Trang chủ Thông tin y khoa Tin tức y khoa Bài báo y học Đặc điểm lâm sàng và chất lượng cuộc sống của người bệnh trước và sau điều trị rối loạn nhịp tim bằng năng lượng sóng có tần số radio tại khoa nội tim mạch – bệnh viện quân y 103

Đặc điểm lâm sàng và chất lượng cuộc sống của người bệnh trước và sau điều trị rối loạn nhịp tim bằng năng lượng sóng có tần số radio tại khoa nội tim mạch – bệnh viện quân y 103

T2, 29/03/2021

- Tên tác giả/nhóm tác giả:

  1. Phạm Văn Liêm (Khoa nội Tim mạch, Trung tâm Tim mạch, BVQY 103).
  2. Nguyễn Thị Thu Hà (Khoa nội Tim mạch, Trung tâm Tim mạch, BVQY 103).
  3. Dương Thị Thanh Nhàn (Khoa nội Tim mạch, Trung tâm Tim mạch, BVQY 103).
  4. Phạm Văn Bình (Khoa nội Tim mạch, Trung tâm Tim mạch, BVQY 103).

ThS. Ngô Trung Hiếu (Bộ môn Điều dưỡng, Bệnh viện Quân y 103).

ThS. Nguyễn Văn Tuấn (Khoa nội Tim mạch, Trung tâm Tim mạch, BVQY 103).

Số điện thoại: 0947.895.128

Gmail: hadai103@gmail.com

 

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm lâm sàng và sự thay đổi chất lượng cuộc sống ở người bệnh trước và sau điều trị rối loạn nhịp tim bằng năng lượng sóng có tần số Radio (Radio frequency – RF).

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, 103 người bệnh được điều trị rối loạn nhịp tim bằng năng lượng sóng có tần số radio từ 07/2019 đến tháng 05/2020, đánh giá đặc điểm lâm sàng qua hỏi bệnh và khai thác bệnh án, đánh giá chất lượng cuộc sống bằng thang điểm Aquarel tại thời điểm trước và sau điều trị rối loạn nhịp bằng RF 1 tháng.

Kết quả: Tỷ lệ nam/nữ là 1,01/1, bệnh kết hợp bao gồm tăng huyết áp, đái tháo đường típ 2, bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính chiếm tỷ lệ 52,4%, 7,8%, 24,3%. Cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất và ngoại tâm thu thất là hai rối loạn nhịp thường gặp nhất. Triệu chứng lâm sàng hay gặp gồm hoa mắt, chóng mặt, mệt mỏi và đau ngực. Sau điều trị rối loạn nhịp bằng năng lượng sóng có tần số radio, triệu chứng lâm sàng và chất lượng cuộc sống cải thiện có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Kết luận: Điều trị rối loạn nhịp tim bằng năng lượng sóng có tần số radio giúp cải thiện có ý nghĩa triệu chứng lâm sàng và chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Từ khóa: Chất lượng cuộc sống, điều trị rối loạn nhịp bằng năng lượng sóng có tần số radio.

ABSTRACT

Objective: Assessment of clinical characteristics and quality of life of patients before and after radiofrequency arrhythmias ablation.

Methodology: Descriptive study, 103 patients underwent radiofrequency arrhythmias ablation from 07/2019 to 05/2020, assessment of clinical characteristics by questioning and medical record, quality of life assessment using Aquarel questionnaire at the time before and after 1 month of radiofrequency arrhythmias treatment.

Results: The male/female ratio is 1.01/1, comorbidity include hypertension, type 2 diabetes, chronic ischemic heart disease accounting for 52.4%, 7.8% and 24.3%, respectively. Paroxysmal supraventricular tachycardia and premature ventricular contraction are the two most common arrhythmias. Common clinical symptoms include dizziness, fatigue and chest pain. After radiofrequency arrhythmias ablation, clinical symptoms and quality of life improved with statistically significant (p < 0.05).

Conclusion: Radiofrequency arrhythmias ablation significantly improves the clinical symptoms and quality of life of the patients.

Keywords: Quality of life, radiofrequency ablation, arrhythmia.

  1. ĐẶT VẤN ĐỀ

        Rối loạn nhịp tim là một tình trạng bất thường về nhịp tim, có thể gặp ở mọi lứa tuổi và xuất hiện ở bất kỳ thời điểm nào, bệnh gây nên các triệu chứng như: hồi hộp, trống ngực, cảm giác hẫng hụt ở ngực, tức ngực, khó thở, ngất, xỉu… nặng hơn có thể suy tim, tụt huyết áp. Sự xuất hiện, diễn tiến và kết thúc của rối loạn nhịp tim rất đa dạng, có thể đột ngột như cơn rung nhĩ, nhịp nhanh kịch phát trên thất, nặng nề nhất là rung thất, vô tâm thu gây tử vong. Bệnh thường ít gây tử vong nhưng gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Điều trị bằng thuốc chống loạn nhịp là phương pháp điều trị kinh điển, tuy nhiên hiệu quả điều trị trong một số rối loạn nhịp còn chưa cao. Phương pháp điều trị triệt đốt rối loạn nhịp bằng năng lượng sóng có tần số radio (Radio frequency – RF) đã chứng minh ưu điểm trong điều trị dứt điểm các rối loạn nhịp, từ đó cải thiện triệu chứng lâm sàng giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh [1], [2]. Aquarel là bộ câu hỏi được phát triển mở rộng dựa trên cơ sở bộ câu hỏi SF-36, nhằm mục đích đánh giá sự cải thiện về triệu chứng lâm sàng và chất lượng cuộc sống của người bệnh sau điều trị rối loạn nhịp tim [4]. Bộ câu hỏi Aquarel gồm 24 câu hỏi chia làm 4 nhóm: Đánh giá sự khó chịu ở ngực (Câu hỏi 1,2,3,4,5,6,11,12), Đánh giá sự khó thở và khả năng gắng sức (Câu hỏi 7,8,9,10,22,23,24), Đánh giá về nhận thức (Câu hỏi 18,19,20,21), Đánh giá về rối loạn nhịp tim (Câu hỏi 13,14,15,16,17) [4].

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu đánh giá đặc điểm lâm sàng và khảo sát chất lượng cuộc sống của người bệnh trước và sau điều trị rối loạn nhịp tim bằng năng lượng sóng có tần số radio.

  1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1. Đối tượng

        103 người bệnh được chẩn đoán và điều trị rối loạn nhịp bằng năng lượng sóng có tần số Radio tại khoa Nội tim mạch - Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 7/2019 đến tháng 5/2020

* Tiêu chuẩn lựa chọn

- Người bệnh được chẩn đoán rối loạn nhịp tim và có chỉ định triệt đốt rối loạn nhịp theo khuyến cáo của hội tim mạch Việt Nam năm 2010.

- Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu

* Tiêu chuẩn loại trừ

- Người bệnh mắc các bệnh lý mạn tính (suy tim, suy thận, suy gan nặng) gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.

- Người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu.

2.2. Phương pháp

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả.

2.2.2. Cỡ mẫu

        Phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Tổng số 103 người bệnh đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu

2.2.3. Thu thập số liệu

        - Lựa chọn đối tượng nghiên cứu

        - Người bệnh được hỏi bệnh đánh giá đặc điểm lâm sàng, điện tim trước RF

- Đánh giá các biến chứng và triệu chứng lâm sàng sau RF

- Đánh giá chất lượng cuộc sống thông qua bộ câu hỏi Aquarel (trước RF và sau RF 1 tháng) bằng phỏng vấn trực tiếp hoặc qua điện thoại.

2.2.4. Xử lý và phân tích số liệu

        Số liệu được sử lý bằng phần mềm SPSS 20.0. Các biến định lượng được thể hiện dưới dạng trung bình và độ lệch chuẩn. Các biến định tính thể hiện dưới dạng tỉ lệ phần trăm. Sử dụng T-Test để so sánh các giá trị trung bình. p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê.

  1. KẾT QUẢ

Bảng 3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm n/X ± SD Tỷ lệ % p
Tuổi Nam 52 (49,88 ± 18,92)   > 0,05
Nữ 51 (56,31 ± 12,39)  
Tổng 103 (53,07 ± 16,27)    
Giới Nam 52 50,5 > 0,05
Nữ 51 49,5
Bệnh kết hợp Tăng huyết áp 54 52,4  
Đái tháo đường typ 2 8 7,8  
Bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính 25 24,3  

Đối tượng nghiên cứu gồm 103 người bệnh, tỷ lệ nam/nữ: 1,01/1 (52/51 người bệnh), tuổi trung bình: 53,07 ± 16,27, không có sự khác biệt về giới và tuổi trung bình giữa nhóm người bệnh nam và nữ. Tỷ lệ người bệnh bị bệnh kết hợp là tăng huyết áp chiếm cao nhất (52,4%).

Bảng 3.2. Chỉ định điều trị rối loạn nhịp bằng RF

Chỉ định Số lượng Tỷ lệ %
Cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất 37 35,9
Ngoại tâm thu thất 50 48,5
Nhanh thất 3 2,9
Hội chứng Wolff – Parkinson – White 10 9,7
Nhanh nhĩ 3 2,9
Tổng 103 100

Rối loạn nhịp tim gặp nhiều nhất là ngoại tâm thu thất (48,5%) và cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất (35,9%). Tỷ lệ người bệnh bị nhanh nhĩ và nhanh thất chiếm tỷ lệ thấp (2,9%).

Bảng 3.3. Triệu chứng lâm sàng trước RF

Triệu chứng Số lượng Tỷ lệ %
Ngất hoặc thỉu 18 17,5
Hoa mắt, chóng mặt 80 77,7
Mệt mỏi 92 89,3
Đau ngực 73 70,9
Hồi hộp trống ngực 42 40,8
Hụt hơi 17 16,5
Không có triệu chứng 1 0,97

        Bảng triệu chứng lâm sàng của rối loạn nhịp tim rất đa dạng, trong đó mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, đau ngực là những triệu chứng lâm sàng hay gặp nhất. Tỷ lệ người bệnh không có triệu chứng chiếm tỷ lệ thấp.

Bảng 3.4. Biến chứng sau RF

Biến chứng Số lượng Tỷ lệ %
Mạch máu 1 0,97
Cường phế vị sau ép mạch máu 2 1,94
Tràn dịch màng ngoài tim 0 0
Nhiễm khuẩn 0 0

Sau điều trị rối loạn nhịp tim bằng RF, tỷ lệ người bệnh bị các biến chứng chiếm tỷ lệ thấp, có 1 người bệnh bị tụ máu dưới da (chiếm 0,97%), 2 người bệnh có triệu chứng cường phế vị sau ép mạch máu (chiếm 1,94%). Không có người bệnh bị biến chứng nặng như nhiễm khuẩn hay tràn máu màng ngoài tim.

Bảng 3.5. Triệu chứng lâm sàng sau RF

Triệu chứng Số lượng Tỷ lệ %
Ngất hoặc thỉu 1 0,97
Hoa mắt, chóng mặt 10 9,7
Mệt mỏi 6 5,8
Đau ngực 8 7,8
Hồi hộp trống ngực 5 4,9
Hụt hơi 2 1,9

So sánh với trước RF, sau điều trị rối loạn nhịp bằng RF, các triệu chứng lâm sàng giảm có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

Biểu đồ 3.1. So sánh triệu chứng lâm sàng trước và sau điều trị rối loạn nhịp tim bằng RF

Bảng 3.6. Chất lượng cuộc sống trước và sau điều trị rối loạn nhịp tim bằng RF

  Trước RF Sau RF 1 tháng p
Điểm Aquarel 79,96 ± 10,21 86,68 ± 7,97 < 0,05
Khó chịu ở ngực 82,66 ± 12,35 89,61 ± 12,07 < 0,05
Khó thở và khả năng gắng sức 77,60 ± 10,63 81,65 ± 10,47 < 0,05
Nhận thức 79,56 ± 9,25 87,62 ± 11,36 < 0,05
Rối loạn nhịp tim 78,74 ± 14,05 87,14 ± 11,87 < 0,05

        Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh trước và sau điều trị rối loạn nhịp tim bằng RF nhận thấy sau RF sự cải thiện chất lượng cuộc sống có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Bảng 3.7. Chất lượng cuộc sống ở nhóm người bệnh bị cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất

  Trước RF Sau RF 1 tháng p
Điểm Aquarel 78,44 ± 9,73 87,56 ± 7,09 < 0,05
Khó chịu ở ngực 80,07 ± 12,22 90,47 ± 8,57 < 0,05
Khó thở và khả năng gắng sức 76,92 ± 9,5 83,2 ± 7,23 < 0,05
Nhận thức 78,35 ± 9,63 87,12 ± 7,56 < 0,05
Rối loạn nhịp tim 77,3 ± 13,82 88,38 ± 11,05 < 0,05

        Ở nhóm người bệnh bị cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất, chất lượng cuộc sống sau điều trị RF tăng có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với trước khi điều trị.

Bảng 3.8. Chất lượng cuộc sống ở nhóm người bệnh bị ngoại tâm thu thất

  Trước RF Sau RF 1 tháng p
Điểm Aquarel 80,82 ± 10,11 86,1 ± 8,2 < 0,05
Khó chịu ở ngực 84,59 ± 11,48 90,75 ± 9,37 < 0,05
Khó thở và khả năng gắng sức 78,5 ± 10,83 81,36 ± 7,91 < 0,05
Nhận thức 81,82 ± 9,67 88,12 ± 7,83 < 0,05
Rối loạn nhịp tim 78,3 ± 14,41 85,6 ± 12,56 < 0,05

Ở nhóm người bệnh bị ngoại tâm thu thất, chất lượng cuộc sống sau điều trị RF tăng có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với trước khi điều trị.

  1. BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng của người bệnh trước và sau điều trị rối loạn nhịp tim bằng năng lượng sóng có tần số radio.

4.1.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Theo các nghiên cứu, nữ giới thường than phiền về nhiều triệu chứng của bệnh, việc giảm hoặc mất khả năng lao động cũng như sử dụng các biện pháp điều trị. Đồng thời, họ cũng dễ dàng nhận ra những thay đổi về tình trạng bệnh trong quá trình điều trị. Trong nghiên cứu của chúng tôi, số người bệnh nam và nữ lần lượt là 50,5% và 49,5%. Điều này sẽ tránh được những sai số do sự khác biệt về giới trong quá trình đánh giá hiệu quả điều trị trong lĩnh vực chất lượng cuộc sống.

Tuổi trung bình của người trong nghiên cứu là 53,07 ± 16,27. So sánh với kết quả nghiên cứu của Erik O.Udo [5] và Barros [3] lần lượt là 72,2 ± 10,7 và 69,3 ± 12,6. Ở độ tuổi thấp như vậy sẽ giúp chúng tôi giảm bớt sai số do ảnh hưởng của tuổi đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Ngoài ra, một điều đáng chú ý là tuổi của người bệnh trong các nghiên cứu đều rất thay đổi (phương sai đều lớn hơn 10). Điều đó cho thấy bệnh lý rối loạn nhịp nói chung có thể gặp ở bất kỳ độ tuổi nào. Không có sự khác biệt về giới và tuổi trung bình giữa nhóm bệnh nam và nữ.

Ở bảng 3.1, tỷ lệ người bệnh mắc bệnh kết hợp tăng huyết áp chiếm tỷ lệ cao nhất (52,4%). Nguyên nhân là đa số người bệnh trong nghiên cứu có độ tuổi trên 50 tuổi. Đây là những đối tượng dễ mắc bệnh lý tăng huyết áp do tình trạng xơ vữa mạch tuổi già. Tỷ lệ này tương ứng với nghiên cứu của tác giả Eric O.Udo là 61% [5].

4.1.2. Chỉ định điều trị rối loạn nhịp bằng RF

Kết quả bảng 3.2 cho thấy, rối loạn nhịp tim gặp nhiều nhất là ngoại tâm thu thất (48,5%). Tỷ lệ người bệnh bị nhanh nhĩ và nhanh thất chiếm tỷ lệ thấp (2,9%). Điều này cho thấy, người bệnh có chẩn đoán ngoại thâm thu thất thường đường gặp ở mọi lứa tuổi, người bệnh cảm nhận rõ ràng nhất là lúc nghỉ ngơi, do đó người bệnh dễ phát hiện ra những dấu hiệu bất thường và tìm đến sự giúp đỡ của bác sỹ.

4.1.3. Biến chứng sau RF

        Sau điều trị rối loạn nhịp tim bằng RF, tỷ lệ người bệnh bị các biến chứng chiếm tỷ lệ thấp, có 1 người bệnh bị tụ máu dưới da (chiếm 0,97%), 2 người bệnh có triệu chứng cường phế vị sau ép mạch máu (chiếm 1,94%). Không có người bệnh bị biến chứng nặng như nhiễm khuẩn hay tràn máu màng ngoài tim. Điều này cho thấy trình độ cũng như kỹ năng của đội ngũ y bác sĩ của khoa Nội tim mạch trong phương pháp điều trị rối loạn nhịp bằng RF.

4.1.4. So sánh triệu chứng lâm sàng trước và sau điều trị rối loạn nhịp tim bằng RF

Trước điều trị đốt điện, các triệu chứng thường gặp như hoa mắt, chóng mặt, mệt mỏi, đau ngực và hồi hộp trống ngực gặp ở hầu hết người bệnh, chiếm tỉ lệ cao. Trong đó 80/103 người bệnh nghiên cứu chiếm 77,7% bị hoa mắt chóng mặt. 70,9% người bệnh đau ngực. Gần như tất cả các người bệnh (89,2%) có cảm giác mệt mỏi. 40,8% người bệnh hồi hộp trống ngực. Như vậy, hầu hết các người bệnh phải chịu đựng các triệu chứng một cách nặng nề, các triệu chứng này gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe người bệnh cả về mặt thể chất cũng như tinh thần. Do vậy, gây cản trở người bệnh trong các công việc hàng ngày, tăng cảm giác lo lắng sợ hãi khiến cho người bệnh không thể làm việc được hoặc ngại tiếp xúc với người khác và tự cô lập mình.

Từ biểu đồ 3.1 chúng tôi thấy, sau điều trị đốt điện 1 tháng, tỉ lệ xuất hiện và mức độ các triệu chứng giảm rõ rệt. Phần lớn các người bệnh không còn cảm thấy các cơn hoa mắt, chóng mặt, mệt mỏi, đau ngực và hồi hộp trống ngực nữa. Tương ứng với các tỷ lệ là 9,7%, 5,8%, 7,8%, 4,9%. Đặc biệt, chỉ có 0,97% người bệnh xuất hiện triệu chứng ngất hoặc thỉu.

4.2. Chất lượng cuộc sống của người bệnh trước và sau điều trị rối loạn nhịp tim bằng năng lượng sóng có tần số radio.

4.2.1. Chất lượng cuộc sống trước và sau điều trị rối loạn nhịp tim bằng PF

Bảng 3.6 cho thấy, chất lượng cuộc sống của người bệnh nghiên cứu được cải thiện rõ. Tất cả người bệnh đều có điểm Aquarel tăng lên sau RF 1 tháng. Tổng điểm Aquarel trước RF của nghiên cứu là 79,96 ± 10,21 tăng lên sau RF 1 tháng là 86,68 ± 7,97. Về khó thở và khả năng gắng sức trước RF là 77,60 ± 10,63 được tăng lên sau RF 1 tháng là 81,65 ± 10,47. Về khó chịu ở ngực cũng tăng từ 82,66 ± 12,35 lên 89,61 ± 12,07. Có thể thấy việc thực hiện được các công việc hàng ngày như học tập, lao động… điều mà trước đây họ không dám làm sẽ được cải thiện hơn. Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh trước và sau điều trị rối loạn nhịp tim bằng RF nhận thấy sau RF sự cải thiện chất lượng cuộc sống có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

4.2.2. Chất lượng cuộc sống ở nhóm người bệnh bị cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất

Ở nhóm người bệnh bị cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất, chất lượng cuộc sống sau điều trị RF tăng có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với trước khi điều trị. Điểm Aquarel được tăng lên rõ rệt với trước RF là 78,44 ± 9,73, sau RF 1 tháng là 87,56 ± 7,09. Điều đó chứng tỏ chất lượng cuộc sống của người bệnh được cải thiện đáng kể, việc sinh hoạt hàng ngày hay hoạt động thể lực cũng không còn là rào cản với người bệnh.

4.2.3. Chất lượng cuộc sống ở nhóm bệnh nhân bị ngoại tâm thu thất

Ở nhóm bệnh nhân bị ngoại tâm thu thất, chất lượng cuộc sống sau điều trị RF tăng có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với trước khi điều trị. Điểm Aquarel được tăng lên rõ rệt với trước RF là 80,82 ± 10,11, sau RF 1 tháng là 86,1 ± 8,2. Chất lượng cuộc sống của người bệnh được nâng cao. Người bệnh không còn cảm thấy khó chịu trong người hay mặc cảm về bệnh của mình, đã hòa đồng và trở lại cuộc sống hàng ngày.

  1. KẾT LUẬN

Sau điều trị rối loạn nhịp tim bằng RF, chất lượng cuộc sống của người bệnh bị cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất và bị ngoại tâm thu thất đều được cải thiện đáng kể và có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đỗ Thị Diệu Linh (2015), Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân rối loạn nhịp tim sau cấy máy tạo nhịp tim vĩnh viễn năm 2015. Đề tài tốt nghiệp cử nhân điều dưỡng, trường Đại học Thăng Long.
  2. Nguyễn Mạnh Phan và cộng sự (2008), Khuyến cáo của Hội Tim mạch Việt Nam về chẩn đoán và điều trị loạn nhịp tim. Khuyến cáo về các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa, Tr. 217-234.
  3. Barros, et al (2014), Evaluation of Patients quality of life aspects after cardiac pacemaker implantation, Rev Bras Cir Cardiovasc, 29(1), p. 37-44.
  4. Monique A. M. Stofmeel, Marcel W. M. Post, Johannes C. Kelder, Diederick E. Grobbee, Norbert M. van Hemel (2001), Psychometric properties of Aquarel: a disease-specific quality of life questionnaire for pacemaker patients, Juornal of Clinical Epidemiology 54: p.157-165.
  5. Udo, E.O, et al (2013), Long term quality-of-life in patients with bradycardia pacemaker implantation, Int J Cardiol, 168(3), p. 2159-2163.
Dịch vụ thiết kế website wordpress