Trang chủ Thông tin y khoa Thông tin y học Cấp cứu, điều trị thành công bệnh nhân ngộ độc thuốc diệt cỏ Diquat

Cấp cứu, điều trị thành công bệnh nhân ngộ độc thuốc diệt cỏ Diquat

T6, 14/04/2023

Ngày 13/03/2023 khoa máu, độc xạ và bệnh nghề nghiệp - Bệnh viện Quân y 103 có tiếp nhận bệnh nhân Đỗ Thành N. 27 tuổi, nhập viện trong tình trạng ngộ độc do uống thuốc diệt cỏ Diquat. Theo người nhà bệnh nhân kể lại, khoảng 14h30 ngày 07/03/2023, do phiền muộn trong chuyện gia đình nên bệnh nhân nảy sinh ý định tử tự uống khoảng 30 mL thuốc diệt cỏ Niquat (thành phần chứa Diquat dibromide). Sau uống bệnh nhân xuất hiện đau bụng vùng thượng vi, nôn nhiều lần ra dịch tiêu hóa, choáng váng, mệt mỏi, đau bỏng rát vùng miệng, lưỡi, họng. Bệnh nhân được người nhà đưa vào Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển cấp cứu rửa dạ dày, bơm than hoạt tính qua sonde, bù dịch, bài niệu tích cực. Bệnh nhân được chẩn đoán ngộ độc thuốc diệt cỏ nhóm Diquat đường tiêu hoá giờ thứ 1 mức độ nặng, chuyển bệnh viện Bạch Mai làm xét nghiệm máu dương tính với độc chất là thuốc diệt cỏ Diquat, đã được điều trị kết hợp giữa lọc máu liên tục và lọc máu với quả lọc chuyên biệt - hấp phụ độc chất. Sau đó bệnh nhân vào khoa máu, độc xạ và bệnh nghề nghiệp - Bệnh viện Quân y 103 trong tình trạng tỉnh táo, sốt nóng có lúc có cơn rét run, phù mềm 2 chi dưới, suy thận cấp, trợt loét niêm mạc miệng họng lưỡi. Bệnh nhân được cấp cứu, điểu trị nội khoa tích cực: giải độc không đặc hiệu, kháng sinh, cùng với các thuốc giảm tiết, bảo vệ niêm mạc dạ dày, kiểm soát cân bằng kiềm toan, giảm đau, dinh dưỡng nâng đỡ thể trạng... Sau 14 ngày điều trị tích cực bệnh nhân triệu chứng lâm sàng cải thiện ngày càng rõ rệt, bệnh nhân hoàn toản tỉnh táo, hết mệt mỏi, hết đau bụng, không còn buồn nôn và nôn, hết viêm loét lưỡi, họng; xét nghiệm đánh giá chức năng gan, thận, điện giải đồ, Xquang ngực trong giới hạn bình thường, định lượng không còn chất độc Diquat trong máu.

Diquat tên khoa học là (1,1'-ethylene-2,2'-bipyridilium) thuộc nhóm chất diệt cỏ tác dụng nhanh và không chọn lọc, có tác dụng ăn mòn, nó xúc tác chuyển hóa, đơn electron, gây ra phản ứng oxy hóa, giáng hóa NADPH, peroxy hóa lipid. Kết quả là sinh ra các gốc tự do OH, superoxid,, H2O2… gây hủy hoại tế bào: phổi, thận, gan, tim…. Hậu quả suy đa tạng xảy ra trong vài giờ đến vài ngày. Tỉ lệ tử vong rất cao, nói chung 50-70%. Nồng độ đỉnh trong máu sau uống từ 2 đến 4 giờ. Tự tử là nguyên nhân hay gặp nhất, thường gặp ở đối tượng thanh thiếu niên. Đôi khi gặp một bệnh nhân uống nhầm do say rượu hay nhầm do bảo quản paraquat trong chai lọ đựng thông thường.

Triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm bao gồm:

- Cảm giác đau rát miệng họng, dọc sau xương ức và thượng vị, viêm, loét, trợt miệng, họng, thực quản xuất hiện sau nhiều giờ.

- Khó thở do tổn thương phổi, tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất, phù phổi cấp, nếu bệnh nhân sống sót sau những ngày đầu xuất hiện khó thở tiến triển suy hô hấp do hiện tượng xơ hóa phế nang, tăng lắng đọng collagen.

- Suy thận sớm trong ngày đầu tiên do tổn thương ống thận trực tiếp hoặc do rối loạn huyết động.

- Hủy hoại tế bào gan có thể xuất hiện ở những ngày sau. Tổn thương gan có thể hồi phục được, chủ yếu bệnh nhân tử vong do tổn thương phổi không hồi phục.

- Suy tuần hoàn: suy tim, tụt huyết áp: có thể do suy hô hấp cấp, tràn ,tràn khí màng phổi, trung thất, độc tính trực tiếp trên tim.

- Xét nghiệm diquat định tính: bệnh phẩm là dịch dạ dày (đến sớm trước 2 giờ), nước tiểu (dương tính sau 6 giờ và âm tính sau 24h, có thể dương tính sau 2-3 ngày nếu có suy thận).  Định lượng diquat trong máu trong 4 giờ > 1mg/L, sau 8 giờ > 0,5 mg/L là mức độ rất nặng nguy cơ tử vong cao

Các biện pháp điều trị tẩy độc và tăng thải độc phải thực hiện đồng thời càng sớm càng tốt, không để biện pháp này ảnh hưởng đến biện pháp khác bao gồm:

- Hạn chế hấp thu độc chất như gây nôn, rửa dạ dày trong vòng 2 giờ đầu, rửa tới khi dịch rửa hết màu xanh.

- Các chất hấp phụ than hoạt đơn liều 1g/kg/lần, sorbitol liều gấp đôi liều than hoạt.  Fuller‟s earth người lớn 100-150g, trẻ em 2g/kg, pha tỷ lệ 1 phần thuốc + 2 phần nước theo trọng lượng.

- Tăng thải trừ chất độc bài niệu tích cực, lọc hấp phụ máu khi diquat còn dương tính. Ưu tiên càng sớm càng tốt, tốt nhất trước 8 giờ.

- Liệu pháp ức chế miễn dịch: Methylprednisolon 15mg/kg/ngày (pha với 200ml glucose 5%, truyền TM 2 giờ). Trong 3 ngày và Cyclophophamide 15mg/kg/ngày (pha với 200ml glucose 5%, truyền TM 2 giờ) trong 2 ngày. Sau đó Dexamathasone 8mg/lần x 3 lần/ngày, trong 14 ngày, tiêm TM, sau giảm dần liều và ngừng.

- Các thuốc chống oxy hóa N-acetylcystein tĩnh mạch: là chất chống oxy hóa có tác dụng ngăn chặn quá trình xơ phổi gây ra do các gốc oxy tự do. Vitamin E : 300mg x 2 lần/ngày, uống. Deferioxamine (Desferan, dùng sau lần lọc máu đầu tiên): 100mg/kg, pha với 500ml glucose 5%, truyền tĩnh mạch 21ml/h, dùng 1 ngày.

Các biến chứng có thể gặp: suy hô hấp, xơ phổi tiến triển, suy thận, viêm gan. Tổn thương gan thận có thể hồi phục được. Tổn thương phổi không hồi phục thường là nguyên nhân khiến bệnh nhân tử vong. Nếu bệnh nhân sống sót qua những ngày đầu tiên phổi sẽ tiến triển xơ hóa và gây ra bệnh lý phổi hạn chế.

Bộ môn - trung tâm Nội dã chiến, khoa máu, độc xạ và bệnh nghề nghiệp - Bệnh viện Quân y 103 trong nhiều năm qua đã tiếp nhận, chẩn đoán sớm, điều trị tích cực thành công nhiều bệnh nhân từ các tuyến dưới và bệnh viện khác chuyển đến do các căn nguyên nhiễm độc chất nói chung và do thuốc diệt cỏ Diquat nói riêng. Các bệnh nhân khỏi bệnh ra viện không những là niêm hân hoan cho gia đình họ mà con là niêm vui của các bác sỹ, điều dưỡng trong khoa. Thành công những ca bệnh nặng đã góp phần nâng cao chất lượng cấp cứu, chẩn đoán, điều trị của các y, bác sỹ Bộ môn - trung tâm Nội dã chiến - Bệnh viện Quân y 103.

Tài liệu tham khảo:

  1. 1. Jones GM, Vale JA. Mechanisms of toxicity, clinical features, and management of diquat poisoning: a review. J Toxicol Clin Toxicol. 2000;38(2):123-8.
  2. 2. Schmidt DM, Neale J, Olson KR. Clinical course of a fatal ingestion of diquat. J Toxicol Clin Toxicol. 1999;37(7):881-4.
  3. 3. Basilicata P, Pieri M, Simonelli A, Capasso E, Casella C, Noto T, Policino F, Di Lorenzo P. Diquat Poisoning: Care Management and Medico-Legal Implications. Toxics. 2022 Mar 30
  4. 4. Chen YX. [Imaging features of 10 patients with toxic encephalopathy caused by diquat]. Zhonghua Lao Dong Wei Sheng Zhi Ye Bing Za Zhi. 2022 May 20;40(5):362-365. Chinese.
  5. 5. Guck D, Hernandez R, Moore S, Van de Louw A, Haouzi P. Rapid Glomerulotubular Nephritis as an Initial Presentation of a Lethal Diquat Ingestion. Case Rep Nephrol. 2021 Sep 11.
  6. 6. Feng D, Fu L, Du X, Yao L. Acute diquat poisoning causes rhabdomyolysis. Am J Med Sci. 2022 May 2.
  7. 7. Zhou JN, Lu YQ. Lethal diquat poisoning manifests as acute central nervous system injury and circulatory failure: A retrospective cohort study of 50 cases. EClinicalMedicine. 2022 Aug 11.
  8. 8. Yu G, Jian T, Cui S, Shi L, Kan B, Jian X. Acute diquat poisoning resulting in toxic encephalopathy: a report of three cases. Clin Toxicol (Phila). 2022 May;60(5):647-650.

PGS. TS Nguyễn Văn Bằng, BSCK1. Nguyễn Thị Thu

Bộ môn - Trung tâm Nội dã chiến

Dịch vụ thiết kế website wordpress