Trang chủ Thông tin y khoa Tin tức y khoa Bài báo y học Đánh giá thất bại điều trị bệnh nhân AIDS của hai phác đồ bậc 1:

Đánh giá thất bại điều trị bệnh nhân AIDS của hai phác đồ bậc 1:

T6, 09/10/2020

Phạm Bá Hiền, Thẩm Chí Dũng, Trần Viết Tiến, Nguyễn Văn Mùi

Tạp chí Thông tin Y dược, số 3/2009, tr 18-21.

 

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá thất bại của hai phát đồ bậc 1: Stavudin + lamivudin + nevirapin (d4T/3TC/

NVP) và zidovudin + lamivudin + vevirapin (AZT/3TC/NVP).

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu trên 98 bệnh nhân AIDS được điều trị tại

Bệnh viện Đống Đa, Hà nội trong 2 năm (2006-2008).

Kết quả: Tỷ lệ thất bại điều trị sau 18 tháng ở nhóm 1 (D4T/3TC/NVP) là 11,1% và ở nhóm 2

(AZT/3TC/NVP) là 8,9%. Thất bại về lâm sàng chỉ xuất hiện khi bệnh nhân đã bị thất bại về

miễn dịch và/ hoặc virus. Tỷ lệ chết/mắc là 1,0% (1/98) liên quan đến thất bại điều trị hoàn

toàn. Tỷ lệ thay đổi phác đồ điều trị ở nhóm sử dụng (d4T/3TC/NVP) là 1,1% và ở nhóm sử

dụng (AZT/3TC/NVP) là 2,2%.

Kết luận: Cần phải dựa vào các tiêu chuẩn khác nhau để quyết định đưa ra giải pháp điều trị

thích hợp. Đo tải lượng virus và đếm số lượng TCD4 để sớm phát hiện thất bại điều trị. Nghiên

cứu trên quần thể lớn và thời gian dài hơn được khuyến nghị thực hiện để có thể xác định

phác đồ điều trị thích hợp.

 

Treatment failure among AIDS patients after using An tiretroviral Therapy: Stavudin + Lamivudin + Nevirapin vμ Zidovudin + Lamivudin + Nevirapin

Summary

Objectives: To evaluate the treatment failure of two antiretroviral therapies (d4T/3TC/NVP and

AZT/3TC/NVP).

Subjects and methods: a longitudinal cohort study has been conducted with the participation

of 98 AIDS volunteer patients in Dong Da General Hospital, Hanoi for two years (2006 -2008).

Results: the proportion of treatment failure after 18 month experiment in group 1 (d4T/3TC/

NVP ) was 11.1% and group 2 (AZT/3TC/NVP) was 8.9%. The failure on clinical signs was

occurred only after failures on immunological and/or viral status. Case fatality rate was 1.0%

(1/98) due to entire failure. Switching to new ARV therapy in group 1 accounted for 1.1% and

group 2 comprised of 2.2%.

Conclusions: before the initiation of relevant ARV delivery, the decision should be based on

comprehensive conditions in each patient (clinical, immunology and rival load status). Viral

load and TCD4 count should be measured in early stages. A further study with a larger sample

size and longer following up period are recommended to determine a relevant ARV therapy

Dịch vụ thiết kế website wordpress