1: CHẨN ĐOÁN CỦA ICD-10
1.1: Tiêu chuẩn chẩn đoán
a/ Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt hay bị đánh cắp và tư duy bị phát thanh.
b/ Các hoang tưởng bị kiểm tra, bị chi phối hay bị động, có liên quan rõ rệt với vận động thân thể hay các chi hoặc có liên quan với những ý nghĩ, hành vi hay cảm giác đặc biệt, tri giác hoang tưởng.
c/ Các ảo thanh bình phẩm thường xuyên về hành vi của bệnh nhân hay thảo luận với nhau về bệnh nhân hoặc các loại ảo thanh khác xuất hiện từ một bộ phận nào đó của thân thể.
d/ Các hoang tưởng dai dẳng khác không thích hợp về mặt văn hoá và hoàn toàn không thể có được như tính đồng nhất về tôn giáo hay chính trị hoặc những khả năng và quyền lực siêu nhân. Thí dụ như có khả năng điều khiển thời tiết hoặc đang tiếp xúc với những người của thế giới khác.
e/ Ảo giác dai dẳng bất cứ loại nào, có khi kèm theo hoang tưởng thoáng qua hay chưa hoàn chỉnh, không có nội dung cảm xúc rõ ràng hoặc kèm theo ý tưởng quá dai dẳng hoặc xuất hiện hàng ngày trong nhiều tuần hay nhiều tháng.
f/ Tư duy gián đoạn, hay thêm từ khi nói, đưa đến tư duy không liên quan, lời nói không thích hợp hay ngôn ngữ bịa đặt.
g/ Tác phong căng trương lực như kích động, giữ nguyên dáng, uốn sáp, phủ định, không nói hay sững sờ.
h/ Các triệu chứng âm tính như vô cảm rõ rệt, ngôn ngữ nghèo nàn, các đáp ứng cảm xúc cùn mòn, không thích hợp thường đưa đến cách ly xã hội hay giảm sút hiệu suất lao động và phải rõ ràng là các triệu chứng trên không do trầm cảm hay thuốc an thần gây ra.
i/ Biến đổi thường xuyên và có ý nghĩa về chất lượng toàn diện của tập tính cá nhân biểu hiện như là mất thích thú, thiếu mục đích, lười nhác, thái độ mê mải suy nghĩ về bản thân và cách ly xã hội.
1.2 Yêu cầu
- Phải có ít nhất một triệu chứng rõ ràng hoặc phải có hai triệu chứng hay nhiều hơn nữa (nếu triệu chứng ít rõ ràng) thuộc vào các nhóm từ a đến d.
- Nếu là các nhóm từ e đến i thì phải có ít nhất là hai nhóm triệu chứng.
- Thời gian của các triệu chứng phải tồn tại ít nhất là 1 tháng hay lâu hơn.
- Không được chẩn đoán TTPL nếu có các triệu chứng trầm cảm hay hưng cảm mở rộng xuất hiện trước các triệu chứng nói trên.
- Không được chẩn đoán TTPL khi có bệnh não rõ rệt hoặc bệnh nhân đang ở trong trạng thái nhiễm độc ma túy.
- Không được chẩn đoán TTPL khi có bệnh động kinh và các bệnh tổn thương thực thể não.
1.3 Các thể
F20.0. Thể hoang tưởng:
Đây là thể thường gặp nhất ở đa số các nước trên thế giới. Các triệu chứng nổi bật nhất là các hoang tưởng và ảo giác (hội chứng ảo giác-paranoid) các hoang tưởng đặc trưng là hoang tưởng bị chi phối, bị kiểm tra và hoang tưởng bị truy hại.
Các ảo giác thường gặp nhất là ảo thính giác dưới dạng bình phẩm ý nghĩ và hành vi của bệnh nhân hoặc nói chuyện với nhau về bệnh nhân, hoặc đe doạ, ra lệnh cho bệnh nhân. Các ảo khứu giác, ảo vị giác, ảo thị giác cũng có thể xuất hiện nhưng hiếm hơn và ít khi chiếm ưu thế trong bảng lâm sàng.
Đồng thời xuất hiện hội chứng tâm thần tự động như tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt hay bị đánh cắp. Có thể gặp tri giác sai thực tại và nhân cách giải thể. Cảm xúc thường ít khi bị cùn mòn hơn các thể khác. Tuy nhiên thường gặp cảm xúc không thích hợp và ở mức độ nhẹ như cáu gắt, giận dữ, sợ hãi, nghi ngờ. Các triệu chứng âm tính thường xuất hiện muộn và không sâu sắc.
Tâm thần phân liệt thể paranoid có thể tiến triển từng giai đoạn với thuyên giảm một phần hay hoàn toàn hoặc tiển triển mạn tính.
Thời gian khởi đầu có khuynh hướng chậm hơn các thể khác.
F20.1. Tâm thần phân liệt thể thanh xuân:
Thể bệnh này thường xuất hiện ở lứa tuổi trẻ từ 15-25 tuổi. Nổi bật nhất là hội chứng kích động thanh xuân như hành vi lố lăng, si
dại, cảm xúc hỗn hợp và hời hợt, lúc thì khóc lúc thì cười có lúc hát, nói luyên thuyên, có lúc trêu chọc mọi người xung quanh.
Tư duy không liên quan, rời rạc, đặt ra chữ mới, giả giọng địa phương.
Hành vi tác phong điệu bộ như nhăn mặt, nheo mắt, tinh nghịch, quấy phá.
Các hoang tưởng và ảo giác thoáng qua và rời rạc.
Có thể có hội chứng căng trương lực kích động hoặc bất động lẻ tẻ.
Người bệnh có khuynh hướng sống cô độc, cảm xúc và hành vi không phù hợp với hoàn cảnh xung quanh.
Các triệu chứng âm tính xuất hiện sớm và tiến triển nhanh, đặc biệt cảm xúc cùn mòn và ý chí giảm sút, suy đồi, có tiên lượng rất xấu.
F20.2. Thể căng trương lực:
Bệnh thường xuất hiện cấp tính, giai đoạn đầu biểu hiện thay đổi tính tình, ít nói, ít hoạt động. Sau đó, xuất hiện các triệu chứng kích động dữ dội có tính chất xung động, định hình, bối rối, hoạt động không có mục đích, không chịu ảnh hưởng của các kích thích bên ngoài và về sau chuyển dần sang bất động, sững sờ, tăng trương lực cơ cứng như gỗ, không nói, không ăn, phủ định chống đối.
Các dáng điệu và tư thế không tự nhiên có thể duy trì trong một thời gian dài như triệu chứng gối không khí, uốn sáp, tạo hình (người bệnh duy trì chân tay và thân hình do những tư thế do người ngoài áp đặt) hoặc vâng lời tự động (tự động làm theo những chỉ dẫn của người khác) hoặc phủ định (chống đối với tất cả những chỉ dẫn của người khác, có lúc bệnh nhân lại làm ngược lại).
Hội chứng căng trương lực có thể là một trạng thái ý thức giống như mê mộng với những ảo giác sinh động.
Các triệu chứng âm tính xuất hiện sớm và trầm trọng hơn so với thể hoang tưởng.
F20.3. Tâm thần phân liệt thể không biệt định:
Thể này bao gồm các trạng thái đáp ứng những tiêu chuẩn chung của bệnh TTPL, nhưng không tương ứng với bất cứ thể nào đã mô tả ở trên.
Bệnh cảnh biểu hiện đồng thời với các nhóm triệu chứng mà không có một nhóm nào đặc trưng cho một chẩn đoán nào chiếm ưu thế rõ rệt.
F20.4 Tâm thần phân liệt thể trầm cảm sau phân liệt:
Trạng thái trầm cảm kéo dài xuất hiện sau một quá trình phân liệt, đồng thời một số triệu chứng phân liệt vẫn còn tồn tại nhưng không chiếm ưu thế trong bệnh cảnh lâm sàng. Các triệu chứng phân liệt có thể là dương tính hoặc âm tính nhưng thường là các triệu chứng âm tính nhiều hơn.
Hội chứng trầm cảm không trầm trọng và mở rộng đến mức đáp ứng một giai đoạn trầm cảm nặng trong rối loạn cảm xúc. Nhiều trường hợp khó xác định trạng thái trầm cảm do bệnh với trầm cảm do các thuốc neuroleptics.
Trạng thái trầm cảm sau phân liệt thường đáp ứng rất kém với các thuốc chống trầm cảm và kèm theo nhiều nguy cơ tự sát.
F20.5. Tâm thần phân liệt thể di chứng:
Thể này là một giai đoạn mạn tính trong tiến triển của bệnh TTPL. Các triệu chứng dương tính ở giai đoạn toàn phát, gồm một hay nhiều thời kỳ, thường mất đi hay mờ nhạt đi, không ảnh hưởng đến cảm xúc và hành vi của người bệnh nữa.
Những triệu chứng âm tính nổi bật: hoạt động kém, cảm xúc cùn mòn, bị động trong cuộc sống, thiếu sáng kiến, ngôn ngữ nghèo nàn, kém chăm sóc bản thân và hoạt động xã hội, nhưng không có trạng thái mất trí.
F20.6. Tâm thần phân liệt thể đơn thuần:
Bệnh bắt đầu bằng các triệu chứng âm tính như giảm sút dần khả năng học tập và công tác, không thích ứng với các yếu tố của xã hội, cảm xúc cùn mòn, ý chí giảm sút dần.
Các triệu chứng âm tính ngày càng sâu sắc, tiếp xúc xã hội ngày càng nghèo nàn. Người bệnh trở thành người sống lang thang, thu mình lại, không làm được việc gì và sống không có mục đích.
Các triệu chứng dương tính như hoang tưởng và ảo giác không rõ ràng. Các biểu hiện loạn tâm thần không rõ như những thể thanh xuân, hoang tưởng và căng trương lực.
F21. Rối loạn loại phân liệt (TTPL tiềm tàng, TTPL giả tâm căn, TTPL giả nhân cách bệnh):
Bệnh cảnh lâm sàng biểu hiện bằng các tác phong kỳ dị, tư duy và cảm xúc khác thường giống như trong bệnh TTPL nhưn không có
những nét bất thường nào rõ rệt và đặc trưng của bệnh TTPL ở bất cứ giai đoạn nào của bệnh.
Các triệu chứng đa dạng, có thể xuất hiện riêng lẻ hay đồng thời như:
+ Cảm xúc không thích hợp hay hời hợt.
+ Tác phong hay hình dáng bề ngoài rất lạ lùng hoặc kỳ quái.
+ Ít tiếp xúc với người khác, có khuynh hướng xa lánh xã hội.
+ Tin tưởng kỳ dị hay tư duy thần bí ảnh hưởng đến tác phong.
+ Ám ảnh hoài nghi hay ý tưởng paranoid.
+ Các ám ảnh nghiền ngẫm không có sự chống đỡ bên trong (nội lực) và thường có nội dung sợ dị hình hay sợ tình dục bị xâm phạm.
+ Thường có ảo tưởng, giải thể nhân cách hay tri giác sai thực tại.
+ Tư duy và lời nói mơ hồ, chi ly, ẩn dụ, quá chải chuốt hay định hình, ngôn ngữ kỳ dị nhưng không rời rạc một cách quá đáng.
+ Có những giai đoạn gần như loạn tâm thần, thỉnh thoảng xuất hiện nhất thời với ảo tưởng, ảo giác rầm rộ và những ý tưởng giống hoang tưởng, thường xuất hiện không do kích thích từ bên ngoài.
Các rối loạn tiến triển mạn tính với cường độ không ổn định khi thì tăng khi thì giảm, thỉnh thoảng lại chuyển rõ rệt sang bệnh TTPL. Thường thì tiến triển như một rối loạn nhân cách. Thể này hay gặp ở những người có quan hệ với bệnh nhân TTPL về mặt di truyền.
F23.2. Rối loạn loạn thần cấp giống phân liệt (TTPL cấp, loạn tâm thần dạng phân liệt ngắn, phản ứng phân liệt):
Biểu hiện trạng thái loạn tâm thần cấp trong đó có các triệu chứng loạn tâm thần tương đối ổn định và đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh TTPL, nhưng thời gian xuất hiện dưới 1 tháng.
Cảm xúc biến đổi và không ổn định nhưng không mãnh liệt.
F25. Các rối loạn phân liệt cảm xúc:
Rối loạn biểu hiện từng giai đoạn trong đó các triệu chứng cảm xúc và phân liệt đều nổi bật. Các hoang tưởng hay ảo giác không phù hợp với khí sắc trong các rối loạn cảm xúc.
Những bệnh nhân có các giai đoạn phân liệt cảm xúc tái diễn, đặc biệt triệu chứng hưng cảm nhiều hơn là trầm cảm, thường có thuyên giảm hoàn toàn và hiếm khi phát triển sang trạng thái thiếu sót trong các hoạt động tâm thần.
Một số bệnh nhân có những giai đoạn phân liệt cảm xúc tái diễn có thể thuộc loại hưng cảm hoặc trầm cảm hoặc cả hai loại hỗn hợp.
Các rối loạn này chia làm 3 loại:
+ Rối loạn phân liệt cảm xúc loại hưng cảm (F25.0).
+ Rối loạn phân liệt cảm xúc loại trầm cảm (F25.1).
+ Rối loạn phân liệt cảm xúc loại hỗn hợp (F25.2).
1 CHẨN ĐOÁN CỦA HỘI TÂM THẦN HỌC HOA KÌ
1.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán TTPL theo DSM-IV-TR năm 2000:
Nhóm A: Có hai hay nhiều hơn trong số các triệu chứng sau: mỗi triệu chứng phải biểu hiện rõ ràng trong thời gian 1 tháng (hoặc ít hơn nếu được điều trị tốt).
1. Hoang tưởng.
2. Ảo giác.
3. Ngôn ngữ thanh xuân.
4. Hành vi căng trương lực hoặc hành vi thanh xuân rõ.
5. Triệu chứng âm tính.
* Ghi chú:
Chỉ cần một triệu chứng duy nhất trong tiêu chuẩn A nếu như các hoang tưởng là kỳ dị hoặc các ảo thanh là giọng nói bình phẩm về hành vi hoặc ý nghĩ của bệnh nhân, hoặc hai hay nhiều giọng nói trò chuyện với nhau.
Nhóm B: Mất chức năng xã hội và nghề nghiệp trong một thời gian đủ dài sau khi khởi phát bệnh, một hay nhiều lĩnh vực chính như việc làm, quan hệ với mọi người hoặc tự chăm sóc bản thân giảm sút so với trước khi bị bệnh.
Nhóm C: Độ dài các dấu hiệu tiếp theo của tổn thương bền vững ít nhất 6 tháng (hoặc ít hơn nếu điều trị thành công), các triệu chứng thoả mãn tiêu chuẩn A ( triệu chứng của pha hoạt động) và các triệu chứng của pha tiền triệu hoặc di chứng. Trong giai đoạn tiền triệu hoặc di chứng các dấu hiệu tổn thương có thể chỉ là một triệu chứng âm tính hoặc hai hay nhiều hơn các triệu chứng ở tiêu chuẩn A với hình thức nhẹ.
Nhóm D: Không phải là rối loạn phân liệt cảm xúc hoặc rối loạn cảm xúc. Rối loạn phân liệt cảm xúc và rối loạn cảm xúc đã được loại trừ, hoặc là không có một giai đoạn trầm cảm điển hình, hưng cảm hay pha trộn nào xuất hiện đồng thời với các triệu chứng của
pha hoạt động, độ dài toàn bộ của chúng phải ngắn hơn khi so sánh với độ dài của pha hoạt động và di chứng.
Nhóm E: Không phải là một rối loạn do thuốc hoặc bệnh tổn thương thực tổn gây ra. Rối loạn không phải là hậu quả trực tiếp của ma túy hoặc một bệnh cơ thể.
Nhóm F: Liên quan với rối loạn chậm phát triển bền vững nếu tồn tại một tiền sử tự kỷ hoặc rối loạn chậm phát triển bền vững khác, chẩn đoán tâm thần phân liệt chỉ đặt ra khi hoang tưởng hoặc ảo giác rõ ràng được biểu hiện trong thời gian ít nhất là một tháng (có thể ít hơn nếu điều trị thành công).
1.1 Các thể theo DSM-IV-TR
- Thể thanh xuân: những đặc điểm nổi bật là ngôn ngữ và hành vi lố lăng, cảm xúc không phù hợp hoặc cùn mòn.
- Paranoid: đây là thể thường gặp nhất của TTPL, điển hình bởi các hoang tưởng paranoid kéo dài. ảo thanh cũng có thể hộ trợ cho những niềm tin hoang tưởng. Rối loạn cảm xúc và ngôn ngữ. Các triệu chứng căng trương lực không bền vững.
- Căng trương lực: nổi bật với các rối loạn tâm thần – vận động. Bệnh có thể biểu hiện rất khác nhau, từ kích động đến sững sờ và uốn sáp, tạo hình, cá nhân có thể duy trì tư thế do người ngoài áp đặt trong vài giờ. Bên cạnh đó, người bệnh cũng có thể có hiện tượng vâng lời tự động, có trạng thái lơ mơ giống như ngủ kèm theo ảo giác sống động. Hiện nay thể bệnh này ít gặp ở các nước công nghiệp phát triển.
- Di chứng: nét điển hình là không còn các hoang tưởng, ảo giác, ngôn ngữ thanh xuân, hành vi thanh xuân hoặc căng trương lực. Tuy nhiên vẫn còn một số triệu chứng âm tính rõ rệt
1.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán theo DSM-5
Nhóm A. Có hai (hay nhiều hơn) các triệu chứng sau, mỗi triệu chứng phải biểu hiện rõ ràng trong thời gian 1 tháng (hoặc ít hơn nếu được điều trị thành công). Ít nhất phải có một trong 3 triệu chứng (1), (2) hoặc (3):
(1). Hoang tưởng.
(2). Ảo giác.
(3). Ngôn ngữ thanh xuân (ví dụ như tư duy không liên quan hoặc hổ lốn).
(4). Hành vi thanh xuân hoặc hành vi căng trương lực.
(5). Các triệu chứng âm tính (ví dụ như biểu hiện cảm xúc giảm hoặc giảm sút ý chí).
Nhóm B. Trong một thời gian đủ dài kể từ khi khởi phát bệnh, mức độ chức năng của một hoặc nhiều lãnh vực chính như việc làm, quan hệ với mọi người hoặc tự chăm sóc bị giảm đáng kể so với trước khi khởi phát (đối với trường hợp khởi phát ở lứa tuổi trẻ em hoặc thanh thiếu niên, kết quả học tập hoặc nghề nghiệp hay trong quan hệ với mọi người không được như mong muốn).
Nhóm C. Các dấu hiệu của rối loạn kéo dài bền vững ít nhất 6 tháng. Thời gian 6 tháng bao gồm tối thiểu 1 tháng (hoặc ít hơn nếu được điều trị thành công) của các triệu chứng trong tiêu chuẩn A (các triệu chứng của pha hoạt động) và thời gian của các triệu chứng tiền triệu hoặc triệu chứng di chứng. Trong suốt giai đoạn tiền triệu hoặc di chứng, biểu hiện của rối loạn có thể chỉ là các triệu chứng âm tính hoặc 2 hoặc nhiều hơn các triệu chứng của tiêu chuẩn A nhưng ở hình thức nhẹ (ví dụ niềm tin kỳ lạ, có các tri giác bất thường).
Nhóm D. Loại trừ rối loạn phân liệt cảm xúc và rối loạn trầm cảm hoặc lưỡng cực có triệu chứng loạn thần bởi vì hoặc là (1) không có giai đoạn trầm cảm chủ yếu hoặc hưng cảm xảy ra đồng thời với các triệu chứng pha hoạt động hoặc là (2) nếu giai đoạn cảm xúc xảy ra trong pha hoạt động, độ dài của chúng phải ngắn hơn tổng độ dài của pha hoạt động và di chứng.
Nhóm E. Rối loạn không do một chất (ví dụ lạm dụng ma túy, một thuốc) hoặc do bệnh lý cơ thể khác.
Nhóm F. Nếu có tiền sử bị rối loạn phổ tự kỷ hoặc rối loạn giao tiếp khởi phát trong giai đoạn tuổi nhỏ, chẩn đoán tâm thần phân liệt được đặt ra khi hoang tưởng hoặc ảo giác phải nổi bật và cùng với
những triệu chứng khác, theo yêu cầu của chẩn đoán, phải tồn tại ít nhất 1 tháng (hoặc ít hơn nếu được điều trị thành công).
1 ĐIỀU TRỊ
Bệnh TTPL hiện nay về nguyên nhân chưa xác định được rõ ràng, nên chủ yếu vẫn điều trị triệu chứng. Cần thiết phải tiến hành điều trị sớm và hợp lý ngay từ cơn bệnh đầu tiên, vừa có tác dụng ngăn chặn bệnh, vừa giúp cho tiên lượng được tốt hơn. Trong điều trị phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau.
1.1 Các liệu pháp sinh học:
1.1.1 Liệu pháp hoá dược tâm thần:
Hoá dược là liệu pháp thông dụng nhất và có hiệu quả nhất trong điều trị bệnh TTPL.
Việc lựa chọn loại thuốc nào và liều lượng thuốc ra sao phải phù hợp với từng triệu chứng lâm sàng theo thể bệnh và khả năng dung nạp của mỗi cá thể. Trong điều trị bệnh TTPL, sử dụng nhóm an thần mạnh là nhiều nhất, ngoài ra còn dùng các thuốc an thần nhẹ, các thuốc chống trầm cảm, các thuốc điều chỉnh khí sắc.

+ Điều trị một số thể bệnh tâm thần phân liệt:
- Thể paranoid-ảo giác điều trị bằng haloperidol, terfluzine, aminazin liều cao 2-3 tháng. Sau đó tiếp tục điều trị củng cố bằng aminazin từ 300-500 mg/ngày chia 3 lần hoặc haloperidol 10-40 mg/ngày. Trong tuần đầu tiêm bắp thịt sau đó chuyển sang thuốc uống.
- Thể thanh xuân điều trị bằng stelazin, aminazin, majeptyl. Nếu kích động tâm thần vận động dùng haloperidol liều lượng như trên.
- Thể căng trương lực: aminazin 150-200 mg/ngày chia 3 lần hoặc frenolon 20-30 mg/ngày hoặc stelazin 20-40 mg/ngày hoặc sốc điện 7-10 lần/ 1 liệu trình và làm hàng ngày hoặc cách ngày/1 lần.
- Thể trầm cảm sau phân liệt: amitriptylin 75 mg/ngày chia 2 lần hoặc nozinan 150-200 mg/ngày, nếu không tác dụng có thể dùng sốc điện như trên.
+ Đối với các bệnh nhân TTPL, nếu không tự nguyện tiếp tục điều trị củng cố sau giai đoạn điều trị tấn công, có thể dùng các thuốc an thần kinh tác dụng chậm như:
- Piportil - L4 50-75 mg/ 3 tuần liên tiếp.
- Moditen - Dépo 25-50 mg/ 3 tuần liên tiếp.
- Fluphenazin enantat 0,025 ´ 1 ống cho 2 tuần.
- Fluphenazin decanoat 0,025 ´ 1 ống cho 4 tuần.
- Haldol decanoat 0,05; 0,10 ´ 1 ống cho 4 tuần.
- Flupentixol decanoat 0,020 ´ 1 ống cho 2 tuần.
* Chú ý:
Cần phải lưu ý đến biến chứng do dùng các thuốc tác dụng chậm gây ra, đôi khi rất nan giải như: dị ứng, hội chứng an thần kinh ác tính.
Cần phải tiêm bắp thịt sâu.
Phải luôn luôn cảnh giác với biến chứng do bất cứ loại thuốc nào.
Cần phải xét nghiệm máu (bạch cầu, công thức bạch cầu nhất là bạch cầu hạt), nước tiểu, theo dõi mạch, huyết áp định kỳ và thường xuyên.
1.1.1 Các loại thuốc khác:
+ Sử dụng các thuốc chống trầm cảm trong các cơn trầm cảm kết hợp cần phải thận trọng về liều lượng thuốc, vì có thể làm hoạt hoá các ảo giác và hoang tưởng dẫn đến nguy cơ tự sát.
+ Các thuốc điều hoà khí sắc có tác dụng tốt trong điều trị và dự phòng các đợt tái phát, nhất là trong các thể bệnh có rối loạn cảm xúc.
+ Các loại thuốc bổ, thuốc thông thường, thuốc làm giảm nhịp tim như propanolon, các thuốc beta-block khác và các thuốc chống Parkinson cũng cần được xem xét và sử dụng cho hợp lý.
1.1.2 Liệu pháp sốc điện:
Ngày nay, các chỉ định của liệu pháp sốc điện đã thu hẹp một cách đáng kể, song đối với bệnh TTPL còn được chỉ định trong những trường hợp sau:
+ TTPL thể căng trương lực.
+ Trạng thái kích động mạnh của TTPL.
+ Các bệnh nhân có hành vi tự sát.
+ Hội chứng hưng cảm trong TTPL kháng thuốc.
+ Các trường hợp kháng điều trị nói chung.
1.1.3 Liệu pháp tâm lý trực tiếp và gián tiếp:
+ Phải có thái độ tâm lý tốt, thông cảm, tôn trọng người bệnh.
+ Tổ chức hệ thống mở cửa làm cho người bệnh được tự do thoải mái.
+ Giải quyết các nhu cầu và mâu thuẫn của người bệnh tại gia đình và cộng đồng.
+ Liệu pháp tâm lý cá nhân có thể áp dụng song song với hoá dược, giải thích hợp lý và liệu pháp hành vi.
+ Liệu pháp phân tích tâm lý nên tiến hành rất thận trọng.
+ Liệu pháp tâm lý nhóm và tâm lý gia đình cũng rất bổ ích.
1.1.4 Liệu pháp lao động và tái thích ứng xã hội:
Khắc phục những triệu chứng âm tính và phục hồi chức năng cho người bệnh bằng các dạng hoạt động: lao động thủ công, sản xuất,
vui chơi giải trí... Những hoạt động này làm cho người bệnh gần gũi với cuộc sống bình thường và hoà nhập với cộng đồng.
Đây là một biện pháp không thể thiếu được nhằm duy trì tính tự chủ của người bệnh và chống lại sự mạn tính hoá, chống lại các "hội chứng bệnh viện", góp phần cải thiện tiên lượng bệnh.
Sự chăm sóc tại cộng đồng và các hình thức bán trú cũng là những hình thức tái thích ứng xã hội tốt.
1.1 Phòng bệnh:
Nguyên nhân bệnh TTPL chưa rõ ràng nên không thể phòng bệnh tuyệt đối được. Tuy nhiên, phải theo dõi sức khoẻ tâm thần ở những người có yếu tố nguy cơ cao như các nhân tố di truyền cần được theo dõi và được phát hiện sớm.
Chú trọng giáo dục rèn luyện trẻ em biết cách thích ứng với môi trường và các điều kiện khó khăn của cuộc sống. Hạn chế ảnh hưởng có hại từ bên ngoài như sang chấn tâm thần, nhiễm khuẩn,...
Áp dụng lao động và thích ứng xã hội. Tiếp tục quản lý theo dõi bệnh nhân sau khi ra viện tại cộng đồng, đề phòng tái phát bệnh.
Câu hỏi ôn tập
1. Hãy trình bày các tiêu chuẩn chẩn đoán TTPL theo ICD-10.
2. Các thể TTPL theo IDC-10?
3. Hãy trình bày các tiêu chuẩn chẩn đoán TTPL theo DSM-IV.
4. Hãy trình bày các thể TTPL theo DSM-IV.
5. Các tiêu chuẩn chẩn đoán TTPL theo DSM-5?
6. Phân tích so sánh tiêu chuẩn chẩn đoán TTPL theo DSM-IV và DSM-5.
7. Những phương pháp chủ yếu điều trị TTPL?
Tài liệu tham khảo
1. American Psychiatric Association
Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 5th Ed.,DSM-5, 2013.
2. Ngô Ngọc Tản, Nguyễn Văn Ngân (chủ biên)
Bệnh học tâm thần, NXB QĐND, 2005,tr 175-214.
PGS.TS. Cao Tiến Đức - CNBM Tâm thần










