Trị liệu nhãn khoa

T6, 09/10/2020

I . DÙNG THUỐC

 

1.1. Đường dùng :

1.1.1. Đường toàn thân: Chỉ dùng khi bệnh nặng vì thuốc ngấm vào nhãn cầu rất kém do có hàng rào máu - mắt. Một ví dụ như kháng sinh chẳng hạn, nồng độ kháng sinh trong thuỷ dịch chỉ có thể đạt mức 10 - 20% nồng độ kháng sinh trong máu.

1.1.2. Đường tại chỗ: Đây là đường dùng chủ yếu, tiết kiệm thuốc và đạt hiệu quả cao trong nhãn khoa.

+ Tra mắt, rỏ mắt: Tra mắt là danh pháp dùng cho thuốc mỡ, nhỏ hoặc rỏ mắt là dùng cho thuốc nước. Dung dịch thuốc rỏ mắt, là những chế phẩm được pha chế tương tự thuốc tiêm có nghĩa là đảm bảo vô trùng, độ pH trung tính (lý tưởng nhất là 7,4 - bằng với pH nước mắt), áp lực thẩm thấu ở khoảng 300mosmol tức là cũng tương đương với áp lực thẩm thấu của nước mắt. Các thuốc tra mắt dạng mỡ, dạng nhũ tương cũng vậy và thêm nữa phải có độ mịn rất cao của tá dược để tránh kích thích cho mắt. Vì yêu cầu vô trùng mà các thuốc rỏ mắt chỉ được phép dùng trong một giới hạn thời gian nhất định sau khi đã mở niêm phong. Thông thường, các dung dịch thuốc rỏ mắt được dùng vào ban ngày. Nếu có nhiều loại thuốc được kê đơn cùng thời điểm thì việc rỏ mắt sẽ được tiến hành theo vòng tròn, mỗi loại thuốc được rỏ cách nhau một khoảng thời gian nhất định. Một ngày rỏ được bao nhiêu vòng tròn tức là mỗi loại thuốc được rỏ bấy nhiêu lần. Mỗi lần rỏ mắt chỉ cần 1 giọt thuốc vì chỉ có 20% khối lượng của giọt thuốc ở lại mắt. Khi rỏ mắt cần vành mi để cho giọt thuốc rơi vào đúng vùng kết mạc nhãn cầu góc trong hoặc kết mạc nhãn cầu phía dưới. Cũng có thể dùng cách kéo mi dưới trong khi bệnh nhân liếc mắt lên trên, giọt thuốc sẽ rơi đúng vào kết mạc túi cùng dưới. Để cho lọ thuốc không bị ô nhiễm nhanh hỏng cần tránh chạm đầu rỏ giọt của lọ vào bất cứ đâu, kể cả lông mi của bệnh nhân.

Thuốc mỡ do thời gian tồn lưu tương đối lâu trong ổ kết mạc cho nên thường được chỉ định tra mắt buổi tối trước khi đi ngủ. Cách tra thuốc mỡ thông thường là vừa vành mi, vừa kéo mi dưới trong khi bệnh nhân liếc mắt lên trên để bộc lộ túi cùng kết mạc dưới, rải một đoạn sợi thuốc mỡ chừng 2cm vào túi cùng kết mạc sau đó nâng nhẹ mi trên và mi dưới úp lên đoạn thuốc, dùng ngón tay day nhẹ trên bề mặt mi để tạo điều kiện cho thuốc được dàn đều trên bề mặt nhãn cầu. Cũng như trên, để đảm bảo tránh ô nhiễm thuốc, cần giữ cho đầu tube thuốc không chạm vào bất kỳ đâu, kể cả lông mi của bệnh nhân.

+ Tiêm dưới kết mạc, tiêm cạnh nhãn cầu, tiêm hậu nhãn cầu, tiêm nội nhãn: Với một số  bệnh của giác mạc và rất nhiều bệnh lý nội nhãn, bệnh của thị thần kinh, bệnh hốc mắt… Việc dùng thuốc bằng đường tiêm tại chỗ này là rất cần thiết. Về mặt nguyên tắc, thuốc loại tiêm bắp mà không gây kích thích, không có nguy cơ gây hoại tử tại chỗ đều có thể dùng cho các chỉ định này. Có một điều cần hết sức lưu ý khi tiêm cạnh nhãn cầu, hậu nhãn cầu là không được tiêm chệch vào nội nhãn. Để đạt được yêu cầu đó, kim phải đảm bảo được nằm theo hướng gần như tiếp tuyến với nhãn cầu và khi đã xuyên kim xong thì không được bơm thuốc vội mà giữ nguyên kim và cho bệnh nhân liếc các hướng. Nếu có cảm giác động tác vận nhãn bị ảnh hưởng do kim tiêm thì phải rút kim, tiêm lại. Tiêm dưới kết mạc có thuận lợi là mũi kim đi nông, người tiêm luôn quan sát thấy rõ đầu kim cho nên không ngại loại biến chứng này.

Tiêm nội nhãn là phương pháp rất ít dùng, được chỉ định khi có nhiễm trùng nội nhãn. Khi tiêm, kim sẽ đi qua vùng pars plana,thuốc được bơm vào dịch kính, liều kháng sinh thường rất thấp và lượng cũng hết sức hạn chế.

+ Đặt thuốc ở túi cùng kết mạc, tẩm kính tiếp xúc mềm: Thuốc chữa bệnh được tẩm vào miếng vật liệu có khả năng ngậm nước (màng thuốc) hoặc tẩm vào kính tiếp xúc mềm. Màng thuốc được đặt vào túi cùng dưới của kết mạc, còn nếu là kính tiếp xúc thì được đặt áp lên giác mạc. Thuốc khi đó sẽ từ từ thoát ra khỏi vật liệu mang nó để liên tục tạo nồng độ điều trị cho mắt.

+ Rỏ thuốc liên tục:  Đối với những trường hợp nhiễm khuẩn nặng ở giác mạc có đe doạ bỏ mắt (cầu khuẩn lậu, trực khuẩn mủ xanh…), những cấp cứu bỏng mắt do hoá chất, người ta thường phải áp dụng tới biện pháp dùng thuốc này. Dung dịch kháng sinh hoặc sát khuẩn, dung dịch rửa mắt cấp cứu được chứa trong chai lọ và treo ở độ cao chừng 0,75m - 1m sẽ theo dây truyền đi xuống rỏ giọt liên tục vào ổ kết mạc.

+ Ion di (điện phân): Đây là cách dùng dòng điện 1 chiều để đưa thuốc vào mắt. Cần phải biết rõ điện tích của ion hoạt tính của thuốc để đặt điện cực trái dấu ở phía gáy bệnh nhân thì mới đạt hiệu quả điều trị.

1.1. Một số loại thuốc hay dùng trong khoa mắt:

1.2.1. Thuốc gây tê vùng:  Một số thuốc hay dùng trong các phẫu thuật ở mắt hiện nay là:

-         Lidocain 2% : Liều cao tối đa là 4,5 mg/kg thể trọng nếu không pha lẫn thuốc co mạch như epinephrin, adrenalin. 7 mg/kg  thể trọng nếu có pha lẫn thuốc co mạch. Tác dụng kéo dài 1-2h.

-         Novocain 3% :

-         Bupivacain (marcain): Tác dụng kéo dài 6-10h.

1.2.2. Thuốc gây tê bề mặt: Dùng để vô cảm khi làm một số xét nghiệm, các thủ thuật và khởi đầu vô cảm các phẫu thuật mắt. Thuốc loại này chỉ dành cho thày thuốc để phục vụ cho việc khám chữa bệnh, không được kê đơn cho bệnh nhân.

-         Dicain: (tetracain, pantocain) dung dịch 1% gây vô cảm sau rỏ 1-2’, tác dụng kéo dài 15 -  20’. Thuốc có gây độc cho biểu mô giác mạc vì vậy không nên rỏ nhiều. Nếu thủ thuật kéo dài, cần phối hợp các phương pháp vô cảm khác.

-         Noveisine (oxybuprocain  clorua) 0,4%: Ưu điểm của thuốc này là ít gây độc cho biểu mô, tác dụng tê nhanh và mạnh, không gây dị ứng.

 

1.2.3. Thuốc gây dãn đồng tử: Thường dùng để khám bệnh, xác định tật khúc xạ, để chuẩn bị phẫu thuật đặt thể thuỷ tinh nhân tạo, để gây liệt thể mi giãn đồng tử trong phức hợp điều trị một số bệnh mắt.

Loại cường giao cảm (sympathomimetic): Nhóm thuốc này gây giãn đồng tử tích cực nhưng không làm liệt thể mi.

-         Neosynephrin (phenylephedrin hydrochloriide) 2,5%-10%: Đây là loại thuốc cường giao cảm tổng hợp gây rãn đồng tử nhanh, tác dụng trong vòng 30’ sau rỏ, kéo dài 2-3h.

-         Adrenalin : Là loại thuốc cường giao cảm tự nhiên, thường đóng dạng ống tiêm 1mg. Với mục đích giãn đồng tử mạnh để tách những chỗ dính của mống mắt vào thể thuỷ tinh, người ta trộn 1 ống adrenalin 0,001 g với 1 ống atropin 0,00025 g để tiêm dưới kết mạc vùng rìa phía tương ứng chỗ dính, lượng thuốc tiêm đủ tạo một bọng nhỏ đường kính chừng 3-4 mm.

Loại huỷ phó giao cảm (Parasympatholytic): Nhóm thuốc gây dãn đồng tử  thụ động kèm theo có gây liệt thể mi.

-         Homatropin hydrobromide 1%: Hiệu quả liệt thể mi cao nhất sau 3h,   trở lại bình thường sau 36-48h.

-         Atropin sulphat : Là loại huỷ phó giao cảm tự nhiên thường được pha chế dạng dung dịch 1% - 4%, có loại dung dịch 0,25 - 0,5% dùng cho trẻ em. Thuốc gây giãn đồng tử, liệt thể mi (liệt điều tiết) mạnh, có tác dụng sau rỏ 30’, mạnh nhất sau 2h, kéo dài 2 tuần.

-         Tropicamide : Thuốc huỷ phó giao cảm tổng hợp có tác dụng giãn đồng tử nhanh, ngắn (vài giờ) và gây liệt thể mi không hoàn toàn.

-         Cyclogyl (cyclopentolate hydrochloride) 1- 2% : Là loại thuốc gây liệt điều  tiết, dãn đồng tử  nhanh và thời gian ngắn. Chỉ sau 45-60 phút liệt điều tiết, giãn đồng tử đã đạt mức tối đa và sau 24 giờ đã phục hồi trở lại.

 

Chỉ định dùng thuốc nhóm huỷ phó giao cảm :

-         Khám khúc xạ: Rỏ atropin hoặc cyclogyl 3-5 ngày liền.

-         Các bệnh viêm mống mắt, thể mi, viêm màng bồ đào: Rỏ atropin 1- 4% một lần/ngày.

-         Các bệnh có phản ứng mống mắt thể mi: chấn thương mắt, bỏng mắt, viêm  loét giác mạc…rỏ atropin 1-4% 1lần/ngày.

-         Trước mổ thể thuỷ tinh, đặt thể thuỷ tinh nhân tạo, mổ bong võng mạc… rỏ kết hợp 2 loại thuốc cường giao cảm và huỷ phó giao cảm để đồng tử giãn ở mức tối đa.

-         Trước các khám nghiệm và thủ thuật như chụp ảnh đáy mắt, mạch ký huỳnh quang, quang đông, laser võng mạc…

Tác dụng phụ:

Có thể gặp hiện tượng đỏ bừng mặt, khô miệng, sốt, tim đập nhanh. Dự phòng bằng cách ấn góc trong mi ngay sau khi rỏ thuốc để hạn chế lượng thuốc đi xuống mũi họng, Nằm nghiêng đầu về phía đuôi mắt của mắt được rỏ thuốc (nếu chỉ rỏ thuốc ở 1 mắt).

1.2.4. Thuốc sát trùng (antiseptic) và kháng sinh (antibiotic):Có rất nhiều chế phẩm dạng nước, dạng mỡ dùng cho mắt được pha chế từ thuốc sát trùng, thuốc kháng sinh và sulfamide. Nhiều chế phẩm là đơn chất, một số khác là sự phối hợp 2 hoặc 3 loại kháng sinh, sulfamide để tăng tác dụng chống nhiễm khuẩn. Sau đây là một số chế phẩm đại diện:

-         Argyrol (argyrol bromhydrid): Là một loại muối bạc, dung dịch 2-3-4-10-20%. Loại 2% dùng cho trẻ sơ sinh, loại 3%- 5% dùng điều trị viêm kết mạc cho mọi lứa tuổi khác. Dung dịch 10-20% có thể dùng rỏ mắt trước mổ khi không có điều kiện xét nghiệm nuôi cấy vi khuẩn. Liều dùng rỏ mắt là 2-6 lần/ ngày, không dùng quá 10 ngày liên tục để tránh xảy ra hiện tượng đóng bạc trên kết, giác mạc.

-         Bạc nitrat (AgNO3 ) dung dịch 1%: Thuốc sát khuẩn thuộc nhóm muối bạc được chỉ định trong các trường hợp viêm kết mạc và phải do nhân viên y tế rỏ với kỹ thuật riêng đảm bảo cho thuốc không trực tiếp tác động vào giác mạc, không dùng cho trẻ em dưới 6 tuổi.

-         Kẽm sunphat dung dịch 0,5%: Tác dụng sát khuẩn và làm giảm tiết dịch trong viêm kết mạc. Đây còn là một loại thuốc điều trị loét giác mạc do herpes dễ kiếm và rẻ tiền.

-         Thimerosan (natri merthiolat) dung dịch 0,03%: Thuốc sát khuẩn thuộc nhóm muối thuỷ ngân hữu cơ được dùng để diều trị viêm kết giác mạc, không dùng cho trẻ em dưới 2 tuổi.

-         Thuốc đỏ (mercurocrom) 2%: Thuốc sát khuẩn thuộc nhóm muối thuỷ ngân hữu cơ được chỉ định dùng trong viêm kết mạc, sát trùng vùng mắt trước mổ.

-         Betadin 5%-10% (polyvidone-iodine natrichlorid): Thuốc sát khuẩn nhóm iode hữu cơ chỉ có tác dụng trên bề mặt, không có khả năng xuyên thấm vào nội nhãn. Chỉ định dùng betadin 5% rỏ để làm sạch mắt, dung dịch 10% dùng sát trùng ngoài da quanh vùng mắt trước mổ.

-         Sunfaxylum (sulfacetamid natri) dung dịch 10% - 20% - 30%: điều trị mắt hột, nhiễm khuẩn kết giác mạc, bờ mi do cầu khuẩn gram (-).

-         SMP (sulfamethoxypyridazine natri) 10%-20% : Là loại sulfamide thải trừ chậm, có tác dụng chủ yếu với vi khuẩn gram (+), virus mắt hột.

-         Clorocide (chloramphenicol) 0,4% :  Kháng sinh có trọng lượng phân tử thấp, có tác dụng lên cả vi khuẩn gram (-) và gram (+) .Clorocide 0,4% là loại dung dịch kháng sinh rỏ mắt rất phổ biến ở nước ta.

-         Tetracyclin 1% (dạng mỡ ): Tác dụng điều trị đối với cả vi khuẩn gram (-) và gram (+), virus mắt hột.

-         Tobrin (tobramycin sulfate) 0,3% : Dung dịch kháng sinh nhóm aminoglycosid diệt được cả vi khuẩn gram (-), gram (+). Chỉ định điều trị cho các nhiễm trùng ở mắt và phòng ngừa nhiễm trùng (rỏ mắt trước phẫu thuật).

-         Ciloxan (ciprofloxacin): Kháng sinh nhóm quinolon có hoạt tính kháng khuẩn rộng, khả năng diệt khuẩn mạnh, thấm tốt vào các mô của mắt. Dung dịch ciloxan 0,3% dùng cho các nhiễm trùng ở mắt và phòng ngừa nhiễm trùng trước mổ. Vì có ảnh hưởng tới sụn tiếp hợp nên không dùng cho trẻ em dưới 2 tuổi, phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú.

-         Acyclovir (zovirax): Dùng điều trị loét giác mạc do herpes. Đường toàn thân dùng cho người lớn viên 200mg x 5 lần/ngày, uống cách đều trong 24 giờ. Dạng mỡ 3% tra mắt 5 lần/ngày và cũng cách đều như dạng uống. Nên tra tiếp tục ít nhất 3 ngày sau khi lành ổ loét.

-         Natamicin: Kháng sinh chống nấm dạng dung dịch 5% điều trị loét giác mạc do nấm.

-         Sporal (Itraconazole): Thuốc kháng nấm đường uống, viên 100mg x 2viên/ngày, uống làm 1 lần, dùng 21 ngày liền.

1.2.5.  Thuốc chống viêm: Các thuốc chống viêm được dùng tương đối phổ biến trong nhãn khoa đường tại chỗ là nhóm steroids, non-steroids và nhóm thuốc ổn định dưỡng bào …

- Steroid: Hydrocortison, Prenisolon, Dexamethazon, Fluorometholon …

Cần chú ý:

+ Các thuốc này hay được pha chế phối hợp kháng sinh: ví dụ như

Polydexa, Dexacol, Maxitrol, Tobradex, Infectoflam,…

+ Chỉ dùng trong 7-10 ngày đầu của bệnh khi có chỉ định.

+ Chống chỉ định khi có loét giác mạc, lao, nấm, herpes …

+ Thuốc có thể gây tăng nhãn áp, đục thuỷ tinh thể, chậm liền vết thương, tăng nguy cơ nhiễm nấm, nhiễm herpes giác mạc khi dùng kéo dài.

- Non-SteroidS: Naclof (diclofenac 0,1%), Indocollyre (indomethacine)

được chỉ định dùng khi cần chống viêm kéo dài. Ngoài tác dụng chống viêm, thuốc loại này còn có tác dụng ổn định trạng thái giãn đồng tử giúp cho quá trình phẫu thuật trên thể thuỷ tinh được dễ dàng.

-         Thuốc ổn định dưỡng bào: Cromoptic (Cromoglycate sodium 4%), Alomide (Lodoxamide tromethamine o,1%)… những thuốc này không có tác dụng chống viêm nhưng với tác dụng ổn định dưỡng bào,ức chế sự gia tăng tính thấm thành mạch,ức chế hoá ứng động eosinophil ... chúng được sử dụng để điều trị các viêm kết mạc có căn nguyên dị ứng như viêm kết mạc mùa xuân, viêm kết mạc nhú khổng lồ…

1.2.6. Thuốc hạ nhãn áp.

-         Fonurit (acetazolamid) 0,25 dùng 10mg/kg cân nặng cơ thể, không quá 1g/24h. Đây là một sulphamid có khả năng ức chế men anhydrasa cacbonic-một men có vai trò quan trọng trong việc sản xuất thuỷ dịch ở thể mi. Trong thời gian tác dụng, thuốc có thể làm giảm 30%-60% lượng thuỷ dịch.

-         Pilocarpin (có từ 1876, nay vẫn được dùng phổ biến): Tác dụng chính là co cơ thể mi dẫn tới mở vùng bè, tác dụng đồng thời là co đồng tử giảm hiện tượng nghẽn trước bè.

-         Betoptic (Betaxolol hydrochlorid): Thuốc ức chế chọn lọc thụ cảm thể b1- adrenoceptor làm giảm lượng máu tới thể mi dẫn tới giảm tiết thuỷ dịch.

-         Thuốc nhóm tăng thẩm thấu (Osmotic agents): Nhóm thuốc này khi có mặt trong máu sẽ tạo ra một tình trạng ưu trương do đó dịch gây nề phù ở trong tổ chức- trong đó có các chi tiết giải phẫu của nhãn cầu- sẽ bị hút vào máu, sự nề phù giảm và nhãn áp được hạ xuống:

+ Glyceryl dung dịch 50%: Uống 1-1,5g/kg thể trọng, tác dụng tốt nhất sau 1h và kéo dài 4-5h.

+ Manitol dung dịch 20%: Truyền tĩnh mạch với liều 1,5-2g/kg thể trọng, tác dụng mạnh nhất sau 1h, kéo dài 5-6h.

+ Urea (Ureaphil): Liều 1-1,5g/kg thể trọng, truyền tĩnh mạch tác dụng mạnh nhất sau 1h, dài 5-6h.

1.2.7. Các Vitamin:

-         Vitamin A: Là loại vitamin tan trong dầu rất cần thiết đối với hoạt động của kết giác mạc và võng mạc.Thiếu vitamin A lâu ngày sẽ gây khô mắt, loét giác mạc, quáng gà.

Trong cuộc sống thường ngày, cơ thể được cung cấp loại vitamin này qua các thực phẩm như dầu gan cá, bơ, sữa, lòng đỏ trứng hoặc dưới dạng tiền vitamin A có nhiều trong các thực phẩm như rau có màu xanh đậm, củ quả có màu đỏ, da cam ( gấc, cà rốt…), sữa mẹ (đặc biệt là sữa non). Vì vậy, trong nhãn khoa vitamin A được chỉ định khi có khô mắt, quáng gà - một bệnh thường chỉ gặp ở trẻ suy dinh dưỡng. Liều dùng cho cho trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi là 1 viên 50.000 đơn vị, uống 1 lần, nhắc lại sau 6 tháng. Trẻ từ 6 tháng tới 1 tuổi uống 2 viên (100.000 đơn vị ). Trẻ trên 1 tuổi uống 4 viên (200.000 đơn vị ). Các trường hợp bệnh lý khác của mắt cũng thường được dùng vitamin A nhưng với liều dùng cho người lớn 2- 6 viên/ngày, trẻ em 1- 3 viên/ngày.

Một điều nên nhớ là khi dùng quá liều vitamin A sẽ gây các triệu chứng: ăn không ngon, mẩn ngứa, rụng tóc, chóng mặt, buồn nôn, đau xương khớp… Phụ nữ có thai, nhất là thai dưới 4 tuần tuổi, nếu uống vitamin A với liều trên 10.000 đơn vị/ngày rất có thể gây thai nhi sứt môi, quái thai.

Do có vai trò quan trọng đối với hoạt động của kết giác mạc, vitamin A còn được pha chế dạng mỡ, dạng dung dịch rỏ mắt để điều trị các tổn thương giác mạc như  viêm loét, bỏng, loạn dưỡng, sau ghép.v.v.

-         Vitamin C (axit ascorbic): Vitamin C là yếu tố rất cần thiết cho quá trình sinh tổng hợp collagen và proteoglycan của nhu mô giác mạc và tham gia dọn các gốc superoxit có hại sinh ra sau các quá trình chuyển hoá trong tổ chức. Nhiều bệnh mắt cần được chỉ định dùng vitamin C nhất là các tổn thương do bỏng, vết thương, viêm loét… Liều dùng trong các bệnh này là 1g/ngày, có thể dùng đường tiêm cạnh nhãn cầu hoặc dưới kết mạc (1ml) kết hợp đường toàn thân.

-         Vitamin B2 (Riboflavin): Vitamin B2 có vai trò rất quan trọng trong việc điều hoà chức năng thị giác và hoạt động của các niêm mạc. Thiếu B2 cơ thể sẽ bị tổn thương ở da, niêm mạc đường tiêu hoá, cơ quan thị giác…chỉ định dùng vitamin B2 khi có quáng gà, viêm kết mạc, viêm loét giác mạc, đục thể thuỷ tinh, chảy máu võng mạc… liều dùng uống 5 -10 mg/ngày, đợt 10 – 15 ngày. Nếu bệnh nặng có thể dùng liều 10mg/ngày, đợt 30 ngày.

1.2.8.  Các thuốc khác

-         Hyase: Là dạng đông khô của men hyaluronirase dùng điều trị chảy máu nội nhãn, tăng tác dụng hạ nhãn áp (phối hợp với thuốc tê tiêm hậu nhãn cầu trước mổ). Thường dùng đường tiêm dưới kết mạc hoặc cạnh nhãn cầu 1-2 ống/ngày.

-         Divascol (2-benzyl 4,5 imidazolin chlohydrate) : Là thuốc huỷ giao cảm, gây giãn mạch tại chỗ tiêm, thường dùng tiêm dưới kết mạc, hậu nhãn cầu. Liều thông thường là 1 ống/ngày x 7-10  ngày, trường hợp cấp cứu tắc động mạch trung tâm võng mạc có thể dùng tới 2 ống/lần và tiêm cách 30phút một lần, tiêm 2-3 lần.

-         Thuốc nhuộm màu: Fluorescein o,5%, 1% dùng rỏ mắt để phát hiện các tổn thương ở bề mặt kết mạc, giác mạc. Trong điều kiện thiếu thốn ở tuyến cơ sở có thể dùng thuốc đỏ (mercurochrome) 1%.

-         Nước mắt nhân tạo:

-         Thuốc rửa mắt: Nhiều người quan niệm rằng hàng ngày sau khi đi đường bụi về nên rỏ vài giọt dung dịch chlorocide 0.4% để rửa mắt. Điều này không đúng vì sẽ gây hiện tượng nhờn thuốc hơn nữa một số loại vi khuẩn cộng sinh của ổ kết mạc sẽ bị tiêu diệt. Thuốc rửa mắt theo mục đích trên thường là những dung dịch có chứa nước muối sinh lý (natri chloride 0.9%) : Osla, Ophthalda.

II. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ KHÔNG DÙNG THUỐC.

2.1.  Nhiệt độ.

-         Nóng: Tác dụng chủ yếu là tăng cường tuần hoàn tại chỗ và dùng trong điều trị một số bệnh viêm ở mi mắt

+ Đắp nến.

+ Chiếu đèn hồng ngoại.

+ Chườm nóng.

-         Lạnh (lạnh đông): Nhiệt độ rất thấp (-200C đến-400C của tuyết CO2) có tác dụng gây đông kết, viêm dính tổ chức hay được ứng dụng trong phẫu thuật bong võng mạc, phẫu thuật lấy thể thuỷ tinh trong bao. Ở nhiệt độ thấp hơn (-96°C của nitơ lỏng) tổ chức bị hoại tử do đó nitơ lỏng có thể được dùng để huỷ những u ở kết mạc và mi mắt

2.2 . Siêu âm.

Ở cường độ thấp, siêu âm gây ra những thay đổi về hoá học đưa tới tăng chuyển hoá tế bào, giãn mạch, tăng tính thấm thành mạch. Có thể ứng dụng đặc điểm này trong điều trị đục dịch kính, viêm võng mạc sắc tố (quáng gà). Siêu âm còn được dùng để tán nhuyễn thể thuỷ tinh (phẫu thuật phaco)

2.3. Châm cứu, xoa bóp :

Một số bệnh như đau dây thần kinh hốc mắt, chắp lẹo giai đoạn mới tấy viêm, liệt dây thần kinh số III, số VI, số VII….giai đoạn sớm điều trị bằng châm cứu có tác dụng tốt.

2.4. Laser.

-         Trong điều trị nội khoa: Tia laser dùng đốt các mạch máu vỡ gây xuất huyết nội nhãn, đốt đông võng mạc để điều trị và dự phòng bong võng mạc, laser cường độ thấp dùng trong viêm loét giác mạc, bỏng mắt có tác dụng đẩy nhanh quá trình lành vết thương.

-         Trong điều trị ngoại khoa: Laser được dùng để phẫu thuật glocom     (tạo lỗ mống mắt chu biên, mở góc tiền phòng), để điều trị đục bao sau thể thuỷ tinh thứ phát sau phẫu thuật đặt thuỷ tinh thể nhân tạo. Laser excimer còn được sử dụng trong phẫu thuật khúc xạ (điều chỉnh tật cận thị, viễn thị, lão thị, loạn thị).

2.5. Sóng ngắn (siêu cao tần).

Hiệu ứng nhiệt của sóng ngắn gây giãn mạch, tăng cường tuần hoàn tại chỗ có tác dụng chống viêm. Sóng ngắn được chỉ địng trong những viêm cấp ở mi (chắp nhiễm khuẩn, lẹo), ở đường lệ, ở hốc mắt.

2.6. Tia xạ.

Những u ác tính ở vùng mắt có chỉ định mổ hoặc không có chỉ định mổ đều có thể dùng tia xạ để kết hợp điều trị. Tuy nhiên cần lưu ý tránh để tia chiếu vào nhãn cầu sẽ gây đục thuỷ tinh thể, tổn hại võng mạc .v.v…

Mộng thịt tái phát được coi như là một u ác tính, có thể dùng phương pháp áp tia b sau mổ để ngăn ngừa mộng tái phát.

2.7. Phẫu thuật.

Rất nhiều bệnh mắt có thể được điều trị bằng phẫu thuật, có thể kể một số mặt bệnh đó là: đục thuỷ tinh thể, glocom góc đóng, glocom góc mở nhãn áp không điều chỉnh được bằng thuốc, bong võng mạc, vết thương nhãn cầu, quặm, mộng thịt, sụp mi bẩm sinh và di chứng, lác, cạn cùng đồ, và một số phẫu thuật thẩm mỹ … Danh sách các bệnh có thể được điều trị bằng phẫu thuật sẽ ngày càng tăng cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật./

Tài liệu tham khảo

 

  1. Nguyễn Văn Đàm, ( 2007), Nhãn khoa, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, trang………
  2. Phan dẫn, (2005), Nhãn khoa giản yếu tập , Nhà xuất bản Y Học, trang ….
Dịch vụ thiết kế website wordpress