Phan Việt Nga
Tạp chí Y học thực hành Bộ Y tế, số 6/2009
Tóm tắt
Qua nghiên cứu lâm sàng và hình ảnh chụp cộng hưởng từ của 33 bệnh nhân thoát vị đĩa
đệm cột sống cổ thấy rằng:
1.Tuổi thường gặp là 40 - 59, chiếm 72,72%. Nam mắc bệnh nhiều hơn nữ, tỷ lệ nam/nữ là
2,1. Bệnh nhân có hội chứng cột sống cổ là 48,48%, hội chứng rễ-tuỷ là 54,54% và hội chứng
chèn ép tuỷ đơn thuần là 27,28%. Hội chứng liệt tứ chi có giá trị chẩn đoán thoát vị đĩa đệm
có chèn ép tuỷ.
2. Thoát vị 1 tầng chiếm 45,45% (15/33), chủ yếu ở C5 – C6 (24,24%). Thoát vị kép hay gặp
tại C4-C5, C5-C6 và đa tầng ở C3-C4, C4-C5, C5-C6.
Thoát vị trung tâm và cạnh trung tâm chiếm tỷ lệ cao. Tổn thương kèm theo chủ yếu là thoái
hoá cột sống cổ và thoái hoá đĩa đệm.
Summary
Study on clinical and MRI of 33 patients indicated that:
1.Age group from 40 to 59 was the most frequently met (72.72%). The male was more than
female. The patiens with cevical vertebrae syndroms, cervical myeloradiopathy and simple
myelo compression accounted for 48.48%, 54,54% and 27.28% respectively. Quadriplegia
syndrom was useful for diagosis myelo compressed cervical vertebrae herniation.
2.The monodisc herniated accouted for 45.45 (15/33), mostly C5 – C6 (24.24%). The double
discs and multidiscs herniated were mostly met at C4-C5, C5-C6 and C3-C4, C4-C5, C5-C6
respectively. The central and paracentral herniated discs were high. The damage acompanied
with disc herniation was cervical vertebrae and disc spondylosis.diagosis












