1. U có nguồn gốc răng (Odontogenesis)
Sự hiện diện các u có nguồn gốc răng là kết quả của sự gián đoạn hoặc phản ứng của tổ chức liên quan trong quá trình phát triển bình thường của răng. Bản chất của u được xác định bởi giai đoạn phát triển, tại thời điểm bắt gặp chúng xuất hiện.
Một đánh giá ngắn gọn về u có nguồn gốc từ răng sẽ hữu ích trong việc tìm hiểu mô bệnh học và cách cư xử với các khối u có nguồn gốc răng.
Tại tuần thứ 6 của thời kì bào thai, răng bắt đầu hình thành ở vùng nhất định của ngoại bì miệng để hình thành phiến răng . Tại mỗi vị trí nơi răng sẽ hình thành, các phiến răng thoái lui để bắt đầu tổ chức men răng. Cùng với tổ chức men răng, các nhú răng và các túi răng được hình thành toàn bộ cấu trúc răng và tổ chức chống đỡ răng. Các phiến răng cái gắn kết lúc đầu với tổ chức men răng từ biểu mô miệng bị phá vỡ, vì vậy sự phát triển của các mầm răng bị phân chia từ biểu mô của khoang miệng.
Mỗi một giai đoạn phát triển của răng liên quan với một sự kiện nhất định, được tóm tắt ở dưới. Sự gián đoạn trong một chuỗi này có thể dẫn đến hình thành các khối u xuất phát từ răng.
- Giai đoạn mầm: Bắt đầu hình thành tổ chức men răng.
- Giai đoạn múi răng: xuất hiện tăng trưởng nhanh. Phát triển không đều dẫn đến hình thía đặc trưng. Các tế bào ngoại biên hình khối và được giới hạn bởi biểu mô men răng ở bên ngoài (outer enamel epithelium - OEE), và các tế bào lõm là các tế bào trụ lớn được bao quanh bởi biểu mô men răng bên trong. Tại cùng thời điểm, các tế bào đa giác giữa biểu mô bên ngoài và bên trong bắt đầu phân tách và hình thành mạng lưới các tế bào tinh vi hơn được biết đến với tên gọi màng lưới hình sao (stellate reticulum - SR), các khoang của chúng chưa đầy dịch nhầy. Về mô bệnh học, chất này giống thạch Wharton. Còn tranh cãi sự hình thành của biểu mô cấu thành dẫn đến đông đặc của lớp ngoại bì-trung mô bị đóng kín và hình thành các nhú răng. Các tế bào của nhú răng thựchình thành tủy răng và răng. Tương tự, sự đông đặc của ngoại bì trung mô bao quanh tổ chức men dẫn đến tạo ra các túi răng. Các tế bào của túi răng thực sự hình thành men răng và dây chằng quanh răng.
- Giai đoạn hình chuông: xuất hiện biệt hóa về mô bệnh (sớm) và hình thái học (muộn). Bây giờ tổ chức men răng mang hình chuông kéo dài và có 4 loại tế bào biểu mô rõ rệt: biểu mô men bên trong (inner enamel epithelium - IEE), tầng giữa (stratum intermedium), mạng lưới hình sao (stellate reticulum - SR), biểu mô men răng ở bên ngoài (outer enamel epithelium - OEE).
+ Biểu mô men bên trong tổ chức và được coi là các tế bào gắn kết của nhú răng để biệt hóa thành nguyên bào tạo ngà (odontoblasts), cái hình thành lên ngà răng. Sự cảm ứng lẫn nhau này được thiết lập để hình thành lên răng.
+ Tầng giữa gồm một ít lớp tế bào hình que giữa IEE và RS. Có vẻ lớp này thiết lập hình thái men răng bởi vì nó vắng mặt ở một phần của mầm răng, cái ở vùng ngoài của răng không có men răng.
+ Sự dãn rộng mạng lưới hình sao bởi việc tạo ra một lượng dịch nội tế bào. Nó phá hủy trước khi hình thành men răng, để lại nguyên bào tạo men (ameloblasts) đóng kín khoang dưỡng chất gần kề với biểu mô men răng ở bên ngoài.
+ Biểu mô men răng ở bên ngoài dạng trơn, trở thành nếp. Ở trong các nếp, sự gắn kết trung mô của các túi răng hình thành các nhú với cuộn mao mạch để cung cấp dinh dưỡng cho hoạt động chuyển hóa của tổ chức men răng không có mạch. Tổ chức men cũng hình thành màng chân biểu mô Hertwig, cái xác định hình thể của chân và khởi đầu hình thành ngà của chân răng.
+ Sự đóng kín: sự lắng đọng của khuôn cấu trúc cứng của răng xuất hiện. Các cấu trúc này bắt đầu lắng đọng calci, mọc và cùng với thời gian, bị mài mòn.
2. Các u của chất tạo men (odontogenic tumors)
U nguyên bào tạo men (ameloblastoma) là một u hoàn toàn biểu mô phát triển từ các phiến răng, bao Hertwig, tổ chức men, hoặc lớp lót của nang răng/nang tạo men răng. U nguyên bào tạo men là u biểu mô chất tạo men răng thông thường hay gặp nhất. U hay xuất hiện ở tuổi từ 20 – 40. Tuy nhiên, u dạng nang đơn độc thường xuất hiện ở tuổi thanh niên. Tổn thương này xuất hiện cả hàm trên và duới nhưng thường xuyên nhất là hàm dưới phía sau. Chỉ có 20% được thấy ở hàm trên. Nam và nữ gặp như nhau.


Mặc dù u nguyên bào tạo men không được phân loại như một u ác tính (hiếm khi tồn tại ác tính) nhưng nó xâm lấn và xâm nhiễm. Tổn thương này được coi là xâm lấn mức độ thấp hoặc vô sản ác tính tương tự ung thư tế bào đáy.
Nhiều mô tế bào và kiểu phát triển tương tự được thấy giữa hai tổn thương. Nhìn chung nó không di căn nhưng phát triển chậm, ổn định và khó điều trị tiệt căn. Nếu không xác định là u nguyên bào tạo men và không phát hiện tình cờ trên phim do những mụcc đích chụp khác. Triệu chứng đầu tiên thường là đau do xương bị căng ép. [ CLOSE WINDOW ]
2. 1. The patient was advised that biopsy of cystic lesion was indicated; however, he did not schedule an appointment because he was planning to leave the country. He did not follow-up for 3 years. He returned to the United States and sought care from a general dentist when he noted some mild facial swelling and discomfort. He was referred to the oral and maxillofacial surgery (OMFS) clinic. Incisional biopsy revealed the lesion to be an ameloblastoma. Treatment consisted of segmental resection of the entire mandible from the condyle to the area of the second premolar. The defect was reconstructed using autogenous rib, iliac crest, and tibial bone. Note the stable occlusion and excellent function obtained.
Những dấu hiệu Xquang
U nguyên bào tạo men xuất hiện đặc trưng là những hình không thấu quang nhiều ngăn ở vùng răng hàm thứ 3 bên dưới nhưng chúng cũng có thể được thấy ở bất cứ đâu trên xương hàm. Những tổn thương này có thể một ổ khi nhỏ, chúng thường làm tiêu răng khi chúng tiếp xúc. Những tổn thương này không bao giờ cản quang.
2.2. Các dấu hiệu mô bệnh học
U nguyên bào tạo men không phải là một cái nang. Thành phần u là biểu mô thuần nhất và giống giai đoạn nang của chất tạo men răng (ví dụ, các tế bào trụ lớn phân cực ở khoang ngoài của tổn thương với mạng lưới hình sao (SR) ở khoang góc, cái có thể hình thành lên nang) Tổn thương này có thể có chứa tổ chức liên kết phản ứng, cái không phải là u. Đây là một u không có chức năng, không gồm tổ chức liên kết xung quanh, cái không có khả năng hình thành lên men răng. Kết quả, những u này thể hiện u chất tạo men bị hãm lại. Tồn tại rất nhiều mô bệnh học khác nhau ví như loại gai ở trong mạng lưới hình sao được thay thế bằng các tế bào hình vẩy và ngọc trai, loại tế bào hạt ở trong SR được thay thế bởi các tế bào hạt, và loại đám rối trong SR giảm hoặc vắng mặt.
2.3. Điều trị
Điều trị u nguyên bào tạo men là phẫu thuật cắt bỏ với các mép tự do rộng rãi. Phẫu thuật hồi phục có thể được làm cùng thời gian. Tất cả các bệnh nhân bị u nguyên bào tạo men cần phẫu thuật điều trị và theo mô bệnh học, Xquang suốt đời. Nếu cắt không đúng, thường xuyên tái phát.
Những yêu cầu phẫu thuật:
- U nguyên bào tạo men xương hàm trên không giới hạn bởi tấm vỏ xương khỏe mạnh như được thấy ở xương hàm dưới. Bên cạnh đó xương hàm trên phía sau khuất kín liên quan với nhiều cấu trúc quan trọng. Những cấu trúc này tạo cơ sở mạnh mẽ đối với sự xâm lấn và xác định phẫu thuật điều trị đối với u nguyên bào tạo men.
- Ở xương hàm dưới, cách mép u 1cm được coi là chuẩn. Điều này có thể hoàn toàn với cắt bỏ block hoặc từng phần, phụ thuộc vào mối liên quan của tổn thương với bờ vỏ xương phía dưới.
- Đơn giản trừ phi u nguyên bào tạo men một nang. Loại thông thường xuất hiện ở tuổi thanh niên và như tên gọi nó được đặc trưng bởi hình ảnh một nang không thấu quang, cái thường thấy ở vùng răng hàm thứ 3 hàm dưới. Không giống các loại u nguyên bào tạo men khác. Người ta tin rằng tổn thương này không phải là nang và có thể lấy bỏ bằng cách khoét bỏ/nạo đơn thuần, Hầu hết các tác giả tin rằng nếu để lại không điều trị tổn thương này trở thành u nguyên bào tạo men một trong những loại khác, dẫn đến kết quả cuối cùng những tổn thương thể hiện đơn giản ở giai đoạn sớm trong sự phát triển của u nguyên bào tạo men.
- Đối với u nguyên bào tạo men ngoại vi, phẫu thuật bảo tồn với theo dõi lâm sàng cẩn thận là một trong những tiêu chuẩn chăm sóc.
2.4. Liên quan với các tổn thương khác
- Ung thư tế bào đáy: ung thư tế bào đáy là một khối u phụ không di căn thâm nhiễm khác. Ung thư tế bào đáy và u nguyên bào tạo men phát triển chậm nhưng lâu dần và chúng có thể gây tử vong do phá hủy lan rộng tổ chức vào những cấu trúc quan trọng. Nếu người ta coi rằng răng là cấu trúc phụ của miệng, thì dễ dàng hiểu rằng tại sao u nguyên bào tạo men được nhìn nhận tương tự như một ung thư tế bào đáy.
- U men răng xương chày: tổn thương này có mô bệnh học tương tự loại u nguyên bào tạo men hình đám rối. Nó được coi là u ác tính mức độ thấp và như tên gọi nó được thấy xâm lấn vào xương chày.
- U sọ - họng: u tuyến yên này phát sinh từ túi Rathke, một phần của lỗ miệng nguyên thủy cái mà mô bệnh học xuất hiện hơi giống u nguyên bào tạo men. Tuy nhiên, nó thực sự giống nang Gorlin.
- U nguyên bào tạo men răng ngoại vi: Bệnh học tổn thương này giống như u nguyên bào tạo men trung tâm. Nhưng nó không bao gồm xương và nó hoàn toàn giới hạn ở lợi. Khả năng phát triển chậm và xâm lấn ít hơn u nguyên bào tạo men trung tâm, và hoàn toàn có thể.
- U nguyên bào tạo men răng ác tính: xấp xỉ 2% u nguyên bào tạo men ác tính di căn, thường là phổi. Những tổn thương này có thể thực sự là kết quả của sự hít các chất từ tổn thương bong ra ở trong khoang miệng, và vì thế nó không thực sự là di căn.
- Ung thư biểu mô nguyên bào tạo men: đây là tổn thương ác tính với tế bào ưa sắc, đa hình, hoạt động gián phân cao. Ung thư biểu mô nguyên bào tạo men di căn thực sự.
3. U chất tạo men tuyến nang (Adenomatoid Odontogenic Tumor)
U chất tạo men tuyến nang tương đối hiếm gặp, nhưng nó thường dễ phát hiện trên lâm sàng và trên Xquang. Nó thường được nhắc với tên gọi “u 2-3”. Nó thường xuất hiện ở tuổi từ 12 đến 20. 2/3 các trường hợp xuất hiện ở phía trước xương hàm trên, 1/3 xuất hiện ở phía trước xương hàm dưới, và nó không bao giờ được thấy ở phía sau tới răng hàm phía trước. 2/3 thấy ở nam giới và 2/3 liên quan với răng bị chèn chặt, thường là nang nanh, răng có một múi.
U này xuất phát từ biểu mô men răng của nang răng bị thiếu và tái phát sinh biểu mô men bên trong (IEE). Nhìn chung, chúng không có triệu chứng, nhưng có thể xưng nhẹ hoặc liên quan với các răng bị mất trên lâm sàng.
3.1. Các dấu hiệu Xquang
Nói chung, các tổn thương này xuất hiện là một vùng không cản quang ranh giới rõ. Trong 75% các trường hợp nó liên quan tới răng không mọc ẩn thường là răng nanh. Nó có thể có những nốt cản quang, với sự lắng đọng calci. Nếu nó liên quan đến răng, nó thường dính với đỉnh chóp chân răng hơn là loại nang thân răng.
3.2. Đặc điểm mô bệnh học
Về mặt kĩ thuật, đây là một u mô thừa hơn là một cái u thực thụ vì nó phát triển theo kiểu có giới hạn. Nó có một nang sợi dầy chứa đầy các biểu mô tăng sinh cái hình thành cấu trúc giống u và ống nhỏ (ví dụ tổ chức u của các tế bào hình khối hoặc trụ được ngăn cách bởi biểu mô hình thon). Nguời ta cho rằng thiếu tổ chức liên kết để tạo ra hình thái men răng, các sản phẩm của các tế bào, các khuôn trước men răng dẫn đến thoái hóa và cuối cùng dẫn đến các vùng mất calci và tinh bột.
3.3. Điều trị
Điều trị những tổn thương này được khuyến cáo là lấy bỏ đơn giản. Nếu để lại một mình, các cấu trúc có thể trở lên phức tạp. Tuy nhiên chúng có thể trở lên lơn hơn. Hầu hết được lấy bỏ làm sinh thiết. Nếu u chất tạo men tuyến nang không được lấy bỏ hoàn toàn, phần còn lại của tổn thương bị thoái hóa. Chưa thấy nói đến tái phát hay không?
4. U biểu mô chất tạo men canxi hóa (Calcifying Epithelial Odontogenic Tumor)
U biểu mô chất tạo men canxi hóa (CEOT), hoặc u Pindborg là một u chất tạo men thâm nhiễm lành tính và là một trong những u hiếm nhất. Nó được đặt tên sau khi Jens Pindborg, một nhà bệnh học người Đan mạch phát hiện ra. Nó thường được thấy ở vùng răng hàm lớn nhiều hơn răng hàm nhỏ của xương hàm, nhưng có 33% được thấy ở xương hàm trên. Nó thường liên quan đến mọc răng hoặc răng kẹt (impact) trong 50% các trường hợp. CEOT là một u xâm nhập và gây phá hủy bởi dãn rộng tại chỗ. Nó được phân ra thuộc tầng trung gian và phát triển chậm hơn u nguyên bào tạo men. Không ngạc nhiên khi nó xâm lấn ít hơn u nguyên bào tạo men.
4.1. Các dấu hiệu Xquang
Các tổn thương này có thể không thấu quang, nhưng chúng có thể là một khối lẫn lộn vừa thấu vừa cản quang, biểu hiện dấu hiệu như tuyết rơi.
4.2. Đặc điểm mô bệnh học (Histologic characteristics)
Nhìn thấy mô bệnh học của tổn thương này hơi buồn vì nó xuất hiện những đảo xâm nhập lan tràn trong xương. Những đảo này trông giống những tế bào vẩy thuần túy với nhân đa hình thái mức độ cao (a high degree of nuclear pleomorphism), những vòng Liesegang (những cấu trúc phiến mỏng hình nhẫn không tế bào, thường thấy trong nang lành tính và abscess), bào tương trưởng thành bình thường (các tế bào đa diện lớn với những cầu gian bào khỏe mạnh và chứa đầy hạt keratin trưởng thành) và thiếu hình dáng gián phân giúp phân biệt tổn thương này với ung thư tế bào vẩy. Tiếp theo các tế bào đa hình thái thoái hóa nhân và hoại tử, và phá hủy chuyển hóa canxi và chuyển hóa tinh bột là đặc trưng trong các tế bào biểu mô đang chết.
4.3. Điều trị
Điều trị tổn thương này là phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn. Tỷ lệ tái phát của bệnh vào khoảng 4%. Tổn thương này phát triển chậm và đòi hỏi theo dõi liên tục đề phòng tái phát ít nhất 5 – 10 năm. Không có trường hợp nào chuyển dạng ác tính được báo cáo.
5. Nang chất tạo men keratin và canxi hóa (Keratinizing and Calcifying Odontogenic Cyst)
Nang chất tạo men keratin và canxi hóa (KCOC), hoặc nang Gorlin không phải là một nang thực thụ mà giống một u xu hướng nang hơn. Một vài nang thực sự rắn chắc. Đây là một tổn thương hiếm không rõ tuổi, giới, và thiên về vị trí nào. Chúng có thể được thấy ở mọi nơi ở xương hàm và ¼ tổn thương được thấy ở tổ chức phần mềm ngoại vi (như lợi) Nếu KCOC không được phát hiện như một sự tình cờ trên phim Xquang, thường thấy dấu hiệu lâm sàng sớm nhất là xưng tại chỗ.
Những tổn thương phát sinh từ biểu mô men trưởng thành hơn là từ nguyên bào tạo men và do đó chúng có sự tăng trưởng chậm.
5.1. Các dấu hiệu Xquang
Có những hình ảnh thấu quang khó nhận ra, cái có thể chứa các vết đốm cản quang. Chúng có thể trở nên rộng hơn nếu không tình cờ phát hiện ra.
5.2. Đặc điểm mô bệnh học
Những tổn thương này được lót bởi biểu mô tương tự u nguyên bào tạo men (thấy lớp nền bị phân cực và SR). KCOC xuất hiện ở vài nơi tương tự u nguyên bào tạo men một nang. Với một khối u tế bào biểu mô vẩy keratin hóa bên trong SR. Tuy nhiên, những tế này không có nhân và được gọi là tế bào ma (ghost cells). Cuối cùng các biểu mô ma này thoát vị vào tổ chức liên kết gây ra một phản ứng với vật thể lạ của tổ chức liên kết dẫn đến canxi hóa phá hủy tổ chức ngà răng và hình thành nên tổ chức hạt.
Đơn giản hơn, tổn thương này cho thấy biểu mô men có xu hướng trưởng thành nhưng không có khả năng hình thành men răng. Dẫn đến hình thành keratin ma, cái có thể, quay trở lại tạo ra ngà răng. Tương tự như vậy giữa tổn thương này với u họng – sọ đã đề cập trước đó.
5.3. Điều trị
Những tổn thương này được lấy bỏ bằng phẫu thuật và hiếm khi tái phát sau phẫu thuật.
6. U niêm chất tạo men (Odontogenic Myxoma)
Myxoma là một u lành tính của tổ chức liên kết có chứa chất giống genatin.
Đây là một tổn thương xâm nhập lành tính, cái mà trên lâm sàng không có khả năng phân biệt được với u nguyên bào tạo men. Nó được thấy ở vùng có răng, và hơi thiên về xương hàm dưới. Nhìn chung nó xuất hiện ở tuổi 30 – 40, và phát triển phồng ra chậm. Nếu không được điều trị, nó sẽ xâm lấn và phá hủy. Nó được cho rằng xuất phát từ trung mô răng hoặc từ nang.
6.1. Những hình ảnh Xquang
Hình ảnh Xquang của tổn thương này không phân biệt được. Nó tương tự u nguyên bào tạo men (hình thấu quang nhiều ổ). Một vài tác giả cho rằng những ổ riêng lẻ trong u niêm chất tạo men (u xơ – niêm; myxofibrinoma) hơi nhỏ hơn.
6.2. Những dấu hiêu mô bệnh học
Một ít nguyên bào sợi hình sao cùng với một lượng acid hyaluronic dồi dào, các sợi thiếu collagen và không có nang là những hình ảnh đặc trưng của tổn thương này. Hyaluronic acid hợp thành những vết màu xanh Alcian, làm nhớ lại một trong những hình ảnh của chất đông Wharton. Tổn thương này trông giống như tủy răng phát triển và có thể bị lẫn lộn với sự phát triển của răng hàm thứ 3.
6.3. Điều trị
Như với u nguyên bào tạo men, tổn thương này được điều trị bằng cắt block. Có thể xuất hiện tái phát mặc dù ít hơn u nguyên bào tạo men.
7. U sợi nguyên bào tạo men (Ameloblastic Fibroma)
U sợi nguyên bào tạo men là một u hỗn hợp thực thụ phát sinh từ sự kết hợp của 2 tổ chức bào thai. Thành phần biểu mô có khả năng tạo ra trung mô nhưng lại có xu hướng phát triển thành tổ chức cứng của răng. Nó thường gặp ở người trẻ tuổi (từ 5 – 20 tuổi). 75% u sợi nguyên bào tạo men được thấy ở xương hàm duới phía sau trong vùng phát triển của răng. Nó lành tính và phình rộng, phát triển đẩy ra trước hơn là xâm lấn tổ chức xung quanh.
7.1. Những dấu hiệu Xquang
Hình ảnh tổn thương này là một hoặc 2 hốc thấu quang, thường thấy ở hàm dưới phía sau. Hình ảnh Xquang giống u nguyên bào tạo men một nang và cả hai tổn thương sẽ khó chẩn đoán vì chúng ảnh hưởng tương tự tới các nhóm tuổi và cùng hình ảnh Xquang và lâm sàng. Mô bệnh học hai bệnh khác nhau.
7.2. Các dấu hiệu mô bệnh học
Phần biểu mô của tổn thương này hầu như khác biệt với u nguyên bào tạo men. Tuy nhiên, thành phần tổ chức liên kết trông giống tủy răng. Nó là các tế bào trẻ, giống tổ chức liên kết, không có nhiều collagen dày đặc. Thành phần biểu mô và tổ chức liên kết tăng trưởng cùng nhau bên trong nang.
7.3. Điều trị
Điều trị tổn thương này là cắt block tới bờ xương bình thường. Chỉ nạo vét đơn giản, tỷ lệ tái phát vào khoảng 20 – 40%. Cũng đã thấy báo cáo ung thư hóa (ung thư sơ nguyên bào tạo men- ameloblastic fibrosarcoma) với việc bị tái phát và nạo vét nhẵn u).
8. U răng – sơ nguyên bào tạo men (Ameloblastic Fibro-odontoma)
U răng – sơ nguyên bào tạo men là tổn thương chất tạo men răng rất hiếm gặp, cái phát triển từ tổ chức cứng của răng (ví dụ ngà, men, cemen). Nó thường xuất hiện trước 20 tuổi và có hơi thiên về vùng răng hàm nhỏ hơn là các vùng hàm khác. Mặc dù những tổn thương này có thể trở nên hơi lớn, nhưng nhìn chung chúng không phải là thành phần tăng trưởng mạnh.
8.1. Hình ảnh Xquang
Hình ảnh u răng – sơ nguyên bào tạo men là những hình thấu quang có ranh giới rõ với một khoảng trung tâm lớn. Những tổn thương này cũng luôn luôn thấy liên quan với răng. Một vài hình ảnh tương tự trong phim giống với u Pindborg và nang Gorlin bởi vig đây là tổn thương hỗn hợp cẩn quang và không cản quang. Nếu khu trú ở hàm dưới phía trước, AOT cũng có thể cần chẩn đoán phân biệt bằng phim Xquang.
8.2. Các dấu hiệu mô bệnh học
Tổn thương này có dấu hiệu mô bệnh học của u sơ nguyên bào tạo men. Tuy nhiên biểu mô cảm ứng cửa tổ chức liên kết xuất hiện là điểm để phân biệt mô bệnh học dẫn đến sự có mặt của ngà răng, men răng hoặc cemen trong hình ảnh mô bệnh.
8.3. Điều trị
Phẫu thuật cắt bỏ u răng sơ nguyên bào tạo men luôn luôn được đề cập. Tổn thương này thường không tái phát. Trong một vài báo cáo cũng có đề cập tới chuyển dạng ung thư hóa cùng với tái phát.
9. U chất tạo men răng liên hợp (Complex Odontoma)
Các tổn thương u chất tạo men răng liên hợp thể hiện sự khác biệt về mô bệnh học sau này của biểu mô đa năng chất tạo men răng. Những phát hiện từ tổn thương này giống với những u răng – nguyên bào tạo men sơ, nhưng sau này được mở rộng ra một bước. Biểu mô trong tổn thương này bị thoái triển để lại tổ chức của răng bị mất cấu trúc. Chúng là những tổn thương thông thường, và chúng tồn tại suốt đời. Chúng thường được phát hiện ở tuổi thanh niên và thường gặp ở vùng răng hàm dưới; tuy nhiên chúng cũng có thể thấy ở những vùng khác của xương hàm.
9. 1. Những dấu hiệu Xquang
Nói chung những tổn thương này được mô tả như ánh mặt trời tỏa sáng cản quang đượcbao quanh bởi một viền thấu quang, đều, mỏng. Mặc dầu những mô tả này có thể có một vài nét đặc biệt giống hình ảnh mô tả ung thư xương liên quan với răng, ranh giới rõ ràng của bờ tổn thương, và không đau và/hoặc sưng giúp phác họa tổn thương rất ác tính này từ ung thư xương.
9.2. Đặc điểm mô bệnh học
Sự biệt hóa mô bệnh học của tổn thương này mở rộng hơn một buớc so với u răng nguyên bào tạo men – sơ (ameloblastic fibro-odontoma). Trong u răng liên hợp thấy giảm sinh lý của tế bào biểu mô nguyên bào tạo men. Thấy phức hợp tổ chức men , cement, ngà, và ống tủy răng lỗ rỗ như tổ ong. Quan sát thấy sự biệt hóa mô bệnh nhưng không biệt hóa hình thái học ở tổn thương này.
9.2. Điều trị
Lấy bỏ đơn giản hoặc theo rõi Xquang là phương pháp điều trị. Tổn thương này không tái phát.
10. U chất tạo men răng phức hợp (Compound Odontoma)
Đây là u chất tạo men răng thông thường nhất. Nó thể hiện bằng các sản phẩm của sự biệt hóa mô bệnh học và hình thái học của tổ chức chất tạo men răng dẫn đến kết quả xuất hiện một đám các răng chậm phát triển đa dạng. Nó thường được thấy ở xương ổ răng phía trước hàm trên nhưng cũng có thể khu trú ở bất cứ chỗ nào ở phần có răng của xương hàm. Nó thường được qui cho là cản trở mọc răng bình thường, vì thế thường phát hiện ở tuổi thanh niên.
10.1. Những dấu hiệu X quang
Nhiều cấu trúc giống răng bé xíu đa dạng không rõ đường viền thấu quang.
10.2. Các dấu hiệu mô bệnh học
Mô bệnh học của u chất tạo men răng phức tạp gần giống cấu trúc răng bình thường. Tổng kiểm tra lâm sàng cũng đã đủ để chẩn đoán.
10.3. Điều trị
Phương pháp điều trị đơn giản là lấy bỏ. Những tổn thương này không tái
11. U nguyên bào tạo xương răng (Cementoblastoma)
U nguyên bào tạo xương răng, đặc biệt từ u chất tạo xương răng là một u thực sự của xương răng. U lành tính này hiếm và thường được quan sát thấy ở bên nhân trẻ hơn 25 tuổi. Nó thường thấy liên quan với chóp răng hàm thứ nhất hàm dưới (50% tổn thương), và không bào giờ thấy liên quan với răng phía trước. Các tổn thương này luôn không có triệu chứng mặc dù đôi khi răng liên quan có thể bị tăng cẩm nhẹ khi gõ.
11.1. Các dấu hiệu Xquang
Thấy một khối giống hình mặt trời tỏa sáng cản quang tròn ngay tại chóp răng ranh giới rõ và được bao quanh bởi một viền thấu quang. Tổn thương che khuất tổ chức cứng men răng. Đôi khi các sinh viên nhầm lẫn nó với viêm xương tủy xương ngưng tụ, một tổn thường thông thường dẫn đến từ phân hủy xung quanh mức độ thấp kích thích tăng trưởng xương. Mặc dù vị trí thường thấy của hai tổn thương này là tương tự, viêm xương tủy xương ngưng tụ không che khuất khoang dây chằng quanh răng và có xu hướng không theo qui định nào cả. U chất tạo xương răng trưởng thành cũng được biết đến như là loạn sản xương răng bao quanh là một tổn thương thông thường khác cái mà sinh viên có thể nhầm lẫn với u nguyên bào tạo xương răng. U chất tạo xương răng có 3 giai đoạn phát triển: tiêu xương, nguyên bào tạo xương (phức hợp thấu quang và cản quang), và trưởng thành (cản quang).
11.2. Các dấu hiệu mô bệnh học
Các nguyên bào tạo xương răng tròn trĩnh được phân chia bởi các phần cement hình thành mô bệnh học của tổn thương nang hóa này.
11.3. Điều trị
Lấy bỏ chỗ tiếp xúc với răng và u là phương pháp điều trị. Không thấy báo cáo có tái phát.
Tài liệu tham khảo:
- Bài giảng Răng hàm mặt tập 1,2,3 Trường Đại học y Hà nội.
- Bài giảng Phẫu thuật Hàm mặt. Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân. 2010.
- Stafine, EC. Bone cavities situated near the angle of the mandible. JADA 1942; 29:1969–1972.
Tiến sĩ BSCKII Lê Đức Tuấn







