Đại cương gây tê

T6, 09/10/2020

1. ĐỊNH NGHĨA

Gây tê là một phương pháp vô cảm sử dụng các tác nhân hóa học hoặc vật lý ức chế tạm thời dẫn truyền xung động thần kinh để làm mất cảm giác đau ở một vùng nhất định của cơ thể.

- Các phương pháp vô cảm: Gây mê, gây tê, phối hợp gây mê và gây tê…

- Tác nhân gây tê:

* Hóa học: Các thuốc tê

* Vật lý: Nhiệt độ(làm lạnh)

- Phạm vi vô cảm: Một vùng của cơ thể (bệnh nhân không mất ý thức)

Phân biệt với gây mê: Mất cảm giác đau toàn thân (bệnh nhân tạm thời mất ý thức)

2. PHÂN LOẠI

Gây tê được chia thành hai phương pháp:

- Gây tê tại chỗ (Local anesthesia).

- Gây tê vùng (Regional anesthesia).

2.1. Gây tê tại chỗ

Các tác nhân hóa học - vật lý tác động trực tiếp lên những nhánh tận cùng của thần kinh ngoại vi.

Phương pháp này bao gồm:

2.1.1. Gây tê bề mặt (Surface anesthesia)

Thực hiện bằng cách nhỏ, phun, bôi thuốc tê lên bề mặt niêm mạc. Phương pháp này thường dùng trong các phẫu thuật mắt, tai, mũi, họng, nội soi, răng miệng.

2.1.2. Gây tê thấm (Infiltration anesthesia)

Còn gọi là phương pháp Visnepxki, thực hiện bằng cách tiêm thuốc tê theo từng lớp tổ chức. Chỉ sử dụng cho các trường hợp mổ nhỏ, mổ nông, chích rạch áp xe...

2.1.3. Gây lạnh

Phun các loại thuốc mê bốc hơi nhanh lên mặt da (Kélen): Dùng trong chích  rạch áp xe

2.2. GÂY TÊ VÙNG

Thuốc tê tác dụng trực tiếp lên các đường dẫn truyền thần kinh (thân, đám rối, rễ thần kinh), làm mất cảm giác đau ở một vùng tương ứng do thần kinh đó chi phối.

Ví dụ:

- Gây tê dây thần kinh đùi…

- Gây tê đám rối thần kinh cổ.

- Gây tê đám rối thần kinh cánh tay.

- Gây tê ngoài màng cứng.

- Gây tê dưới màng nhện (gây tê tuỷ sống)…

3. CHỈ ĐỊNH VÀ PHẢN CHỈ ĐỊNH.

3.1. Chỉ định

- Phẫu thuật : Chỉ định rộng rãi ở lâm sàng

- Chống đau : Nội khoa, ngoại khoa

3.2. Phản chỉ định

+ Bệnh nhân không đồng ý gây tê.

+ Phản ứng với thuốc tê.

+ Nhiễm trùng vùng gây tê.

+ Bệnh nhân bị bệnh tâm thần.

+ Bệnh nhân động kinh.

+ Bệnh nhân có bệnh ưa chảy máu.

4. THUỐC TÊ

4.1. ĐỊNH NGHĨA

Thuốc tê là thuốc có tác dụng làm mất cảm giác đau tạm thời tại chỗ tiêm hoặc một vùng nhất định của cơ thể

4.2. Phân loại

4.2.1. Theo nguồn gốc

- Tự nhiên: Cocain.

- Tổng hợp: Chiếm hầu hết các thuốc tê hiện nay.

4.2.2. Theo công thức hoá học

- Nhóm ester: Cocain, novocain, chloroprocain, tetracain

- Nhóm amide: Lidocain, marcain, ropivacain, etidocain

4.3. Sử dụng lâm sàng

V. CÁC THUỐC PHỐI HỢP

- Thuốc co mạch : Adrenalin nồng độ sử dụng 1/200.000 (5microgam adrenalin/ml thuốc tê).

- Thuốc họ morphin : Morphin, dolargan, fentanyl, sufentanil…

- Các thuốc khác : Ketamin, clonidin, prostigmin, midazolam….

VI. BIẾN CHỨNG.

Biến chứng của gây tê bao gồm: Những biến chứng do kỹ thuật gây tê và những biến chứng do thuốc tê gây nên. ở bài này chỉ đề cập đến những biến chứng do thuốc tê gây nên

1. Ngộ độc thuốc tê:

+ Điều kiện gây ngộ độc:

- Nồng độ thuốc tê trong máu bệnh nhân tăng cao quá mức cho phép.

Nồng độ thuốc tê trong máu chấp nhận được của mỗi thuốc tê khác nhau

(Marcain, etidocain 1-2mcg/ml huyết tương; Mepivacain 4mcg/ml huyết tuơng; Lidocain, prilocain 5mcg/ml huyết tương)

+ Nguyên nhân ngộ độc:

- Tiêm nhầm thuốc tê vào mạch máu

- Dùng quá liều thuốc tê

- Gây tê ở vùng giàu mạch máu: Cổ tử cung, tầng sinh môn, gây tê thần kinh liên sườn hai bên.

+ Triệu chứng ngộ độc:

Hai cơ quan dễ bị tác động của thuốc tê là thần kinh trung ương và tim mạch

- Thần kinh trung ương: Nhức đầu nhẹ, ù tai, rối loạn thị lực, tê môi và lưỡi, nặng hơn có thể: Máy cơ, mất ý thức, co giật và hôn mê. Tình trạng ưu thán, thiếu oxy, toan máu có thể làm tăng thêm độc tính của thuốc tê trên thần kinh trung ương.

Điều trị: Khi bệnh nhân có những biểu hiện sớm của ngộ độc thuốc tê thì phải ngừng tiêm thuốc ngay, cho thở oxy. Nếu bệnh nhân bị co giật: Dùng thuốc nhóm benzodiazepin (Seduxen 5-10mg hoặc midazolam 1-2mg). Hoặc nhóm barbiturat (Thiopental 50-200mg). Có thể dùng thuốc giãn cơ ngắn succinylcholin để đặt ống nội khí quản.

- Tim mạch: So với hệ thần kinh trung ương, hệ tim mạch khó bị tác động bởi thuốc tê hơn. Nồng độ thuốc tê trong máu ở mức rất cao mới gây tác động lên hệ tim mạch (ví dụ: Với lidocain nồng độ 25 mcg/ml huyết tương mới gây tác động trên hệ tim  mạch, có nghĩa là nồng cao gấp 5 lần nồng độ gây nên triệu chứng trên hệ thần kinh trung ương). Nói chung khi thuốc tê đã gây ảnh hưởng đến hệ tim mạch thì rất khó điều trị, nguy cơ tử vong rất cao.

+ Triệu chứng: Mạch chậm, loạn nhịp, tụt huyết áp do thuốc tê ức chế co bóp cơ tim, ức chế hệ dẫn truyền và gây giãn mạch ngoại vi.

+ Điều trị: Thở oxy, thuốc co mạch, truyền dịch, bóp tim ngoài lồng ngực khi có chỉ định. Điều trị loạn nhịp

2. Dị ứng:

Thuốc tê nhóm ester hay gây dị ứng hơn so với nhóm amid

Thuốc tê nhóm ester: Chất chuyển hoá của chúng là axit P-aminobenzoic là chất gây dị ứng. Những thuốc tê nhóm này có thể gây ra dị ứng ở những người mẫn cảm với thuốc nhóm sulfonamide hoặc thuốc lợi tiểu thiazide.

Thuốc tê nhóm amid : Hiếm khi gây dị ứng. Tuy nhiên, chất bảo quản methylparaben pha trong thuốc tê có thể gây dị ứng.

Phản ứng dị ứng tại chỗ có thể gặp: Ban đỏ, mề đay, phù, viêm da...

Phản ứng dị ứng toàn thân: Hiếm gặp, triệu chứng lâm sàng (ban đỏ, mề đay, phù toàn thân, co thắt phế quản, trụy tim mạch, tụt huyết áp). Điều trị: Adrenalin, thuốc kháng histamin, thuốc giãn phế quản, thuốc co mạch, corticoid.

3. Độc tính tại chỗ:

Hiếm khi thuốc tê gây ra tổn thương tại chỗ.

Trong những trường hợp tiêm nhầm lượng thuốc tê lớn, nồng độ cao hoặc thuốc tê có lẫn hoá chất khác vào tuỷ sống có thể gây tổn thương thần kinh. Sử dụng lidocain 5% để gây tê tuỷ sống có thể gây tổn thương thần kinh vì thế người ta khuyên không nên sử dụng lidocain 5% để gây tê tuỷ sống.


Dịch vụ thiết kế website wordpress