≥ 0,52 nmol/l.

Nhận xét: Nồng độ trung bình và tỉ lệ dương tính của hai giới là gần tương đương, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p>0,05

Nhận xét: sự khác biệt về nồng độ tự kháng thể kháng thụ cảm thể acetylcholine huyết thanh giữa các nhóm tuổi ở nghiên cứu này là không có ý nghĩa thống kê

Ghi chú: qua bảng 2x2 ta tính được giá trị của xét nghiệm nồng độ AChR Ab  trong chẩn đoán nhược cơ có độ nhạy: 91,30  %, độ đặc hiệu: 100  %, giá trị tiên đoán dương:100  % và giá trị tiên đoán âm: 78,94 %, không có trường hợp nào dương tính giả.

4. BÀN LUẬN

4.1. Về đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Nhóm nghiên cứu có tỷ lệ nữ nhiều hơn nam, trong khi tuổi mắc bệnh trung bình của nam cao hơn nữ, điều này là phù hợp với y văn và các nghiên cứu trong và ngoài nước về đặc điểm của bệnh nhược cơ. Ngoài tiêu chuẩn chọn như trên, chúng tôi còn loại trừ các bệnh nhân bị kết hợp với các bệnh tự miễn khác như viêm khớp dạng thấp, bệnh hệ thống…Chúng tôi chọn nhóm chứng là những người hiến máu tình nguyện đã được xét nghiệm sàng lọc đảm bảo đủ tiêu chuẩn hiến máu, bảo đảm sự tương đồng về giới, nhóm chứng có tuổi đời thấp hơn nhóm bệnh, tuy nhiên theo bảng 3.3 thì nồng độ AChR Ab không liên quan tới tuổi nên mặc dù hai nhóm có độ tuổi không tương đồng vẫn cho kết quả khách quan. Lindstrom J.M. (1976) cho rằng nồng độ AChR Ab không liên quan tới tuổi và giới [4].

4.2. Về nồng độ AChR Ab  huyết thanh ở nhóm nghiên cứu

Bệnh nhược cơ là bệnh tự miễn vì vậy việc xuất hiện một tự kháng thể trong bênh này đã được các tác giả khẳng định, đó là kháng thể kháng thụ cảm thể acetylcholine (AChR Ab). Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã xác định nồng độ kháng thể này tăng cao có ý nghĩa so với nhóm chứng.. Bảng 3.1, 3.2, 3.3 cho thấy nồng độ AChR Ab trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 32,67 nmol/l , tỷ lệ dương tính là 91.3% so với nhóm chứng sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kết quả này là tương đương với các nghiên cứu trên thế giới.

Về giá trị của xét nghiệm AChR Ab trong chẩn đoán nhược cơ, hầu hết các tác giả đề cho rằng đây là một xét nghiệm có giá trị chẩn đoán xác định nhược cơ với tỷ lệ dương tính cao. Angela Vincen và CS (2003) nghiên cứu 153 BN thấy tỷ lệ xét nghiệm này dương tính là 85% [1]. Sidra Auragzeb và CS (2009) thấy 100% số BN dương tính với xét nghiệm này và cho rằng đây là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán nhược cơ [5]. Nghiên cứu của chúng tôi qua bảng 3.4 ta tính được giá trị của xét nghiệm nồng độ AChR Ab  trong chẩn đoán nhược cơ có độ nhạy: 91,30  %, độ đặc hiệu: 100  %, giá trị tiên đoán dương:100  % và giá trị tiên đoán âm: 78,94 %, không có trường hợp nào dương tính giả. Annapurni Jayam và CS (2012) cho rằng xét nghiệm AChR Ab có vai trò chẩn đoán hữu hiện, tỷ lệ dương tính giả rất thấp [2].

Tóm lại, xét nghiệm nồng độ AChR Ab huyết thanh là một xét nghiệm có giá trị chẩn đoán nhược cơ với độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Cần có nghiên cứu tiếp theo với số lượng lớn để khẳng định vai trò như là một yếu tố chẩn đoán xác định nhược cơ.

 

KẾT LUẬN

Nghiên cứu nồng độ AChR Ab của 92 bệnh nhân nhược cơ có tuổi trung bình là 44,96 ± 15,74 và 30 đối tượng làm nhóm chứng chúng tôi rút ra một số  kết luận sau:

- Nồng độ trung bình AChR Ab của nhóm bệnh: 32,67±20,18nmol/l (ngưỡng chẩn đoán dương tính là ≥ 0,52 nmol/l) với tỉ lệ dương tính: 91,30%. Nồng độ TB của nhóm chứng là 0,37± 0,075 nmol/l và không có trường hợp nào dương tính. Không có mối liên quan giữa nồng độ AChR Ab huyết thanh với tuổi và giới.

- Xét nghiệm nồng độ  AChR Ab huyết thanh có độ nhạy: 91,30  %, độ đặc hiệu và giá trị tiên đoán dương:100  %, giá trị tiên đoán âm: 78,94 %, không có trường hợp nào dương tính giả.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Angela Vincent, Mc Convill J. Et all (2003), Antibodies in myasthenia gravis and related disorder, Ann N Y Acad Sci., pp. 998 – 1324, Radioimunoprecipitation
  2. Annapurni Jayam Trouth et all (2012), ”Myasthenia gravis: A review autoimmune disease”, http:dx.doi.org/10.1155/2012/874680.
  3. Klaus V. Toyka, Ralf Gold (2004), “ Bệnh nhược cơ ”, Thần kinh học lâm sàng, (Chủ biên: Daniel D.Trương, Lê Đức Hinh, Nguyễn Thi Hùng, Trần Công Thắng dịch), NXB Y Học, TP HCM, tr.: 614 – 629.
  4. 4. Lindstrom J.M. et all (1976), “ Antibody to acetylcholine receptor in myasthenia gravis prevalen, clinical correlates and diagnosis value”, Neurology, pp. 1054 – 1059.
    1. Sidra Auragzeb (2009), “ Relationship between Anti - acetylcholine  Receptor Antibody Titres and Severty of Myasthenia Gravis”.

www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/19438131

Phan Thanh Hiếu*, Phan Việt Nga*, Nhữ Đình Sơn*, Nguyễn Giang Nam*, Đỗ Khắc Đại**

Bộ môn – Khoa Nội Thần kinh, Bệnh viện Quân y 103

 

 

 

Dịch vụ thiết kế website wordpress