Viêm màng não

T6, 09/10/2020

1. Định nghĩa, nguyên nhân, đường lan truyền

- Định nghĩa:

Viêm màng não là tình trạng viêm cấp tính ở màng não do vi khuẩn gây nên.

- Nguyên nhân:

Có 4 loại vi khuẩn hay gặp đó là:

+ Cầu khuẩn màng não (còn gọi là vi khuẩn màng não).

+ Liên cầu khuẩn.

+ Phế cầu khuẩn.

+ Trực khuẩn lao.

* Ngoài ra có thể do tụ cầu, thương hàn...

- Đường lây: Vi khuẩn đến màng não theo các đường như sau:

+ Đường máu.

+ Từ não lên.

+ Vùng lân cận (tai giữa, xoang mũi, xương chũm...).

2. Viêm màng não do các loại vi khuẩn

2.1. Viêm màng não do cầu khuẩn màng não

Đây là loại hay gặp nhất, bệnh thường xảy ra lẻ tẻ, nhưng đôi khi thành dịch do đó người ta cho rằng vi khuẩn lây truyền theo đường hô hấp, từ mũi vi khuẩn theo các sợi thần kinh khứu giác lên khoang dưới màng nhện. Nhưng lại có tác giả cho là chúng theo đường máu và đường bạch huyết.

Mô bệnh học:

- Đại thể:

Sau khi mở hộp sọ thấy: Màng cứng căng, rạch màng cứng thấy dịch đục và mủ chảy ra. Màng mềm phù và phủ những đám mủ. Nếu nặng sẽ phủ kín mủ không nhìn thấy cuộn não ở bên dưới, dịch mủ thường khư trú ở khe cuộn não và đáy não. Do có sự thông thương giữa khoang dưới nhện với não thất do đó màng các não thất cũng bị viêm theo, lòng các não thất chứa dịch đục, mặt trong não thất phủ một lớp màng mủ.

- Vi thể:

Khoang dưới nhện giãn rộng chứa dịch tơ huyết lẫn hồng cầu, bạch cầu, các sợi liên kết ở khoang các màng não tan rã và bị thay thế bởi các đám tơ huyết mủ. Viêm có thể lan sâu xuống quanh các mạch máu. Các cầu khuẩn gây viêm màng não có thể thấy trong và ngoài bạch cầu.

Tiến triển:

Thông thường viêm lan từ màng não xuống màng tuỷ. Những trường hợp nặng thường có xuất huyết dưới da hoặc hoại tử xuất huyết tuyến thượng thận là nguyên nhân gây tử vong nhanh chóng ở trẻ em và người trẻ tuổi.

2.2. Do phế cầu khuẩn

Có thể nguyên phát hoặc thứ phát sau viêm phổi, viêm tai giữa, viêm xoang mũi. Đây là bệnh cấp tính tổn thương giống như viêm màng não do cầu khuẩn màng não, nhưng trong dịch rỉ viêm có nhiều sợi tơ huyết nên thường nhanh chóng đông lại. Dịch mủ và dịch não tuỷ chứa nhiều phế cầu khuẩn do đó dễ chẩn đoán trên phiến đồ dịch não tuỷ.

2.3. Do liên cầu khuẩn

Thường thứ phát sau viêm tai giữa, viêm xoang, đôi khi nguyên phát.

Tổn thương giống như đã mô tả ở trên, thường thấy nhiều liên cầu khuẩn trong dịch não tuỷ.

2.4. Viêm màng não do lao

Viêm màng não do lao có 2 hình ảnh tổn thương khác nhau phụ thuộc vào viêm màng não do lao đã điều trị hay không được điều trị.

Viêm màng não do lao không được điều trị:

Tổn thương lao thường khu trú ở nền não, đặc biệt là vùng chéo thị giác.

Màng não vùng này thấy mờ đục, trên màng mờ đục thấy có nhiều hạt nhỏ như hạt kê màu vàng, màu trắng hay xám, các hạt này nằm theo các nhánh của mạch máu. Có thể các màng não của tiểu não, bán cầu đại não... cũng có các hình ảnh trên, dưới màng não và trong não thất có ứ nước. Ngoài ra có thể có tổn thương lao ở phổi.

Viêm màng não do lao đã được điều trị:

Đây là một thể viêm rất phức tạp, bệnh tiến triển thường kéo dài, viêm màng não do lao thể này thường có hiện tượng xơ hoá. Do đó màng não có những vách ngăn, trong các vách ngăn và trong não thất ứ dịch não tuỷ.

Trên màng não vùng tổn thương cũng mờ đục, dày, có nhiều hạt lao kê. Có thể từng vùng của màng não bị bã đậu hoá, do ứ nước lâu, tổ chức não có thể bị teo đét do chèn ép. Có thể có viêm các động mạch màng não và hình thành cục nghẽn do đó có thể thấy những ổ nhũn não.

Xem trên kính hiển vi thấy hình ảnh của tổn thương lao.

2.5. Do tụ cầu khuẩn, thương hàn, trực khuẩn Coli...

Loại này thường hiếm gặp.

* Trong viêm màng não bệnh nhân thường sốt rất cao nhưng mạch lại chậm, ngược với thương hàn nhiệt độ tăng ít nhưng mạch lại tăng cao.


VIÊM NÃO VIRÚT

1. Đại cương

1.1. Định nghĩa:

Viêm não do virút là những quá trình phản ứng của mô não đối với tác động trực tiếp của virút hoặc gián tiếp do dị ứng.

Viêm não do virút đã gây nên một tình trạng viêm cấp tính lan tràn ở trong chất não và tuỷ sống. Hình ảnh vi thể giống với viêm cấp tính nói chung nhưng có thêm một số hình ảnh đặc biệt.

1.2. Nguyên nhân

Do nhiều loại virút gây ra, nhưng phần lớn hình ảnh mô bệnh học của chúng đều giống nhau, vì vậy chúng tôi giới thiệu viêm não Nhật Bản B là loại hay gặp ở miền Bắc Việt Nam.

Viêm não Nhật Bản B còn gọi là viêm não mùa hè, viêm não mùa thu Nga. Bệnh phát triển thành dịch ở Đông Nam châu Á và Nhật Bản...

Sở dĩ có tên là viêm não Nhật Bản B là vì trước đó ở Nhật Bản có viêm não ngủ Von - Economo được gọi là viêm não Nhật Bản A, do đó họ đã đặt tên đó để phân biệt.

Bệnh lây lan là do các loại động vật trung gian mang mầm bệnh được biết như là chim liếu điếu, chào mào và muỗi Culex - Tritaeniorhynchus.

Bệnh được phát hiện lần đầu tiên ở Nhật vào năm 1871, còn ở Việt Nam năm 1953 đã phân lập được loại vi rút gây bệnh này.

2. Mô bệnh học

2.1. Đại thể

Màng não mềm, chất xám, não thất 3, cuống não xung huyết dữ dội, não phù, trương to, cuộn não dẹt, khe cuộn não chứa nhiều dịch. Có thể thấy những ổ nhũn não màu vàng bẩn, có những ổ xuất huyết nhỏ lốm đốm ở vỏ não.


2.2. Vi thể

2.2.1. Tổn thương ở mạch máu trong tổ chức não

Nổi bật là hình ảnh bao ngoại mạch, nằm trong khoảng Virchow - Robin bị giãn rất rộng. Tổn thương bao ngoại mạch thường thấy rõ ở sàn não thất 4. Thành phần chủ yếu là: các tế bào Limpho lẫn một số tương bào, đại thực bào, trong 9 ngày đầu có thể thấy bạch cầu đa nhân, có thể thấy các quầng xuất huyết quanh mạch máu.

2.2.2. Tăng sản tổ chức thần kinh

Hiện tượng này phát triển mạnh và lan tràn trong khắp sàn não thất đặc biệt là quanh các mạch máu, có xu hướng tạo thành áo thần kinh đệm quanh mạch. Phản ứng thần kinh đệm xuất hiện thường xuyên và rất mạnh ở liềm đen và thành hạt thực thần kinh.

Cấu tạo của hạt thực thần kinh gồm:

Một tế bào thần kinh chính thực bị thoái hoá nằm ở giữa, xung quanh là những tế bào thần kinh đệm đó là hiện tượng vệ tinh, đồng thời các tế bào thần kinh đệm xâm nhập vào tế bào thần kinh chính thức bị chết để thực bào.

2.2.3. Tổn thương thoái hoá tế bào thần kinh

Nếu viêm nhẹ thì thể Nissl của tế bào thần kinh chính thức bị biến mất, nặng hơn thì nhân tế bào bị tan rã, thoái hoá, tiêu tan.

Các tế bào còn lại bị tổn thương ở nhiều mức độ khác nhau: dúm dó, teo đét, nhân đông, một số chỉ còn là những bóng mờ...

3. Hậu quả của phản ứng viêm

3.1. Hoại tử xốp

Ở quanh mạch máu, nhu mô não bị nhũn, lỗ rỗ, có nhiều loại tế bào viêm. Tế bào thần kinh chính thức bị thoái hoá và có hiện tượng vệ tinh.


3.2. Hoại tử thưa

Ở chất xám hoại tử thành từng ổ, tế bào viêm ít, mô não bị thoái hoá tan rã như bị tiêu tan đi. Các tế bào thần kinh chính thức bị hoại tử, thoái hoá nhưng không thấy hiện tượng vệ tinh hoặc hạt thực thần kinh.

3.3. Nhũn não

Mô não bị huỷ hoại, tạo thành từng ổ, tiêu lỏng đi, có nhiều đại thực bào. Các ổ viêm não có thể khỏi để lại sẹo xơ, làm mất chức năng tuỳ từng vùng của não.


U NÃO

1. Định nghĩa

U não thường hay gặp là các khối u phát sinh từ thần kinh đệm ở trong chất trắng của não. Ngoài ra có thể phát sinh từ màng ống nội tuỷ, màng mạch và nguyên bào thần kinh.

2. Phân loại

Có nhiều cách phân loại u não nhưng ở đây chúng tôi giới thiệu phân loại theo nguồn gốc tổ chức sinh u, theo chúng tôi cách phân loại này dễ dàng và thực tiễn hơn.

2.1. U màng ống nội tuỷ và màng mạch

Đây là loại u tương đối lành tính, u phát triển ở trong ống nội tuỷ và bờ các não thất.

2.1.1. U nhú màng mạch

Các tế bào u tạo thành các nhú có trục liên kết huyết quản, u có thể gây ứ nước não thất.

2.1.2. Ung thư biểu mô màng mạch

Tế bào màng mạch phát triển mạnh gồm nhiều hàng, các tế bào này bị loạn sản giống tế bào gai của biểu bì, tổ chức u thường bị hoại tử.

2.1.3. U tế bào ống nội tuỷ

Tế bào u có hình trụ hay hình vuông ở cực tự do tế bào có các sợi nhỏ.

2.1.4. U nguyên bào màng ống nội tuỷ

Tế bào u là những tế bào non có khi họp thành hình ống hoặc thành từng bó, giữa các bó có khoảng trống.

2.2. U tế bào thần kinh đệm

2.2.1. U tế bào hình sao

Đây là loại u hay gặp ở trẻ em, có thể ở đại não hoặc tiểu não.

- Đại thể:

U có nhiều hình thái khác nhau, có khi cứng chắc như xơ, có ranh giới rõ với tổ chức xung quanh, có khi mềm nhũn vì hoại tử. Trong u có thể có các nang, lòng nang chứa chất nhão, màu vàng hoặc xám. Mặt cắt u có nhiều màu sắc, chỗ đỏ thẫm, chỗ nâu, chỗ nhạt, nếu ở đại não thì thường nằm sát chất xám và chỉ ở một bên bán cầu đại não. Nếu ở tiểu não thường bị hoại tử tạo thành các nang trong u, đây là loại u não xâm nhập mạnh nhất.

- Vi thể:

Tế bào u có nhiều hình thái, tế bào to, có nhiều đuôi toả ra các phía, các đuôi thường bám vào mạch máu, u bao gồm các loại sau:

+ U nguyên bào thần kinh đệm đa dạng:

Đây là khối u rất ác tính, hay tái phát, hay gặp ở tuổi trung niên.

Đại thể:

U phát triển trong chất trắng và phát triển về phía màng não, dính với màng não khiến ta nhầm tưởng là u màng não, mặt cắt có nhiều màu sắc, nơi màu đỏ, nơi màu nâu, nơi màu xám. U không có vỏ bọc, xâm lấn mạnh, trong u thường có hoại tử.

Vi thể:

Cấu tạo u gồm những tế bào chưa biệt hoá, ít đuôi thần kinh, có nhiều tế bào khổng lồ nhiều nhân, nhiều hình nhân chia, nhiều tế bào nhỏ, nhân hình bầu dục, bào tương ít, các tế bào u sắp xếp quanh mạch máu thành hình nan hoa (hoa hồng), các tế bào nội mô mạch máu cũng phát triển mạnh, có nhiều hình nhân chia.

+ U tế bào thần kinh đệm ít nhánh: Đây là u hiếm gặp

Đại thể:

U thường ở một bên đại não, sát dưới màng não, có ranh giới, dễ tái phát.

Vi thể:

Tế bào u có nhân tròn đều, đôi khi có thể thấy lắng đọng muối vôi trong u.


+ U nguyên tuỷ bào:

Đây là u rất ác tính, có thể gây di căn vào khoang dưới nhện và tuỷ sống, u phát triển chủ yếu ở tiểu não.

Đại thể:

U có vỏ bọc rõ nhưng phát triển nhanh tạo thành khối lớn, u thường  bị vôi hoá. Mặt cắt tổ chức u mềm, đỏ nhạt, ít sinh ra các nang.

Vi thể:

U gồm nhiều tế bào nhỏ, nhân hình bầu dục, bào tương ít, các tế bào sắp xếp hỗn độn, có khi xếp thành hình hoa hồng giả, đó là những tế bào non có nhiều hình nhân chia. Ngoài ra có thể gặp nguyên bào thần kinh, nguyên bào xốp.

2.3. Các u tế bào thần kinh

2.3.1. U tế bào thần kinh: Đây là loại u hiếm gặp.

- Đại thể:

U không rõ ranh giới, mặt cắt có màu hồng lẫn những đốm màu vàng nhạt.

- Vi thể:

Cấu trúc u gồm các tế bào với kích thước và hình dáng khác nhau, nằm xen lẫn nhau, tế bào bé nhất là nguyên bào thần kinh, tế bào to nhất là tế bào hạch thần kinh, giữa hai loại trên là các tế bào có kích thước trung gian. Tế bào to có bào tương gẫy góc, có  đuôi chia nhiều hay ít nhánh, bào tương có thể Nissl, nhân tế bào to, nhiều tế bào 2 nhân (chứng tỏ nhân chia trực tiếp). Một số có nhân lệch về một phía, một số ít bị thoái hoá, bào tương lỗ rỗ không có thể Nissl.

2.3.2. U nguyên bào thần kinh

Đây là u hiếm gặp, cấu trúc u gồm chủ yếu là nguyên bào thần kinh, tế bào có một nhân to không có thể  Nissl trong bào tương.

2.3.3. U nguyên bào võng mạc

Thường gặp ở trẻ em, nguồn gốc từ nguyên bào thần kinh võng mạc. U phát triển nhanh và di căn tới màng não.

Cấu trúc u gồm các tế bào tròn, ít bào tương, nhân tế bào to, nhạt màu, các tế bào tập hợp tạo thành hình hoa hồng.

 

 

U MÀNG NÃO

1. Định nghĩa

U màng não là các khối u phát sinh từ màng não - tuỷ.

2. Phân loại

U màng não hay gặp ở tuổi trung niên, vị trí thường gặp là ở 2 bên đường giữa phía vòm sọ, đỉnh xương bướm, và ở màng tuỷ sống.

Có nhiều cách phân loại, chúng tôi phân loại theo nguồn gốc tổ chức u, bao gồm 4 loại sau:

- U màng não thể tế bào màng não.

- U màng não thể nguyên bào sợi.

- U cát màng não.

- U màng não ác tính.

Đại thể: (chung cho cả 4 loại)

Khối u có vỏ bọc, mềm, màu xám, có nhiều mạch máu trong khối u, có thể chứa sụn, xương hoặc những đám vôi hoá. Nếu u màng não ở hộp sọ thì có thể gặp những khối xương hình nón mọc từ vòm sọ hoặc nền sọ vào trong khối u do xương sọ vùng có khối u sinh sản nhiều hơn bình thường, nhưng ở tuỷ sống thì ít gặp hiện tượng này.

Vi thể:

+ U màng não thể tế bào màng não:

Cấu tạo u gồm các tế bào to ranh giới không rõ sắp xếp thành từng đám, từng ổ, hoặc tạo thành hình túi. Các tế bào u được ngăn cách nhau bởi các dải tế bào giống nguyên bào sợi nhưng không có sợi tạo keo.

+ U màng não thể nguyên bào sợi:

Cấu tạo u là những dải tế bào kiểu nguyên bào sợi, quấn quýt vào nhau, giữa các tế bào là sợi tạo keo, dây võng, khối u ít mạch máu, u tiến triển nhanh.


+ U cát màng não:

Cấu tạo u gồm những lá đồng tâm đã bị trong hoá và vôi hoá, hình ảnh này được gọi là thể cát, bản chất là các mạch máu hoặc các ổ tế bào đã bị thoái hoá, trong hoá, vôi hoá cho nên chụp X quang sẽ có hình cản quang.

+ U màng não ác tính:

Đây là u hiếm gặp, nếu gặp thì gặp loại Sacom xơ. Ngoài ra còn có thể gặp u hắc sắc tố ác tính, loại này có lẽ phát sinh từ tế bào hắc tố ở màng não.

 

 

Dịch vụ thiết kế website wordpress