1. ĐẠI CƯƠNG
U lành tính vùng hàm mặt thường khu trú đơn thuần ở tổ chức phần mềm hoặc tổ chức xương. Tuy vậy, có u khu trú ở cả hai khu vực xương và tổ chức phần mềm.
U nang lành tính vùng hàm mặt có một số đặc điểm chung sau:
- U phát triển chậm và có khi rất chậm.
- Phần lớn u khu trú có giới hạn rõ, dễ phát hiện do vậy dễ chẩn đoán bằng lâm sàng như nhìn, sờ.
- Da niêm mạc phủ lên u bình thường, không đau.
- Không hoặc ít ảnh hưởng đến sức khỏe toàn thân.
- Khi phát hiện chẩn đoán sớm, u còn khu trú, gọn, phẫu thuật triệt để không hoặc rất ít tái phát.
Thực tế trên lâm sàng và tổ chức học các khối u nang lành tính vùng hàm mặt thường gặp sau:
* U tổ chức phần mềm.
- U máu.
- U bạch mạch.
- Epulis (U lợi).
- Các u lành tính tuyến nước bọt: hay gặp u hỗn hợp.
- Nang giáp móng.
- Nang khe mang.
- Nang nhầy sàn miệng.
- Nang bã đậu, biểu bì.
- U sắc tố.
- U mỡ.
- U xơ.
- U biểu mô.
- U bao thần kinh (Schoan nome).
- U xơ thần kinh
- Nang dịch biểu bì.
- Nang mũi khẩu cái.
* U phần xương vùng hàm mặt
- Khối u xương hàm nguyên nhân do răng.
* Khối u xương hàm không do răng
- U xương xương hàm.
- U xơ trong xương hàm.
- U máu trong xương hàm.
- U sụn.
2. U MÁU VÙNG HÀM MẶT (có bài riêng)
3. U BẠCH MẠCH ( Lymphangioma)
u b¹ch m¹ch còng lµ lo¹i u huyÕt qu¶n, cã nguån gèc tõ hÖ thèng b¹ch huyÕt, do sù t¨ng sinh vµ gi·n réng cña c¸c m¹ch b¹ch huyÕt.
3.2.1. L©m sµng:
- Còng lµ u cã tÝnh chÊt bÈm sinh hay gÆp ë nh÷ng th¸ng ®Çu cña tuæi, chiÕm 1/3 tæng sè u huyÕt qu¶n.
- XuÊt hiÖn ë c¸c vÞ trÝ trªn mÆt, hay gÆp ë díi hµm, cæ, m¸, niªm m¹c miÖng, lìi.
- Mµu s¾c da vµ niªm m¹c trªn u gÇn nh b×nh thêng. NÕu ë niªm m¹c cã thÓ thÊy h¬i dµy víi c¸c nèt sÇn to nhá kh«ng ®Òu.
- Bãp vµ thay ®æi t thÕ kh«ng thay ®æi kÝch thíc.
- GÆp u b¹ch m¹ch thÓ nang vµ thÓ hang xen kÏ, cã nh÷ng nang kh¸ lín, cã thÓ chäc hót ra ®îc dÞch b¹ch m¹ch mµu vµng nh¹t vµ nhít.
- U b¹ch m¹ch dÔ bÞ béi nhiÔm nªn kh«ng nªn l¹m dông chäc hót u ®Ó chÈn ®o¸n.
3.2.2. §iÒu trÞ:
- B¶o tån: cã thÓ tiªm g©y x¬ nhng kÕt qu¶ h¹n chÕ.
- PhÉu thuËt : c¾t gän hoÆc mét phÇn u.
U b¹ch m¹ch cã thÓ kÕt hîp víi u m¸u ë mét vµi vÞ trÝ gäi lµ u m¸u- b¹ch m¹ch. BiÓu hiÖn l©m sµng cña lo¹i u nµy thiªn vÒ c¸c triÖu chøng cña u m¸u nªn khã chÈn ®o¸n chÝnh x¸c. ChØ ®îc x¸c ®Þnh b»ng kÕt qu¶ xÐt nghiÖm gi¶i phÉu bÖnh lÝ sau phÉu thuËt.
4. NANG GIÁP MÓNG
4.1. Đại cương
- Nang giáp móng là bệnh lý bẩm sinh hay gặp nhất so với u nang vùng cổ. Bệnh lý này có nguồn gốc từ sự phát triển không bình thường của ống giáp lưỡi trong quá trình biệt hóa hình thành các cơ quan ở đầu, mặt cổ thời kỳ phôi thai.
- Về chẩn đoán thường dựa vào lâm sàng, ít áp dụng các kỹ thuật khác như siêu âm, cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ. Do vậy nếu không có kinh nghiệm về chuyên khoa dễ nhầm với các loại u nang khác.
- Về điều trị ở tuyến chuyên khoa thường triệt để, nhưng ở các cơ sở không chuyên do hiểu biết về cơ chế bệnh sinh chưa đầy đủ, nên chẩn đoán thường không đúng do vậy điều trị cũng đơn giản như dán cao, chọc hút, chích rạch, tiêm xơ hoặc phẫu thuật không triệt để nên thường để lại rò, viêm nhiễm.
4.2. Cơ chế bệnh sinh
- Trong bào thai, quá trình hình thành tuyến giáp có sự thông với lưỡi bằng một ống nhỏ gọi là ống giáp lưỡi, ống này về sau teo lại và biến mất.
- Do có một lý do nào đấy, ống giáp lưỡi không tiêu đi mà vẫn tồn tại sẽ tạo nên các nang kín nằm ở giữa sàn miệng, trên hoặc dưới xương móng. Nang này phát triển dần ta gọi là nang ống giáp lưỡi hay quen gọi là nang giáp móng.
4.3. Lâm sàng.
- Về thuật ngữ nếu dịch từ chữ thyro-glossal cyst thì phải gọi là nang ống giáp lưỡi. Tuy vậy về mặt phôi thai và thực tế lâm sàng, nang có mối liên quan với thân xương móng. Mặt khác từ trước đến nay các sách giáo khoa vẫn gọi thuật ngữ này là nang giáp móng, do vậy gọi bệnh lý này là nang giáp móng.
- So với nang khe mang thì nang giáp móng gặp tỷ lệ nhiều gấp 3 lần. Hay gặp ở trẻ em, nhưng ở tuổi trưởng thành và người già đến khám và phẫu thuật cũng không phải ít.
- Lâm sàng điển hình là một cục nhỏ bằng viên bi hoặc to hơn như quả quất nổi gồ ở da vùng cổ trước, tương ứng với xương móng, dính vào xương móng phần sâu, da phủ bình thường. Nếu không được điều trị kịp thời, nang bị bội nhiễm và tự vỡ mủ lẫn dịch nhầy, để lại một lỗ rò chảy dịch vàng. Lỗ rò này thỉnh thoảng tự bịt kín miệng sau vài hôm lại sưng tấy làm da quanh lỗ rò viêm nhiễm dày lên. Cứ như vậy thời gian rò kéo dài sẽ tạo thành ống rò chắc như dây thừng mà ta sờ thấy.
- Hiếm gặp có những thể không điển hình như một khối u nang thay đổi kích thước nuốt khó, lỗ rò nhiễm trùng và to, có trường hợp nang không nằm ở vùng giữa cổ trước mà nằm ở bên cổ trước hoặc nang nằm trong tuyến giáp. Cá biệt có trường hợp nang giáp móng cốt hóa do ống giáp lưỡi bịt kẹt lại trong khi xương móng đang phát triển.
- Chọc hút có dịch nhầy.
4.3. Cận lâm sàng
Nếu có điều kiện, sử dụng một số xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh để đánh giá, tiên lượng, chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt nang giáp móng với các bệnh lý bẩm sinh khác ở vùng cổ trước.
a). Siêu âm tuyến giáp.
Là một trong những xét nghiệm hình ảnh đáng tin cậy để phân biệt hình thái nang giáp móng với các khối u khác ở vùng trước cổ. Mặt khác nó có ưu điểm xác định được khối tu tái phát không sờ thấy sau mổ, xác định được tuyến giáp bình thường và kiểu nhu mô của nó.
b). Chụp Xquang có bơm thuốc cản quang. Vào nang hoặc đường rò có thể cung cấp thêm những thông tin hình ảnh về mối liên quan của nang đường rò ống giáp lưỡi với xương móng với các cầu trúc giải phẫu lân cận. Thường chụp tư thế thẳng, miệng chếch. Theo Geyrd và W, lliamr thì Xquang tư thế thẳng cho kết quả tốt hơn.
c). Chụp cắt lớp vi tính (CT. Scanner) là phương pháp chẩn đoán có giá trị cao với khối u vùng cổ, nó cung cấp thông tin chính xác về nang và ống nang về vị trí, kích thước, đặc điểm và liên quan với các cấu trúc xung quanh phương pháp này cũng rất có ích cho chẩn đoán nang giáp móng xuất hiện ở cạnh đường giữa cổ.
d). Chụp cộng hưởng từ (MRI) cho ta thông tin chi tiết của nang giáp móng và liên quan của nó với các cấu trúc xung quanh. Tuy nhiên kỹ thuật này ít được áp dụng vì giá thành chụp cao trong khi đó với lâm sàng và có thể áp dụng kỹ thuật đơn giản hơn cũng đã đủ để chẩn đoán nang giáp móng.
4.5. Điều trị.
Điều trị duy nhất bằng phẫu thuật áp dụng có kết quả nhất là thủ thuật Sistrunk. Phương pháp này tác giả mô tả vào năm 1920. Tuy nhiên Schlalange vào năm 1893 là người đầu tiên chủ trương cắt cả phần giữa của xương móng. Cơ sở phẫu thuật Sistunk bao gồm cắt lấy bỏ toàn bộ nang, thân xương móng và khoảng 3 mm mô lưỡi ở xung quanh phần trên xương móng của ống tới lỗ tịt. Theo Gary và Josephson thì phẫu thuật Sistrunk là tiêu chuẩn vàng cho điều trị nang giáp móng.
Tuy nhiên, điều trị nang giáp móng có thể thất bại do nhiều yếu tố: chỉ cắt nang đơn thuần, không kèm theo cắt đoạn thân xương mỏng là lý do chủ yếu gây ra tái phát, tỷ lệ này chiếm khoảng 59%-100% theo FlageoleH và Josephson. Một nang giáp móng như chỉ chọc hút nạo, đốt lỗ rò, chích, rạch thì tỉ lệ tái phát chắc chắn là 100%.
5. NANG KHE MANG
5.1. Đại cương
- Nang khe mang là bệnh lý bẩm sinh hay gặp trên lâm sàng, xuất hiện ở trẻ em nhiều hơn người lớn. Tỷ lệ so với nang giáp móng chiếm 1/3. Bệnh lý nang có nguồn gốc từ sự phát triển không bình thường của bộ mang trong quá trình biệt hóa hình thành các cơ quan đầu mặt cổ thời kỳ phôi thai.
- Về chẩn đoán thường chủ yếu dựa vào lâm sàng, ít áp dụng các phương tiện chẩn đoán khác do vậy không có kinh nghiệm dễ dẫn đến chẩn đoán và điều trị sai lệch.
- về điều trị nhìn chung không đơn giản, phẫu thuật mang tính triệt để. Tuy nhiên ở cơ sở không chuyên khoa, không hiểu biết đầy đủ về cơ chế bệnh sinh điều trị thường không có kết quả cao, để lại rò tái phát, viêm xơ dính gây khó khăn cho việc phẫu thuật sau này.
5.2. Cơ chế bệnh sinh
Trong thời kỳ phôi thai, bộ mang, các túi mang và các khe mang, bộ mang này biệt hóa để hình thành các cơ quan ở đầu mặt và cổ. Trong quá trình biệt hóa, một thành phần nào đó của bộ mang không tiêu đi, còn lại ta gọi là nang khe mang.
- Nang khe mang vùng loa tai:
Thường gặp ở vùng tam giác trước tai, ở quanh loa tai, hay cạnh dái tai, có thể kín hay dò ra da. Dị tật này do từ một phần của khe mang I hay từ ngoại bì của khe mang I lõm xuống tạo nên.
- Nang khe mang ở vùng cổ.
Dị tật này do nang khe mang II không bịt hết nên còn tồn tại xoang cổ. Phần lớn các trường hợp có rò ra ở vùng cổ, lỗ rò thường ở bờ trước cơ ức đòn chũm 1/3 trên hoặc 1/3 dưới, thường gặp ở tuổi thiếu niên, 10% dị tật này có ở hai bên.
- Nang khe mang rò vào trong họng:
Rất hiếm gặp, chỗ rò thường ở khe hạnh nhân khẩu cái.
- Nang khe mang rò xuyên bộ mang.
Đường rò từ vùng da ngoài cổ đi qua lớp mô dưới da, cơ bám da cổ, lớp cân cơ đến động mạch cảnh, đi qua giữa động mạch cảnh trong và động mạch cảnh ngoài đổ vào khe Amidan khẩu cái, có dị tật này là do tồn tại cả khe mang II và túi nang II kèm theo thủng màng nang.
- Nang khe mang ở vùng cổ trên.
Bình thường ngoại bì cung mang III và VI bị vùi vào bên trong xoang cổ và lấp kín xoang cổ. Trường hợp có khoảng trống bên trong xoang cổ sẽ tạo nên nang khe mang ở vùng cổ trên. Nang này thường ít rò có hình bầu dục hay hình túi dài, gặp ở vùng góc hàm dưới hoặc ở trước trên cơ ức đòn chũm. Loại mang này chỉ được phát hiện ở tuổi trưởng thành do khi đó nang đã đủ to.
- Còn di tích bộ mang.
Bình thường gọng sụn cung mang biến mất hoàn toàn. Trường hợp còn tồn tại gọng sụn, cung mang dưới dạng mô sụn, nằm ở dưới da hai bên cổ, phía trước 1/3 dưới cơ ức - đòn - chũm. Hình: Các dị tật của bộ nang
5.3. Lâm sàng
Lâm sàng của nang, rò khe mang rất đa dạng từ khe mang I, II đến túi mang III, VI. Tuy vậy thực tế đa số gặp nang và rò khe mang II chiếm 94% và khe mang I chiếm 4%, còn lại rất hiếm gặp (theo Bhaska). Ở Việt Nam theo thống kê của Lê Minh Kỳ trên 76 bệnh nhân có nang, rò mang cổ bên thì 17,1% do khe mang II, 9,22% do khe mang I và 76,68% rò xoang lê.
5.3.1. Nang và rò khe mang I.
Thường xuất hiện nang, rò ở cổ, tuyến mang tai và tai. Tuy nhiên thể hỗn hợp tai - cổ thường gặp nhất. Trên lâm sàng dị tật thường được chẩn đoán khi phát hiện thấy lỗ rò hoặc một chấm lõm trên mặt da nằm trong vùng tam giác poncet, tam giác này có đỉnh là sàn ống tai ngoài, đáy là đường nối giữa đỉnh cằm đến phần giữa thân xương móng. Phần lớn các trường hợp lỗ rò bên ngoài là thứ phát do nang bị nhiễm khuẩn tự vỡ mủ hoặc do chích nặn, chọc hút. Miệng lỗ rò thường bị sùi lên, xung quanh là da thâm nhiễm do những lần viêm nhiễm trước đó.
5.3.2. Nang và rò nang khe mang II.
Nang thường có hình bầu dục, hay túi dài ở vùng cổ bên dọc theo bờ trước cơ ức đòn chũm, có trường hợp nằm ở góc hàm. Thường được phát hiện khi trẻ đã lớn vì khi đó nang đã to, do chất tiết của tế bào biểu mô lòng nang và các tế bào chết bong ra.
Trường hợp rò là do hoặc nang bội nhiễm, nhiễm trùng tự vỡ, hoặc thầy thuốc chích rạch tháo mủ hay phẫu thuật không triệt để. Lỗ rò thường ở cổ bên thấp nằm dọc bờ trước cơ ức đòn chũm chỗ nối 1/3 giữa và 1/3 dưới cổ ống đường rò đi dưới cơ bám da cổ và cân cổ nông tiến về phía hố hạnh nhân khẩu cái. Sờ có thể thấy ống rò nằm dưới tai khi rò lâu ngày.
Ngoài ra còn có lỗ rò bên trong thường không khẳng định và khó phát hiện, lỗ rò này có thể ở hố Amydal, bờ tự do màn hầu, trụ trước hoặc trụ sau Amydal.
Xét nghiệm đối với nang, rò khe mang thường hay áp dụng: chụp cản quang nang hoặc đường rò. Nhưng kết quả phụ thuộc vào chụp có được như ý muốn hay không vì trẻ nhỏ, xác định đường rò khó, nang ở giai đoạn viêm hay không viêm. Xét nghiệm dương tính cho chẩn đoán xác định, xét nghiệm âm tính không cho phép loại trừ.
5.4. Điều trị
Trước kia đã có một số tác giả điều trị bằng tiêm xơ hóa nang, rò khe mang nhưng kết quả hạn chế hoặc không có kết quả.
Hiện nay điều trị nang, rò khe mang duy nhất bằng phẫu thuật. Mục tiêu của điều trị là phải lấy hết nang, đường rò, nếu không sẽ tái phát.
5.4.1. Nang, rò khe mang I.
Đa số các tác giả đều thống nhất không nên đi vào nang bằng đường rạch da hẹp, hình múi cam, rạch ngay quanh đường rò hoặc nang, mà phải mở rộng đường mổ rạch da như phẫu thuật tuyến mang tai kéo dài đến lớp lằn cổ dưới cực dưới của nang, đường rò. Đường rạch này cho phép được bộc lộ dây VII, có thể cắt bỏ được thùy nông tuyến mang tai và phẫu tích được hết nang, đường rò, trong phẫu thuật chú ý không làm tổn thương nhánh và dây thần kinh số VII.
Kết thúc phẫu thuật bằng đường mở ống tai ngoài, lấy đi một mảnh sụn sống tai ngoài có lỗ rò.
5.4.2. Nang và rò khe mang II.
Đường rạch da ngay nếp lằn cổ hình múi cam quanh lỗ rò, hoặc trên cực dưới nang. Sau đó phẫu tích bám sát vỏ nang hoặc đường rò lên phía trên, có thể trợ giúp việc dẫn đường bằng cách bơm thuốc xanh méthylen vào nang hoặc đường rò.
Nếu ống rò, hoặc nang lên quá cao, cần phải rạch thêm đường thứ hai theo nếp lằn cổ ở phía trên, đường rạch này cho phép bóc tách nang, đường rò đến tận máng cảnh, thành bên họng.
6. NANG NHẦY SÀN MIỆNG
6.1. Đại cương
- Nang nhầy sàn miệng hay gặp nhất trong bệnh lý u lành tính vùng sàn miệng. Một số u nang khác có thể gặp như: nang đại biểu bì, nang bã nhờn.
- Về giải phẫu vùng sàn miệng bao gồm phần miệng và được khép lại bởi cơ hàm móng. Cơ này ngăn cách vùng trên xương móng và dưới móng. Tuy vậy nang nhầy có thể phát triển ở cả trên móng và dưới móng và dưới hàm.
- Về điều trị nang nhầy sàn miệng có thể phẫu thuật triệt để, nhưng có khi rất khó lấy hết nang khi đó gây tái phát.
6.2. Cơ chế bệnh sinh.
Một số tác giả cho là cơ chế sang chấn tạo nên một nang trong ứ dịch nước bọt. Do vậy về giải phẫu bệnh này nang rất mỏng (gọi là giả nang) chỉ là một hốc hình cầu chứa dịch được viền bởi một số tổ chức liên kết xơ và nguyên bào sợi. Đôi khi là một nang ống được viền bởi một biểu mô dẹt bị phá hủy ít nhiều màng nang bị thâm nhiễm bởi những bạch cầu và bào tương. Quanh những chùm nang nước bọt bị hủy hoại ít nhiều có tính chất dạng viêm nhiễm hoặc dạng nhầy.
Ngoài nguyên nhân kể trên một số tác giả khác cho rằng có thể do bào thai và như vậy nang nhầy sàn miệng có lẽ là một loại loạn sản phôi, tức là một sự tăng sinh của những mảnh vụn phôi ở đáy rãnh rìa lợi ngoài có tuyến dưới lưỡi.
Về bệnh sinh một số tác giả nghiên cứu cho răng nang nhầy sàn miệng giống như nang giả ở tuyến tụy. Nang nhầy sàn miệng phát triển từ tuyến dưới lưỡi sau một nhiễm khuẩn nhẹ với các nang tuyến tự tiêu. Theo Standish và Schafer cho rằng cơ chế gây nang là do ống một tuyến nước bọt bị sang chấn hay tắc lại rồi giãn phình to tạo thành nang.
6.3. Lâm sàng
Nang nhầy sàn miệng có thể gặp ở bất cứ tuổi nào, nhưng hay gặp ở tuổi trẻ 10-20-30 tuổi. Theo thống kê nữ nhiều hơn nam (2/3).
Nang phát triển chậm, lúc đầu bệnh nhân không để ý đến. Hoặc nang to, rối loạn phát âm, tự vỡ hoặc tình cờ đi khám bệnh răng miệng thấy thuốc phát hiện được.
Thường có hai dạng: nang nhái và nang nhày toàn thể.
6.3.1. Nang nhái.
Thực chất nang nhái là một nang nhầy khu trú ở cạnh dưới lưỡi một bên, chưa phát triển qua cơ hàm móng. Nang phồng căng bóng đẩy lưỡi sang một bên, giống như bụng con nhái, con ếch nên hình tượng gọi là nang nhái.
Nang lúc đầu nhỏ bằng hạt lạc ở một bên sàn miệng (cạnh-dưới lưỡi) tương ứng với răng nanh và răng hàm nhỏ hàm dưới. Không ảnh hưởng chức năng. Nang to dần rồi chiếm dần cả một bên sàn miệng, lan tới răng hàm lớn tạo thành một nang nhầy to đẩy, đội mặt dưới đầu lưỡi sang một bên. Nang hình bầu dục, căng bóng trắng hoặc tím, như bụng con nhái, con ếch như nói ở trên. Lúc này làm bệnh nhân rối loạn phát âm, hạn chế ăn ngậm miệng. Tuy vậy không gây đau, không sốt.
Tiến triển có thể gây bội nhiễm rồi tự vỡ, hoặc thầy thuốc không hiểu biết tự chọc hút cho nang xẹp đi. Dịch trong nang chưa nhiễm khuẩn là dịch nhầy trắng hoặc vàng kéo thành dây quánh. Nếu bội nhiễm, nhiễm khuẩn dịch nhầy như lòng trắng trứng, đục albumin và mucine. Sau một thời gian nang lại tái lập.
6.3.2. Nang nhầy sàn miệng toàn thể.
Hoặc nang nhầy ngày từ đầu, hoặc ta gọi là nang nhái tiến triển lan xuống vùng trên xương móng hoặc vùng dưới hàm. Đến lúc này tùy theo vị trí mà gọi nang nhầy sàn miệng thể trên móng hoặc thể dưới hàm.
Đặc điểm lâm sàng không có gì đặc biệt, nang to nhỏ tùy theo ở từng người bệnh đến khám. Có khi chỉ bằng quả táo, quả quất nhưng có khi rất to bằng quả cam. Da ít hoặc không thay đổi, mềm căng cảm giác có dịch. Nếu phần trên cơ hàm móng nang chưa vỡ, chưa phẫu thuật ta ấn ở dưới nang phình to ở khoang miệng, vì dịch nang trên dưới cơ hàm móng thông thương với nhau.
Toàn thân ít hoặc không ảnh hưởng chỉ khi nào bội nhiễm do chọc hút có hội chứng nhiễm trung. Nang to ảnh hưởng thẩm mỹ.
6.4. Điều trị
6.4.1. Đối với nang nhái.
Lý tưởng lấy bỏ hết nang nhưng thực hiện khó khăn vì màng nang rất mỏng, dễ bỏ sót.
Phẫu thuật theo phương pháp “Mở túi” dễ thực hiện, nhưng nếu làm không kỹ nang dễ tái lập vì viền túi dính lại với nhau.
Kỹ thuật.
- Tê tại chỗ, chọc kim ở điểm trước và điểm sau của nang.
- Rạch dọc nang hình múi quả, lấy bỏ tối đa mặt trước của nang. Khi dịch thoát gần hết.
- Khâu viền màng nang với niêm mạc.
- Đặt mèche nhỏ tẩm cồn Iod loãng 0,5-1% hoặc đốt màng nang còn lại bằng các phương tiện có dưới tay (đốt nhiệt, plasma, nitơ rát bạc, ATS...)
6.4.2. Đối với nang nhầy toàn thể.
Theo lý thuyết phẫu thuật triệt để là lấy gọn cả túi nang trên và dưới cơ hàm móng. Thực hiện được như vậy nang sẽ không tái phát. Tuy nhiên rất khó vì phần túi nang ở khoang miệng rất mỏng. khi bóc dễ vỡ, dễ bỏ sót.
Để thực hiện phẫu thuật này một cách linh hoạt, đa số các tác giả khuyên nên đi đường trong miệng và đường dưới hàm, bóc tách nang đường dưới trước, tách một cách tối đa cho đến chỗ cơ hàm móng. Phần túi nang trong miệng nếu tách được chọn vẹn sẽ cho thoát qua cơ hàm móng để lấy cả khối nang ra đường dưới hàm.
Trường hợp túi mang trong miệng bị vỡ, không thể lấy thành khối được ta khâu thắt nang ở cơ hàm - móng vị trí lấy bỏ nang từ chỗ thoát theo đường dưới hàm. Còn phía trong miệng ta thực hiện kiểu thủ thuật “Mở túi” để dịch nang còn lại thoát ra khoang miệng.
7. U XƠ THẦN KINH
U xơ thần kinh hay gọi bệnh Reckling Hasuen (1982) là bệnh toàn thân nhưng khu trú ở vùng hàm mặt khá cao. Theo thống kê 3000 trẻ ra đời có một cháu mắc bệnh Reckling hausen.
Tuy là bệnh bẩm sinh nhưng bệnh nhân hoàn toàn không đến khám bệnh ở những tháng đầu của tuổi mà thường khi u lớn theo tuổi đến độ nào đó mới khám bệnh.
7.1. Lâm sàng:
U ở da thành những hòn, cục đa phần thành đám, lúc đầu không ảnh hưởng chức năng và thẩm mỹ. Khu u đã lớn làm bản thân bệnh nhân và người ngoài chú ý. Khi đó u làm biến dạng các cơ quan trên mặt - tùy vị ví của u.
Thường u ở má, thái dương, mí mắt, môi, mép. U mềm nhăn nheo, có nếp có khi thành vạt rủ phủ cơ quan trên mắt trong rất kỳ quặc. Khi đó ta gọi là u chúa, u di động thành cả khối, không dính vào xương. Nếu không điều trị, u quá lớn làm biến dạng, teo nhỏ xương, tiêu xương. Da trên u thường có những vết xẫm màu nâu.
Ngoài u xơ thần kinh khu trú ở hàm mặt, có thể u còn khủtú ở trên cơ thể: tay, bụng, ngực, chân hoặc đơn độc hoặc phối hợp.
Về chẩn đoán: chủ yếu dựa vào lâm sàng có thể sinh thiết cho chẩn đoán chắc chắn nhưng với cơ sở giải phẫu bệnh lý có kinh nghiệm.
7.2. Điều trị:
- Nếu bệnh nhân đến sớm, u còn nhỏ phẫu thuật lấy bỏ triệt để, có thể tạo hình phục hồi.
- Khi u lớn và quá lớn: chú ý phẫu thuật mang tính cắt, xén bớt để phục hồi chức năng và thẩm mỹ. Với giai đoạn này không đặt phẫu thuật triệt để được vì u lan rộng, không có ranh giới, mặt khác phẫu thuật tổ chức u chảy máu rất khó cầm. Không có điểm chảy máu rõ.
Tài liệu tham khảo:
- Bài giảng Răng hàm mặt tập 1,2,3 Trường Đại học y Hà nội.
- Giáo trình Phẫu thuật Hàm mặt. Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân. 2010.
Tiến sĩ BSCKII Lê Đức Tuấn







