Tâm lí người bệnh cơ thể

T6, 09/10/2020

 

Khi bị bệnh, tâm lí người bệnh cũng bị thay đổi. Sự thay đổi tâm lí người bệnh thường diễn ra trên hai bình diện:

+ Bình diện thứ nhất: mối quan hệ tương hỗ giữa hiện tượng tâm lí với bệnh tật.

+ Bình diện thứ hai: mối quan hệ giữa tâm lí người bệnh và môi trường xung quanh (kể cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội).

Có thể phân định một cách tương đối: mối quan hệ giữa tâm lí người bệnh với bệnh tật là mối quan hệ bên trong và mối quan hệ giữa tâm lí người bệnh với môi trường là mối quan hệ bên ngoài của người bệnh.

1. TÂM LÍ NGƯỜI BỆNH VÀ BỆNH TẬT

1.1. Một số vấn đề chung:

Điều dễ dàng nhận thấy rằng một khi bị bệnh thì bản thân bệnh ảnh hưởng đến tâm lí của bệnh nhân. Tuy nhiên sự ảnh hưởng này được diễn ra trên các cấp độ khác nhau.

- Cấp độ cơ thể:

Một khi có bộ phận hay cơ quan nào đó bị bệnh thì hoạt động chung của hệ thống đó cũng bị thay đổi. Đến lượt mình, hệ thần kinh cũng phải có sự điều chỉnh  trong hoạt động của nó do ảnh hưởng của hệ thống bị bệnh. Sự điều chỉnh hoạt động của hệ thần kinh chính là cơ sở dẫn đến sự thay đổi tâm lí của bệnh nhân. Ví dụ: trong trạng thái mệt mỏi, hệ thần kinh trở nên nhạy cảm hơn đối với các kích thích từ bên ngoài. Tiếng người nói bình thường như mọi khi đã làm cho bệnh nhân cảm thấy to hơn, khó chịu hơn.

- Cấp độ tâm lí:

Khi bị bệnh, tâm lí của bệnh nhân có các thay đổi nhất định. Trạng thái tâm lí thường gặp nhất  là trạng thái lo âu. Tùy theo mức độ của bệnh và đặc biệt là các đặc điểm nhân cách của cá nhân, phản ứng lo âu của bệnh nhân biểu hiện rất khác nhau, từ thờ ơ coi thường bệnh tật cho đến phản ứng thái quá. Có những trường hợp thậm chí còn rơi vào trạng thái bệnh lí mặc dù có thể bệnh cơ thể không nặng. Bên cạnh đó, các hiện tượng tâm lí của con người lại có liên quan mật thiết với nhau. Trong trạng thái lo âu hoặc cảm xúc không ổn định, khả năng tư duy, trí nhớ và trí tuệ nói chung cũng đều bị ảnh hưởng.

- Cấp độ xã hội:

Mỗi bệnh nhân không chỉ đơn thuần là một cơ thể bị bệnh. Trên bình diện xã hội, họ là chủ thể của các mối quan hệ và các hoạt động cá nhân, xã hội. Họ là thành viên của gia đình (với một số cương vị nhất định như cương vị người chồng và người cha), là thành viên của một nhóm xã hội nào đó (trong cơ sở lao động hoặc trong các tổ chức chính quyền, đoàn thể...). Một khi bị bệnh, các cương vị của họ ít nhiều cũng bị chi phối, bị ảnh hưởng. Thêm vào đó còn có thể là các ảnh hưởng đáng kể về kinh tế: tăng chi phí cho các hoạt động khám, chữa bệnh, giảm thu nhập do nghỉ việc. Tất cả những điều đó đều có ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lí bệnh nhân.

Sự kết hợp cả ba cấp độ đó càng làm cho những biến đổi tâm lí của bệnh nhân trở nên phức tạp hơn.

Tâm lí người bệnh ảnh hưởng trở lại bệnh tật đến mức nào là tùy thuộc vào đời sống tâm lí vốn có của người bệnh. Mỗi người bệnh có những thái độ khác nhau đối với bệnh tật. Có người cho bệnh tật là điều bất hạnh không thể tránh được, đành cam chịu, mặc cho bệnh tật hoành hành. Có người kiên quyết đấu tranh, khắc phục bệnh tật. Có người không sợ bệnh tật, không quan tâm tới bệnh tật. Có người sợ hãi, lo lắng vì bệnh tật. Đôi khi chúng ta gặp những người thích thú với bệnh tật, dùng bệnh tật để tô vẽ cho thế giới quan của mình. Bên cạnh những người giả vờ mắc bệnh, lại có người giả vờ như không bị bệnh tật... Thái độ đối với bệnh tật nói riêng và đời sống tâm lí của người bệnh nói chung ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động sinh lực bản thân trong phòng và chữa bệnh cũng như trong khắc phục hậu quả bệnh tật của người bệnh.

Những diễn biến bệnh tật và biến đổi tâm lí của người bệnh tác động lẫn nhau theo vòng tròn khép kín: bệnh ảnh hưởng đến tâm lí của bệnh nhân và ngược lại, tâm lí cũng ảnh hưởng đến diễn biến và kết cục của bệnh.

1.2. Phản ứng điều trị nội trú

1.2.1. Một số đặc điểm chung

Với người trưởng thành, hầu như ai cũng đã có một vài lần nằm viện. Đối với một số người, việc nằm viên diễn ra thường xuyên. Tuy nhiên phần lớn ít khi phải nằm viện. Đối với họ, lần nhập viện đầu tiên chính là sự báo hiệu cho những thay đổi lớn.

Có rất nhiều thay đổi về mặt xã hội đối với mỗi cá nhân khi phải nhập viện. Trước hết họ “có” thêm một vai trò mới, vai trò hầu như không mấy ai mong muốn: bệnh nhân. Nằm viện kéo theo một loạt các hậu quả: tự do bị hạn chế, không còn được ăn, uống, đọc sách, thức đêm tùy ý. Mặc dù biết là cần thiết song nhiều người vẫn cảm thấy ngần ngại khi phải cởi bỏ quần áo ngoài của mình để mặc bộ quần áo bệnh nhân. Nhiều người, đặc biệt là phụ nữ, cảm thấy không dễ chịu chút nào khi có tay người lạ đặt lên cơ thể mình.

Mặt khác việc thích nghi với chế độ, các qui định trong bệnh viện với nhiều người không thể diễn ra một cách nhanh chóng.

1.2.2. Các dạng phản ứng với bệnh

Khi bị bệnh, đặc biệt là khi phải vào điều trị nội trú, cá nhân đều có các phản ứng đối với bệnh cũng như đối với quá trình điều trị. Có thể phân chia ra 4 dạng phản ứng chính.

- Trầm cảm - lo âu

- ám ảnh – nghi bệnh

- Phản ứng phân li

- Phản ứng phủ định bệnh.

2. TÂM LÍ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ CHUNG CỦA BỆNH.

2.1. Yếu tố đau

Đau là một cảm giác khó chịu song nó lại cần thiết cho cơ thể. nếu chúng ta không có cảm giác đau, cơ thể của chúng ta có nguy cơ bị tổn thương nhiều hơn hoặc thậm chí dẫn đến việc chúng ta tự hủy hoại cơ thể của mình. Ví dụ: chẳng may chúng ta bị ngã rạn xương; nếu không có cảm giác đau, cứ đi lại, mang vác, chạy nhảy như bình thường thì nguy cơ chân bị gãy là rất rõ.

Dưới góc độ sinh lý học, các tín hiệu đau buộc cơ thể  không được hoặc hạn chế huy động vùng bị tổn thương vào các hoạt động thông thường cho đến khi nào vùng tổn thương đó được phục hồi. Sinh lý học cũng không thể giải thích được mọi khía cạnh của đau. Ví dụ: với những trường hợp đau mạn tính, không có vùng cơ thể cụ thể nào bị tổn thương nhưng cảm giác đau cứ dai dẳng, kéo dài triền miên. Tuy nhiên cũng không hợp lí nếu quan niệm rằng đau hoàn toàn là do yếu tố tâm lí.

Có sự khác biệt về văn hoá và giới

2.2. Những khía cạnh tâm lí của cái chết

2.2.1. Khái niệm chung

Càng đi về cuối cuộc đời, người ta càng buộc phải chứng kiến nhiều hơn cái chết của những người thân yêu, của bạn bè trước khi phải đối mặt với cái chết của chính mình. Trong thực hành y học, nhiều thầy thuốc phải chứng kiến cái chết của người bệnh và sự đau khổ của những người thân của họ. Cũng không ít trường hợp có sự bất đồng giữa người nhà với nhân viên y tế, khi những con người đang đau khổ đó cho rằng các thầy thuốc là những người “vô cảm”, chai sạn với cái chết của con người. Nếu phân loại, có thể tạm chia ra làm 3 loại cái chết:

- Chết đột ngột: chết do cơn đột quị, do mất nhiều máu, do sốc phản vệ khi tiêm thuốc…

- Chết từ từ: chết do bệnh AIDS, do ung thư, do bệnh nặng dần…

- Chết do tuổi già.

Trong bệnh viện, thường gặp nhất là dạng đầu. Do đặc điểm văn hoá, người Việt Nam đều muốn được chết (khi cái chết đến gần) trong ngôi nhà của mình với sự có mặt của những người thân yêu. Trong bệnh viện, nhiều trường hợp khi tình trạng bệnh đã rất nặng, người nhà xin đón bệnh nhân về để lo liệu.

2.2.2. Các giai đoạn chết

Không kể những trường hợp chết đột ngột, nhìn chung trên đường “đi đến” cái chết, con người thường trải qua các giai đoạn khác nhau. Kubler - Ross (1970), người đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lí về cái chết đã bắt tay vào những vấn đề này từ những năm 60 của thế kỉ 20. Qua phỏng vấn hơn 200 bệnh nhân trước khi chết, Bà đã đưa ra một mô hình gồm 5 giai đoạn như sau:

- Giai đoạn I (từ chối): chối bỏ, sốc và không tin. Đó là những phản ứng đầu tiên khi bệnh nhân biết rằng mình đã ở vào giai đoạn cuối và cái chết đã cận kề với họ. Theo  Kubler-Ross, một số người có những phản ứng này cho đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời.

- Giai đoạn II (tức giận/kích động): sau khi chối từ, bệnh nhân trở nên khó tính, hay đòi hỏi, gây khó khăn. Họ hay đưa ra những câu hỏi không có câu trả lời: tại sao lại là tôi phải chết?

- Giai đoạn III (mặc cả): bệnh nhân muốn có nhiều thời gian hơn để trì hoãn cái chết.

- Giai đoạn IV (trầm cảm): đây là dấu hiệu đầu tiên của sự chấp nhận mất mát, không thể tránh.

- Giai đoạn V (chấp nhận buông xuôi, sẵn sàng cho cái chết): lúc này họ rất muốn có người thân bên cạnh. Giao tiếp ngôn ngữ  thường là không cần thiết trong giai đoạn này.

2.2.3. Sự đau buồn khi mất người thân:

Hầu như bất kì ai cũng cảm thấy đau khổ khi mất người thân. Theo Bowlby (1980), sự đâu khổ này có thể được chia thành 4 giai đoạn:

- Giai đoạn I (sững sờ)

- Giai đoạn II (mong mỏi, khát khao)

- Giai đoạn III (tuyệt vọng)

- Giai đoạn IV (phục hồi):

Qua tổng hợp các nghiên cứu, Wortmann và Silver (1990) cho thấy có 4 dạng thể hiện đau khổ khác nhau:

- Đau khổ kéo dài, triền miên.

- Đau khổ xuất hiện một thời gian sau đó cá nhân ổn định trở lại.

- Đau khổ xuất hiện muộn. Đây là những trường hợp mà thoạt đầu dường như cá nhân không có phẩn ứng mạnh lắm. Tuy nhiên một thời gian sau khi người thân qua đời, cá nhân cảm nhận thấy những thiếu hụt, mất mát không gì bù đắp được. Trạng thái này rất lâu hồi phục.

- Không có biểu hiện đau khổ.

Dù sao chăng nữa các thầy thuốc cũng phải lưu ý rằng khi có một bệnh nhân chết thì có nhiều người khác đau khổ, dù rằng ở các trạng thái, các mức độ và các hình thức biểu hiện có thể khác nhau.

2.3. Yếu tố văn hoá

Khi có người thân qua đời, mọi người đều cảm thấy đau khổ. Tuy nhiên sự thể hiện cảm xúc này bị chi phối rất nhiều bởi yếu tố văn hoá. ở nước ta, theo truyền thống văn hoá Phương Đông, người chết chỉ là người đi xa và người còn sống vẫn tuân theo một số cách thức duy trì quan hệ tình cảm với người đã khuất như: cúng 3 ngày, 49 ngày, 100 ngày, hàng năm, lập bàn thờ… Ngược lại, ở các nước Âu- Mĩ, người ta thường động viên gia chủ nhanh chóng quên đi đau khổ để trở về với công việc thường ngày.

3 ĐẶC ĐIỂM TÂM LÍ NGƯỜI BỆNH THỰC THỂ

3.1. Đặc điểm tâm lí bệnh nhân nội khoa

3.1.1. Đặc điểm tâm lí người bệnh tim mạch

Theo Côxencô và Paramônôva, những biến đổi tâm lí ở những người bệnh động mạch vành, đặc biệt là bệnh nhồi máu cơ tim có ba hội chứng sau:

- Hội chứng sảng khoái bệnh lí

- Hội chứng nghi bệnh, loạn cảm giác

- Hội chứng giống suy nhược thần kinh.

Bệnh xơ vữa mạch não: dễ xúc động, khó kiềm chế những hành động bột phát, có khi nói năng ba hoa, có thái độ khoan dung, song lại là người bảo thủ và giảm khả năng lao động sáng tạo.

3.1.2. Đặc điểm tâm lí người bị bệnh gan – mật

Những người bệnh suy gan, xơ gan, viêm gan, viêm đường dẫn mật, túi mật... thường rất nóng nảy, khó tính, hay cáu gắt, bực tức, nặng về xúc cảm âm tính. Đặc biệt người bệnh hay mỉa mai, nhạo báng, độc ác và đa nghi, tiêu cực.

Bệnh sinh của những rối loạn tâm lí này rất phức tạp. Đa số các nghiên cứu cho rằng, đây là hiện tượng nhiễm độc gan của cơ thể, nhất là của hệ thần kinh. Chất độc trong máu tăng lên khác thường có thể do các cơ chế sau:

- Chức năng khử độc của gan bị suy giảm nên những chất độc của cơ thể không được thanh lọc, chúng ngày càng tồn đọng trong cơ thể.

- Chức năng chuyển hóa của gan bị rối loạn nên các sản phẩm chuyển hóa dở dang (không thành những sản phẩm cuối cùng) của prôtít, lipít, gluxít được đưa thẳng vào máu và gây độc cho cơ thể.

- Hệ thống mật bị tổn thương (tế bào gan bị vỡ, đường dẫn mật bị tắc...), nên sắc tố mật, muối mật đổ trực tiếp vào máu và trở thành những chất gây độc cho cơ thể.

Lượng chất độc tăng cao trong máu đã làm nhiễm độc hệ thần kinh và toàn cơ thể người bệnh. Tùy theo mức độ nhiễm độc mà tâm lí của người bệnh biến đổi nhiều hay ít, mạnh mẽ hay từ từ.

3.1.3. Đặc điểm tâm lí người mắc bệnh dạ dày, tá tràng

Những người bệnh viêm dạ dày mạn tính thường hay thờ ơ, lạnh nhạt, vô cảm, có khi trầm cảm, nghi bệnh, sợ hãi. Những người bệnh loét dạ dày - tá tràng có tính khí thất thường, thiếu kiên trì, nhẫn nại, khó kiềm chế, dễ nổi khùng, kích động, rất nóng tính, hưng phấn mạnh hơn ức chế, lắm điều. Người bệnh khó làm chủ thói quen, không bỏ được thói quen uống rượu, ăn ớt cay, hút thuốc lá... và khó chấp hành các chế độ ăn kiêng.

3.1.4. Người bị bệnh lao

Có nhiều nghiên cứu về những biến đổi tâm lí ở người bị bệnh lao, nhất là lao phổi, song kết quả của những nghiên cứu này rất khác nhau.

E. Kraepelin nhận thấy ở những người bệnh này có biến đổi nhẹ về khí sắc và ý chí, hay cáu gắt, nhạy cảm với những sang chấn tâm lí và vật lí, cả tin một cách kỳ lạ, linh hoạt, rất ích kỷ, trí tuệ giảm sút ở mức độ nhất định dẫn đến giảm khả năng phê phán, gặp nhiều khó khăn trong giải quyết những vấn đề bức thiết, có khuynh hướng sợ hãi, ảo giác phản ứng và tự đề cao thể lực của bản thân.

Lenhien - Lavaxtin lại nhận thấy các thuộc tính tâm lí cơ bản của người bệnh bị biến đổi trầm trọng, người bệnh đa sầu, đa cảm, ích kỷ, khó tính, song ở họ lại có sự tìm tòi, sáng tạo một cách độc đáo.

Có tác giả phán đoán rằng, những chất độc đang tràn ngập ở não và hệ thần kinh đã kích thích, làm cho người bệnh có trí tuệ xuất sắc, có đời sống tâm hồn đẹp đẽ và khả năng rung cảm cao...

3.1.5. Đặc điểm tâm lí của người bệnh ung thư

Những người bệnh này thường không được biết chính xác về kết quả chẩn đoán bệnh. Họ tò mò tìm hiểu nơi thầy thuốc và những người xung quanh. Họ sợ bị bệnh ung thư, sợ chết. Họ có trạng thái suy nhược, tăng ám thị (sẵn sàng nghe theo bất kỳ ai, miễn là giúp họ khỏi bệnh, hoặc làm dịu cơn đau). Nhiều người tỏ ra thất vọng, tiêu cực, sợ trở thành gánh nặng đối với người thân, thậm chí đi đến tự sát, không thiết sống...

3.1.6. Đặc điểm tâm lí bệnh nhân ngoài da và hoa liễu

Trong số các bệnh ngoài da, có nhiều bệnh thể hiện ở cả những phần không che kín của cơ thể. Khi đó bệnh nhân thường cảm thấy ngại ngùng xuất hiện ở chỗ đông người. Nhiều người trong số họ, đặc biệt là phụ nữ, đã tự mình cách li khỏi xã hội.

Sự phát triển mạn tính của bệnh có thể dẫn tới xuất hiện những nét nhân cách bệnh lí. Trong thực tiễn đã có trường hợp chỉ do bệnh vảy nến mà bệnh nhân đã có ý định tự sát.

Những bệnh hoa liễu, ví dụ như bệnh giang mai, thường gây ra các stress tâm lí kéo dài cho bệnh nhân. Trong nhiều trường hợp, do phải giấu diếm nên điều trị không được hệ thống. Khi đó, cùng với những kiến thức đã tìm và đọc, bệnh nhân sợ sau này bệnh tiến triển vào  “thời kì 4”, thời kì xuất hiện liệt tuần tiến hay giang mai não.

Đặc biệt đối với bệnh nhân HIV/AIDS có những diễn biến tâm lí phức tạp. Những biểu hiện thường gặp nhất là rối loạn trầm cảm và lo âu. Trong cơn trầm cảm, có bệnh nhân có thể thực hiện hành vi tự sát. Có những trường hợp, bệnh nhân kích động hoặc thực hiện những hành vi phi xã hội, ví dụ cố tình truyền bệnh cho nhiều người để trả thù đời.

3.2.  Đặc điểm tâm lí bệnh nhân ngoại khoa

Trạng thái lo âu cũng là một đặc điểm tâm lí nổi bật ở bệnh nhân ngoại khoa. Trong nhiều trường hợp, trạng thái lo âu trước phẫu thuật có thể đạt đến cường độ cao. Lo âu chủ yếu và phổ biến nhất là sợ chết. Mặc dù có thể đã được giải thích song họ vẫn sợ “nhỡ” rủi ro xảy ra, sợ “nhỡ” không thoát ra khỏi trạng thái hôn mê và cuối cùng, lo rằng mổ cũng không giải quyết được bệnh tật.

Đối lập với nhóm trên là những người ưa phẫu thuật. Đó là những người đề nghị được mổ để giải thoát các stress do bệnh hoặc liên quan đến bệnh. Ví dụ: một số bệnh nhân bị loét dạ dày cố gắng thuyết phục bác sĩ cho mổ. Thực hiện các chế độ ăn kiêng: kiêng ăn các chất chua cay; kiêng ăn  thức ăn quá nóng hoặc quá lạnh; kiêng uống rượu, bia; kiêng hút thuốc...tất cả các chế độ đó đã thực sự trở thành stress đối với họ. Họ muốn được tự do hơn, không bị lệ thuộc vào các yêu cầu của bác sĩ và theo họ, cách tốt nhất là “cắt” phần dạ dày đã bị loét.

Trạng thái sau phẫu thuật chủ yếu liên quan đến những cơn đau, mất sơ đồ cơ thể. Sự thay đổi sơ đồ cơ thể, ví dụ: phẫu thuật cắt cụt, phẫu thuật tạo hình, phẫu thuật cắt bỏ vú thường làm tăng những lo lắng trong quan hệ với người khác.

Theo A. N. Baculev: phẫu thuật không phải là sự kết thúc điều trị, mà chỉ là tạo nền tảng cho một điều trị mới tiếp theo.

Sự biến đổi tâm lí của người bệnh phụ thuộc rất nhiều vào các giai đoạn phẫu thuật:

- Khi chuẩn bị phẫu thuật, người bệnh hay lo lắng về chỗ nằm trước và sau mổ; quan tâm đến những lời bàn tán về trình độ của bác sĩ phẫu thuật chính, về cách mổ và những điều khác liên quan đến cuộc mổ.

- Giai đoạn tiền phẫu thuật và trong phẫu thuật, nhất là ở những người bệnh gây tê, châm tê hoặc gây mê không hoàn toàn (ý thức còn tỉnh, chỉ làm mềm cơ và giảm đau), họ lo lắng vì tiếng va chạm của dụng cụ, họ chú ý theo dõi "không khí tâm lí" trong cuộc mổ và những lời bàn tán của phẫu thuật viên...

Trong số những bệnh nhân nằm viện, bệnh nhân ngoại khoa, đặc biệt là trước khi mổ, là những người chịu nhiều stress nhất. Theo M. Pitts (2003) có 3 thành tố chính tham gia vào stress của bệnh nhân trước khi mổ:

- Bị gây mê: trong trạng thái bị gây mê, người bệnh hiểu rằng mình bị mất ý thức, không còn khả năng kiểm soát bản thân. Mặt khác họ cũng sợ “không tỉnh dậy”, bị “ngủ” luôn hoặc tỉnh lại được nhưng có thể “quên hết mọi thứ”.

- Lo ngại những cơn đau sau mổ, đặc biệt là khi đã tỉnh lại và thuốc giảm đau đã hết tác dụng.

- Chính sự kiện phẫu thuật: bị mổ, rạch thịt, da, dao, kéo…

Theo Pitts, mỗi thành tố trên  cũng đã có thể là một tác nhân gây stress. Tuy nhiên chúng thường xuất hiện kết hợp với nhau làm cho stress càng phức tạp và khó đối phó.

3.3. Đặc điểm tâm lí bệnh nhân sản, phụ khoa

Những cảm nhận của phụ nữ, lần đầu tiên chuẩn bị làm mẹ cũng khá đa dạng. Trước hết là những cảm nhận về thay đổi sinh học: ban đầu là các phản ứng thai nghén, sau là những khó khăn, hạn chế vận động, có lúc ăn không ngon, ngủ không yên, tiểu tiện thất thường.

Cùng với sự thay đổi về cơ thể là những thay đổi về tâm lí. Càng gần đến ngày sinh con, lo âu của người mẹ lại càng tăng lên. Lo không biết có được mẹ tròn con vuông hay không, sợ sảy thai, ngôi ngược, sợ đẻ non. Nhiều người rất sợ các cơn đau đẻ, sợ băng huyết, sợ nhầm con, nhất là đối với những người đã từng bị sảy thai.

Đặc biệt có những nỗi lo hoàn toàn mang tính tâm lí-xã hội: lo  không đẻ được con trai khi chồng và gia đình bên chồng đang “khao khát” một qúy tử.

Thậm chí có những lo âu dai dẳng gần như bệnh lí: lo đẻ ra quái thai, dị dạng.

Ngay sau khi sinh con, ở những phụ nữ này lại xuất hiện những vấn đề khác. Hiện tượng thường gặp là trầm cảm sau đẻ (hậu sản): tự nhiên khóc lóc chẳng có nguyên cớ gì, chăm sóc con vụng về hoặc ở mức độ nặng hơn, người mẹ hoàn toàn bỏ trễ, thờ ơ đối với đứa con. Ngoài ra cũng có thể có sợ quá mức: sợ đêm ngủ đè vào con, sợ con tắc thở khi bú.

Đối với những bệnh nhân phải phẫu thuật, ví dụ như phải cắt tử cung thì ngoài những yếu tố tâm lí thường gặp như đối với bệnh nhân ngoại khoa, còn có thể có những lo âu liên quan đến việc mang thai sau này.

CÂU HỎI ÔN TẬP

1. Hãy phân tích 3 cấp độ của mối quan hệ giữa tâm lí và bệnh tật ?

2. Hãy phân tích các dạng phản ứng của người bệnh đối với việc điều trị nội trú?

3. Đặc điểm tâm lí bệnh nhân nội khoa?

4. Đặc điểm tâm lí bệnh nhân ngoại khoa?

5. Đặc điểm tâm lí bệnh nhân sản, phụ khoa?

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tâm thần học và Tâm lí học Y học, NXB QĐND, 2007, tr 380-392

2. Nguyễn Sinh Phúc (chủ biên). Tâm lý Y học, NXB Y học, 2014, tr

 

PGS.TS. Nguyễn Sinh Phúc – Bộ môn Tâm thần

 

Dịch vụ thiết kế website wordpress