- 1. ĐỊNH NGHĨA
Đậu mùa khỉ (monkey pox) là bệnh truyền nhiễm cấp tính, có khả năng gây dịch, do vi rút đậu mùa khỉ gây ra. Bệnh có nguồn gốc từ Châu Phi, lây truyền từ động vật sang người và từ người sang người qua tiếp xúc trực tiếp với tổn thương da, dịch cơ thể, qua quan hệ tình dục, giọt bắn đường hô hấp, vật dụng của người bị nhiễm và lây truyền từ mẹ sang con.
Bệnh có các triệu chứng chính là sốt, phát ban dạng phỏng nước và sưng hạch ngoại vi, có thể gây biến chứng nặng dẫn tới tử vong.
- 2. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ
2.1. Nguyên nhân gây bệnh và đường lây
Là vi rút đậu mùa khỉ và vi rút lây bệnh bằng đường:
+ Tiếp xúc trực với dịch tiết, máu hoặc dịch các tổn thương ở da, niêm mạc của người bị nhiễm bệnh.
+ Tiếp xúc gần qua các giọt bắn đường hô hấp.
2.2. Yếu tố nguy cơ
Bệnh đậu mùa khỉ là bệnh lây truyền từ động vật sang người, việc lây truyền từ người sang người khi tiếp xúc trực tiếp gần, lây qua vết thương hở, dịch cơ thể, giọt bắn lớn của đường hô hấp và qua tiếp xúc với các vật dụng, đồ dùng nhiễm mầm bệnh. Sự lây truyền có thể xảy ra qua nhau thai từ mẹ sang thai nhi hoặc tiếp xúc gần trong và sau khi sinh.
Như vậy, các hoạt động sinh hoạt và tiếp xúc gần với người mắc bệnh, dùng chung vật dụng, quần áo có dính dịch tiết, qua đường tình dục và qua đường hô hấp ở cự li gần cũng có thể lây truyền bệnh.
- 3. DẤU HIỆU NHẬN BIẾT SỚM BỆNH BỆNH ĐẬU MÙA KHỈ
3.1. Ca bệnh nghi ngờ
- Là ca bệnh có một hoặc nhiều yếu tố dịch tễ sau:
+ Trong vòng 21 ngày trước khi khởi phát triệu chứng, có tiếp xúc với trường hợp bệnh xác định hoặc trường hợp bệnh có thể, thông qua tiếp xúc vật lý trực tiếp với da hoặc tổn thương da (bao gồm cả quan hệ tình dục), hoặc tiếp xúc với các vật dụng bị ô nhiễm như quần áo, giường, đồ cùng cá nhân của người bệnh;
+ Có tiền sử đi du lịch đến các quốc gia có lưu hành bệnh đậu mùa khỉ trong vòng 21 ngày trước khi khởi phát triệu chứng;
- Có bệnh cảnh lâm sàng nghi bệnh đậu mùa khỉ.
3.2. Các giai đoạn bệnh
Bệnh diễn biến qua các giai đoạn sau:
- Giai đoạn ủ bệnh: từ 6 đến 13 ngày, (dao động từ 5 đến 21 ngày), lúc này người bệnh không có triệu chứng và không có khả năng lây nhiễm cho người khác.
- Giai đoạn khởi phát: Biểu hiện với các triệu chứng chính là sốt và nổi hạch ngoại vi toàn thân. Kèm theo người bệnh có thể có biểu hiện đau đầu, mệt mỏi, ớn lạnh, đau họng, đau cơ. Vi rút có thể lây sang người khác từ giai đoạn này.
- Giai đoạn toàn phát: đặc trưng bởi sự xuất hiện của các ban trên da, thường gặp sau sốt từ 1 đến 3 ngày, với tính chất sau:
+ Vị trí: phát ban có xu hướng ly tâm, gặp nhiều trên mặt, lòng bàn tay, lòng bàn chân và có thể gặp ở miệng, mắt, cơ quan sinh dục.
+ Tiến triển ban: tuần tự từ dát (tổn thương có nền phẳng) -> đến sẩn (tổn thương cứng hơi nhô cao) -> mụn nước (tổn thương chứa đầy dịch trong) -> mụn mủ (tổn thương chứa đầy dịch vàng) -> đóng vảy khô -> bong tróc và có thể để lại sẹo.
+ Kích thước tổn thương da: trung bình từ 0,5 - 1cm.
+ Số lượng tổn thương da trên một người có thể từ vài nốt cho đến dày đặc. Trường hợp nghiêm trọng các tổn thương có thể liên kết với nhau thành các mảng tổn thương da lớn.

Hình 1: Mụn nước trên da của bệnh đậu mùa khỉ
- Giai đoạn hồi phục: các triệu chứng của bệnh đậu mùa khỉ có thể kéo dài từ 2 đến 4 tuần rồi tự khỏi. Người bệnh hết các triệu chứng lâm sàng, các sẹo trên da có thể ảnh hưởng đến thẩm mỹ và không còn nguy cơ lây nhiễm cho người khác.
3.3. Các thể lâm sàng
- Thể không triệu chứng: người nhiễm vi rút đậu mùa khỉ không có bất kể triệu chứng lâm sàng nào.
- Thể nhẹ: các triệu chứng thường hết sau 2 đến 4 tuần mà không cần bất kỳ biện pháp điều trị đặc hiệu nào.
- Thể nặng: thường gặp trên nhóm đối tượng nguy cơ cao (phụ nữ mang thai, người cao tuổi, trẻ em, người mắc bệnh lý nền, suy giảm miễn dịch,…), có thể dẫn tới tử vong, thường từ tuần thứ 2 của bệnh.
+ Nhiễm khuẩn da: người bệnh có sốt kéo dài, dịch nốt phỏng đục hoặc nốt phỏng bị vỡ chảy dịch đục.
+ Viêm phổi: người bệnh có các triệu chứng như ho, tức ngực, khó thở.
+ Viêm não: ý thức suy giảm, co giật, lú lẫn, hôn mê.
+ Nhiễm khuẩn huyết: sốt kéo dài, tổn thương các cơ quan phủ tạng.
3.4. Cận lâm sàng
Xét nghiệm sinh học phân tử (PCR hoặc tương đương) với các bệnh phẩm dịch hầu họng (giai đoạn khởi phát), dịch nốt phỏng (giai đoạn toàn phát) đối với ca bệnh nghi ngờ để xác định căn nguyên.
- 4. BIỆN PHÁP PHÒNG BỆNH VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI TUYẾN ĐƠN VỊ
4.1. Phòng bệnh
4.1.1. Phòng bệnh đặc hiệu
Sử dụng vắc xin để phòng bệnh đậu mùa khỉ cho những nhóm đối tượng có nguy cơ cao. Một loại vaccine mới được nghiên cứu gần đây, dựa trên một chủng vi rút được sửa đổi để có độc lực nhẹ hơn, gọi là MVA (modified vaccinia Ankara), đã được phê duyệt để phòng bệnh đầu mùa khỉ vào năm 2019.
Tên gọi trên thị trường là JYNNEOS, bao gồm 2 mũi tiêm và vắc xin có hiệu lực bảo vệ sau 14 ngày kể từ mũi tiêm thứ hai.
4.1.2. Phòng bệnh không đặc hiệu
Các biện pháp phòng ngừa chung để tránh lây nhiễm đậu mùa khỉ bao gồm:
- Không tiếp xúc với người/động vật nghi hoặc đã xác định bị bệnh (bao gồm cả động vật bị bệnh hoặc đã chết ở những khu vực xảy ra bệnh đậu mùa khỉ).
- Tránh tiếp xúc với vật dụng, bề mặt có nguy cơ nhiễm vi rút đậu mùa khỉ như khăn trải giường, quần áo người bệnh.
- Cách ly, điều trị người bệnh tại cơ sở y tế.
- Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng và các dung dịch sát khuẩn thông thường sau khi tiếp xúc với người/ động vật nghi ngờ nhiễm bệnh.
- Sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân khi chăm sóc người bệnh: khẩu trang, gang tay, phương tiện bảo hộ...
- Thực hiện đánh giá nguy cơ phơi nhiễm theo các quy định để có biện pháp xử trí phù hợp.
4.2. Điều trị
- Nếu phát hiện ca bệnh thì tổ chức cách ly, khử khuẩn ngay
- Báo cáo với cơ quan quân y cấp trên để chuyển ca bệnh về tuyến sau điều trị mà không giữ điều trị tại đơn vị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- 1. Bộ y tế (2022), Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh đậu mùa khỉ ở người, Quyết định số: 2099/QĐ-BYT, Ngày 29 tháng 7 năm 2022.
- 2. World Health Organization (2022), Clinical management and infection prevention and control for monkeypox: Interim rapid response guidance, 10 June 2022.
TS Lê Văn Nam
CN Bộ môn - Khoa truyền nhiễm












