Trang chủ Thông tin y khoa Tin tức y khoa Bài báo y học Đặc điểm lâm sàng và điện sinh lý thần kinh của người bệnh mắc hội chứng ống cổ tay

Đặc điểm lâm sàng và điện sinh lý thần kinh của người bệnh mắc hội chứng ống cổ tay

T2, 29/03/2021

CLINICAL FEATURES AND ELECTRO-PHYSIOLOGICAL CHARACTERISTICS OF PATIENT WITH CARPAL TUNNEL SYNDROME

 

Nhóm tác tác giả: Chu Thị Thu Huyền1, Nguyễn Trọng Hiếu1, Đinh Thị Hà1, Nguyễn Thị Nguyệt1, Lại Văn Thuận1, Nguyễn Đức Thuận 2

(1) Cử nhân điều dưỡng, khoa Thần kinh, Bệnh viện Quân Y 103, Hà Nội.

(2) TS, Phó chủ nhiệm Khoa Thần kinh, Bệnh viện Quân Y 103 - Học viện Quân Y, Hà Nội.

Người phản hồi: Chu Thị Thu Huyền - Kỹ thuật viên Bộ môn, Khoa Thần kinh, Bệnh viện Quân Y 103, Hà Nội. (ĐT: 0987439480 email: Huyenmychu81@gmail.com )

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và điện sinh lý thần kinh của bệnh nhân mắc hội chứng ống cổ tay; xác định sự tương quan giữa đặc điểm lâm sàng và điện sinh lý thần kinh của bệnh nhân mắc hội chứng ống cổ tay.

Đối tượng và phương pháp: Mô tả, cắt ngang. Tiến hành thu thập số liệu trên 108 bệnh nhân (160 bàn tay) mắc hội chứng ống cổ tay.

Kết quả: Tuổi mắc bệnh trung bình là 52,74±11,95. Tỷ lệ người bệnh khởi phát trên 6 tháng là 55,6%. Các triệu chứng hay gặp là tê bì, dị cảm đau và giảm cảm giác. Điểm VAS 0 - 3 (41,88%), VAS 4 - <7 (58,12%), VAS 7 - 10 (0%). Đo dẫn truyền điện thần kinh thấy DSLm kéo dài, trung bình là 3,49 ± 1,32 ms, DSLd kéo dài, trung bình là 1,30 ± 1,30 ms.

Kết luận: Hội chứng ống cổ tay hay gặp ở những trường hợp khởi phát trên 6 tháng, biểu hiện tê bì, dị cảm đau, giảm cảm giác và các rối loạn vận động. Trên hình ảnh đo dẫn truyền điện thần kinh thấy kéo dài DSLm và DSLd.

Từ khóa: Hội chứng ống cổ tay, đặc điểm lâm sàng, điện sinh lý thần kinh

ABSTRACT

Objectives: To describe clinical features and electrophysiological characteristics of patients with carpal tunnel syndrome; To identify the correlation between clinical features and electrophysiological neurophysiology in patients with carpal tunnel syndrome.

Methodology: Cross-sectional descriptive study. Collecting data on 108 patients (160 hands) with carpal tunnel syndrome.

Results: Mean age of illness was 52.74 ± 11.95. The proportion of patients onset over 6 months was 55.6%. The most common symptoms are numbness, paresthesia, pain, and decreased sensation. VAS score 0 - 3 (41.88%), VAS 4 - <7 (58.12%), VAS 7 - 10 (0%). Neural conduction measurements showed extended DSLm, average 3.49 ± 1.32 ms, extended DSLd, average 1.30 ± 1.30 ms.

Conclusion: Carpal tunnel syndrome is common in cases onset more than 6 months, manifesting numbness, pain paresthesia, decreased sensation and movement disorders. On the neurotransmitter image measured spans DSLm and DSLd.

Keywords: Carpal tunnel syndrome, clinical features, electro-physiological characteristics

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng ống cổ tay (Carpel tunnel syndrome) là bệnh lý của dây thần kinh giữa bị chèn ép trong ống cổ tay, là hội chứng thường gặp nhất trong các bệnh lý chèn ép dây thần kinh ngoại vi. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời bệnh sẽ tiến triển nặng hơn để lại nhiều biến chứng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Để ngăn ngừa, hạn chế người bệnh mắc hội chứng ống cổ tay thì việc hiểu rõ về lâm sàng, cận lâm sàng của hội chứng ống cổ tay là cần thiết. Để hiểu rõ thêm về vấn đề này chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài nhằm 2 mục tiêu:

  1. Nhận xét đặc điểm lâm sàng và điện sinh lý thần kinh của người bệnh mắc hội chứng ống cổ tay.
  2. Tìm hiểu sự tương quan giữa đặc điểm lâm sàng và điện sinh lý thần kinh của người bệnh mắc hội chứng ống cổ tay.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1. Đối tượng: 108 người bệnh (160 bàn tay) được chẩn đoán mắc hội chứng ống cổ tay đến khám tại Phòng khám Thần kinh, Bệnh viện Quân Y 103 từ tháng 08/2019 đến 02/2020.

Tiêu chuẩn chọn người bệnh: Áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng ống cổ tay của Hội Thần kinh học Hoa Kỳ [10] và bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2.Phương pháp: nghiên cứu mô tả, cắt ngang thông qua các bước tiến hành:

Bước 1: Thu thập số liệu lâm sàng

Bước 2: Ghi dẫn truyền điện sinh lý thần kinh

Bước 3: Xử lý số liệu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Một số đặc điểm lâm sàng

Biểu đồ 1. Phân bố người bệnh theo giới (n=108)

Biểu đồ 2. Phân bố người bệnh theo tuổi (n=108)

Nhóm tuổi từ 20-29 chiếm 0%, từ 30-39 chiếm 16%, từ 40-49 chiếm 26%, từ 50-59 chiếm 38%, nhóm tuổi trên 60 chiếm 28%. Tuổi trung bình người bệnh mắc hội chứng ống cổ tay là 52,74±11,95.

Bảng 1. Đặc điểm lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng Số bàn tay Tỷ lệ % (n=160)
Tê bì 145 90,6
Dị cảm đau 92 57,5
Giảm cảm giác 68 42,5
Mất cảm giác 33 20,6
Cầm nắm yếu 85 53,1
Viết khó 94 58,8
Đánh rơi đồ vật 27 16,9
Mất động tác đối chiếu 31 19,4
Mất hoàn toàn vận động 16 10,0
Teo cơ 39 24,4
Dấu hiệu Tinel 127 79,4
Nghiệm pháp Phalen 119 74,4

Triệu chứng lâm sàng chủ yếu là các rối loạn cảm giác, trong đó tê bì chiếm 90,6%, dị cảm đau chiếm 57,5%, giảm cảm giác chiếm 42,5%, mất cảm giác chiếm 22,2%, cầm nắm yếu chiếm 53,1%, viết khó chiếm 55,6%, đánh rơi đồ vật chiếm 15,7%, mất động tác đối chiếu ngón cái chiếm 19,4%, mất hoàn toàn vận động ngón cái chiếm 9,3%, teo cơ 24,4%. Các triệu chứng xuất hiện xuất hiện với tỉ lệ cao hơn ở khoảng thời gian khởi phát sau 6 tháng.

Bảng 2. Đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS

VAS Số bàn tay Tỷ lệ % (n=160)
VAS 0 – 3 67 41,88
VAS 4 - < 7 93 58,12
VAS 7 – 10 0 0

Điểm VAS chiếm tỷ lệ cao nhất là 4 - < 7 điểm với 93 bàn tay chiếm 58,12%, VAS 0 - 3 có 67 bàn tay chiếm 41,88%, VAS 7 - 10 điểm không có trường hợp nào.

3.2. Kết quả đo điện sinh lý thần kinh

Bảng 3. So sánh giá trị trung bình điện sinh lý của nhóm người bệnh và người khỏe mạnh

Thông số  ± SD

(Bệnh nhân)

 ± SD

(người khỏe mạnh)[3]

P
DMLm (ms)(n=156) 4,43 ± 1,65 3,46 ± 0,61 P < 0,001
DSLm (ms)(n=148) 3,49 ± 1,32 2,71 ± 0,48
DMLd (ms)(n=156) 2,25 ± 1,67 0,51 ± 0,70
DSLd (ms)(n=148) 1,30 ± 1,30 0,49 ± 0,3

DMLm, DSLm, DMLd, DSLd của nhóm người bệnh đều có giá trị trung bình cao hơn giá trị trung bình trên người khỏe mạnh (Nguyễn Hữu Công [3]) với p<0,05.

Bảng 4. Phân độ các bất thường điện sinh lý theo Robert A.

Độ Số bàn tay bệnh

(n=160)

Tỷ lệ %
Nhẹ 55 34,37
Trung bình 91 56,87
Nặng 14 8,76
TỔNG 160 100

Theo phân độ của Robert A., mức độ trung bình là chủ yếu, chiếm 56,87%

Bảng 5. Mối liên quan giữa các triệu chứng lâm sàng và mức độ biến đổi điện sinh lý (n=160)

    Độ (%)

Triệu chứng

lâm sàng

Độ I

(n=55)

Độ II

(n=91)

Độ III

(n=14)

p
Tê bì (n=145) 78,2 96,7 100 p<0,001
Dị cảm đau (n=92) 36,4 69,2 64,3 p<0,001
Giảm cảm giác (n=68) 43,6 40,7 50,0 p>0,05
Mất cảm giác (n=33) 9,1 24,2 42,9 p=0,009
Cầm nắm yếu (n=85) 49,1 52,7 71,4 p>0,05
Viết khó (n=60) 56,4 60,4 57,1 p>0,05
Đánh rơi đồ vật (n=17) 14,5 13,2 50,0 p=0,002
Mất động tác đối chiếu (n=31) 9,1 22,0 42,9 p=0,011
Mất hoàn toàn vận động (n=10) 3,6 11,0 28,6 p=0,019
Teo cơ (n=39) 14,5 25,3 57,1 p=0,004

Các triệu chứng tê bì, dị cảm đau gặp nhiều ở độ II và III, đánh rơi đồ vật, mất động tác đối chiếu, mất hoàn toàn vận động, teo cơ gặp chủ yếu ở độ III, ít gặp ở độ II và I. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Biểu đồ 3. Mối tương quan tuyến tính giữa các điểm VAS với các giá trị DMLd, DSLd

Phương trình tương quan: VAS=0,687*DMLd - 0,213 với hệ số tương quan r=0,637

Phương trình tương quan: VAS=0,543*DSLd - 0,626 với hệ số tương quan r=0,643

Mức độ kéo dài DMLd, DSLd càng nhiều thì điểm VAS càng lớn.

4. BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng

Trong nghiên cứu của chúng tôi số người bệnh nữ chiếm đa số với 81 người (75%), người bệnh nam chỉ có 27 người (25%). Kết quả này cũng phù hợp với nhận xét của Lê Thị Liễu trên 200 người bệnh mắc hội chứng ống cô tay cho thấy có tới 93% là nữ, 7% là nam [5] và của Ho So và cộng sự, tỷ lệ nữ là 86%, nam là 24% [11].

Đặc điểm phân bố theo tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi của các người bệnh dao động từ 30 đến 75 tuổi, độ tuổi trung bình là 52.74±11,95. Kết quả này cũng phù hợp với Nguyễn Văn Liệu là từ 41 đến 50 (31,11%) và 51 đến 60 (44,45%), độ tuổi trung bình là 51±11,17 [6].

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy các triệu chứng rối loạn cảm giác hay gặp hơn các triệu chứng rối loạn vận động. Phần lớn các bệnh nhân có cảm giác tê bì, tỷ lệ này chiếm cao nhất 90,6%. Một biểu hiện hay gặp nữa là dị cảm đau ở da bàn tay cũng xảy ra theo khu vực chi phối của dây thần kinh giữa, triệu chứng này chiếm tới 57,5%. Cầm nắm yếu chiếm 53,1%, viết khó chiếm 58,8%. Giảm cảm giác chiếm 42,5%, mất cảm giác chiếm 20,6%, đánh rơi đồ vật chiếm 16,9%, mất động tác đối chiếu ngón cái chiếm 19,4% , mất hoàn toàn vận động ngón cái chiếm 10,0%, teo ô mô cái chiếm 24,4%. Kết quả này phù hợp với kết quả của Lê Thị Liễu, triệu chứng tê vả dị cảm chiếm 96%, đau 35,1%, giảm cảm giác 41,1%, yêu cơ 8,6% và teo cơ chỉ có 12,3% [5]. Theo Nora, tỷ lệ triệu chứng tê bì theo chi phối của dây thần kinh giữa ở bàn tay là 85,4%, dị cảm đau ở bàn tay là 54,4% [8].

Trong nghiên cứu này, đa số người bệnh được đánh giá là có triệu chứng đau và chỉ đau ở mức độ từ nhẹ đến vừa và không có trường hợp nào được đánh giá là đau nặng. Đau trong hội chứng ống cổ tay do nguyên nhân của chèn ép gây tổn thương sợi thần kinh, không có tổn thương hỗn hợp do nguyên nhân chấn thương mô, tổn thương hệ cơ - xương khớp và bệnh khớp [12], [9], các người bệnh trong nghiên cứu hầu hết không có biểu hiện tổn thương khác, do đó lý do biểu hiện đau hầu hết là mức độ nhẹ hoặc vừa.

  1. Đặc điểm điện sinh lý thần kinh

Kết quả cho thấy các giá trị trung bình trên người bệnh mắc hội chứng ống cổ tay rất cao với DMLm là 4,43 ± 1,65; DSLm là 3,49 ± 1,32; DMLd là 2,25 ± 1,67; DSLd là 1,30 ± 1,30. Các giá trị này của người bệnh đều cao hơn chỉ số người bình thường rất nhiều với mức ý nghĩa thống kê p< 0,001. Kết quả của chúng tôi phù hợp với kết quả của Nguyễn Thị Bình [1], Đỗ Lập Hiếu[3] và Nguyễn Lê Trung Hiếu [4].

Theo tiêu chuẩn của Robert A [13], xét mối liên quan giữa triệu chứng lâm sàng và các bất thường điện sinh lý chúng tôi thấy rằng các triệu chứng có sự khác biệt giữa độ I với độ II và độ III. Kết quả này phù hợp với sự nghiên cứu sinh lý bệnh hội chứng ống cổ tay của Michel Chammas và cộng sự [7].

So sánh DSLd, DMLd trung bình với mức điểm VAS < 4 và từ 4 - 7 cho thấy: Mức độ điểm VAS càng cao thì giá trị trung bình của DSLd và DMLd càng lớn (p <0,05).Như vậy, cơ chế đau thần kinh và mức độ đau trong hội chứng ống cổ tay có mối tương quan khá rõ tới sự kéo dài thời gian tiềm cảm giác và vận động ngoại vi. khi đánh giá sự tương quan tổng điểm VAS với DSLd, DMLd thì chỉ tương quan mức độ vừa phải. Vì vậy đau thần kinh trong hội chứng ống cổ tay nên được đánh giá và điều trị tích cực ngay, không nhất thiết phải phụ thuộc vào kết quả điện sinh lý.

5. KẾT LUẬN

Đặc điểm lâm sàng: tỉ lệ mắc bệnh ở nữ giới (75%) cao hơn ở nam giới (25%), độ tuổi mắc bệnh trung bình là 52.74±11,95. Các triệu chứng hay gặp là tê bì (90,6%), dị cảm đau (57,5%), viết khó (58,8%), cầm nắm yếu (53,1%), giảm cảm giác (42,5%), mất cảm giác (20,6%), đánh rơi đồ vật (16,9%), mất động tác đối chiếu ngón cái (19,4%), mất hoàn toàn vận động ngón cái (10,0%), teo ô mô cái (24,4%). Tính chất và mức độ đau từ nhẹ đến vừa và không có trường hợp nào được đánh giá là đau nặng.

Đặc điểm điện sinh lý thần kinh: Các giá trị trung bình trên người bệnh mắc hội chứng ống cổ tay rất cao với DMLm là 4,43 ± 1,65; DSLm là 3,49 ± 1,32; DMLd là 2,25 ± 1,67; DSLd là 1,30 ± 1,30 và cao hơn chỉ số của người bình thường. Các triệu chứng có sự khác biệt giữa độ I với độ II và độ III về sự bất thường điện sinh lý. Mức độ điểm VAS càng cao thì giá trị trung bình của DSLd và DMLd càng lớn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Thị Bình, Bùi Thị Ngọc, Nguyễn Văn Liệu, Biến đổi dẫn truyền thần kinh giữa ở người bệnh mắc hội chứng ống cổ tay. Tạp chí nghiên cứu Y học, 2016. 99(1): p. 24-31.
  2. Nguyễn Hữu Công, Võ Thị Hiền, Hội chứng ống cổ tay, một số tiêu chuẩn chẩn đoán điện. Tài liệu khoa học sinh hoạt khoa học kỹ thuật lần 2, 1997: p. 16-21.
  3. Đỗ Lập Hiếu, Nhận xét lâm sàng và các bất thường trên điện sinh lý thần kinh ở người bệnh mắc hội chứng ống cổ tay. Tạp chí Y dược học Quân sự, 2014. 8: p. 136-140.
  4. Nguyễn Lê Trung Hiếu, Lê Minh, Nguyễn Hữu Công, Khảo sát lâm sàng và điện cơ của hội chứng ống cổ tay khảo sát tiến cứu trên 70 trường hợp. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 2003. 7(4): p. 94-106.
  5. Lê Thị Liễu, Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, điện cơ và siêu âm Doppler năng lượng trong hội chứng ống cổ tay, Luận án Tiến sĩ Y học. 2018: Trường Đại học Y Hà Nội.
  6. Nguyễn Văn Liệu, Nghiên cứu tác dụng phục hỏi dẫn truyền thần kinh giữa của tiêm Depomedrol vào dây chẳng vòng trong điều trị hội chứng ống cổ tay. Y học Việt Nam, 2012. 1: p. 1-4.
  7. Chammas, M., et al., Carpal tunnel syndrome - Part I (anatomy, physiology, etiology and diagnosis). Rev Bras Ortop, 2014. 49(5): p. 429-36.
  8. Nora, D.B., et al., Clinical features of 1039 patients with neurophysiological diagnosis of carpal tunnel syndrome. Clin Neurol Neurosurg, 2004. 107(1): p. 64-9.
  9. Padua, L., et al., Multiperspective assessment of carpal tunnel syndrome: a multicenter study. Italian CTS Study Group. Neurology, 1999. 53(8): p. 1654-9.
  10. Practice parameter for carpal tunnel syndrome (summary statement). Report of the Quality Standards Subcommittee of the American Academy of Neurology. Neurology, 1993. 43(11): p. 2406-9.
  11. So H, Chung V., Cheng J.C.K, et al, Local steroid injection Versus wrist splinting for carpal tunnel syndrome: A randomized clinical trial. International journal of rheumatic diseases, 2017. 21(1): p. 102-107.
  12. Tamburin, S., et al., Pain and motor function in carpal tunnel syndrome: a clinical, neurophysiological and psychophysical study. J Neurol, 2008. 255(11): p. 1636-43.
  13. Werner, R.A. and M. Andary, Electrodiagnostic evaluation of carpal tunnel syndrome. Muscle Nerve, 2011. 44(4): p. 597-607.
Dịch vụ thiết kế website wordpress