Trang chủ Kỹ thuật mũi nhọn các chuyên ngành Giới thiệu các xét nghiệm tại Bộ môn - Khoa vi sinh y học

Giới thiệu các xét nghiệm tại Bộ môn - Khoa vi sinh y học

T6, 09/10/2020

Bộ môn-Khoa Vi sinh y học ngày nay được hình thành trên cơ sở sáp nhập Bộ môn Vi sinh y học - Học viện quân y và Khoa Vi sinh vật - Bệnh viện Quân y 103.

Bộ môn-Khoa (BMK) Vi sinh y học vừa là Bộ môn của Học viện Quân y với chức năng giảng dạy và nghiên cứu vừa là một khoa cận lâm sàng của Bệnh viện 103 nên đơn vị có 3 chức năng nhiệm vụ: Đào tạo chuyên ngành Vi sinh y học cho các đối tượng đại học và sau đại học, xét nghiệm phục vụ điều trị, nghiên cứu khoa học phục vụ công tác giảng dạy và điều trị. Ngoài ra do đặc thù chuyên ngành, BMK có thêm nhiệm vụ phục vụ phòng chống dịch với công việc cụ thể là tìm nguyên nhân và tư vấn cho công tác điều tra, phòng chống dịch trong quân đội.

Các cán bộ của BMK đều có chứng chỉ về quản lý chất lượng xét nghiệm của CDC (Mỹ), nhiều cán bộ đã được đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực chẩn đoán IVD - In Vitro Diagnostics tại các nước phát triển (Thụy Điển, Mỹ, Đức, Nhật Bản...). Một số kỹ thuật tiêu biểu đang thực hiện tại BMK:

1. Xét nghiệm Huyết thanh học và HIV

Phòng xét nghiệm HIV tại BMK Vi sinh là phòng xét nghiệm đạt tiêu chuẩn Phòng xét nghiệm được khẳng định các trường hợp HIV dương tính của Bộ Y tế; Trung bình mỗi năm thực hiện 50.000 XN HIV. Ngoài các xét nghiệm khẳng định nhiễm virus HIV, còn triển khai các xét nghiệm sau:

- Xét nghiệm các marker virus viêm gan B (HBe, Anti-HBe, Anti-HBc IgM/IgG), CMV…phục vụ theo dõi điều trị.

- Xét nghiệm kháng thể anti-HBs giúp đánh giá hiệu quả bảo vệ sau tiêm vacxin viêm gan B

- Dengue NS1/IgG/IgM chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue.

 

 

2. Xét nghiệm nuôi cấy vi khuẩn và phát hiện kháng thuốc kiểu hình và kiểu gen

- Xét nghiệm nuôi cấy tìm vi khuẩn gây bệnh và thử nghiệm kháng sinh đồ lựa chọn kháng sinh thích hợp cho điều trị.

- Tư vấn cách tính liều kháng sinh đạt hiệu quả cao trong điều trị dựa trên MIC của kháng sinh với vi khuẩn gây bệnh phân lập được.

- Phối hợp với Viện Truyền nhiễm quốc gia Nhật Bản xác định tính kháng thuốc kiểu hình và kiểu gen của các vi khuẩn mới nổi gây bệnh phục vụ điều trị các trường hợp kháng đa thuốc, các nghiên cứu chuyên sâu.

 

 

3. Xét nghiệm Sinh học phân tử

Thực hiện đa dạng các xét nghiệm phục vụ chẩn đoán và điều trị trên hệ thống IVD: đo tải lượng HBV, HCV, HIV và CMV; phát hiện Neisseria meningitidis (cầu khuẩn màng não)Herpes simplex virus (HSV), Human papillomavirus genotype (HPV - Virus gây ung thư cổ tử cung), Respiratory syncytial virus (RSV - Virus gây viêm đường hô hấp cấp), Neisseria gonorrhoeae (vi khuẩn lậu); Phát hiện nhanh vi khuẩn lao kháng RMP trên hệ thống GeneXpert.

Phát hiện các type virus HPV nguy cơ cao gây ung thư cổ tử cung ở phụ nữ.

4. Xét nghiệm khác

- Xét nghiệm nhanh phát hiện virus cúm A, virus cúm B;

- Phát hiện yếu tố thấp trong bệnh viêm khớp dạng thấp, kháng thể kháng Streptolysin O (ASLO) trong bệnh thấp tim.

- Thực hiện các xét nghiệm giúp chẩn đoán và theo dõi bệnh lao, phát hiện lao tiềm ẩn, lao đa kháng: AFB nhuộm Ziehl-Neelsen, Quantiferon TB, GeneXpert chẩn đoán lao đa kháng.

- Chẩn đoán vi khuẩn H. pylori bằng nhiều phương pháp, phân biệt chủng độc gây viêm loét dạ dày và chủng không độc.

- Xét nghiệm phục vụ du học sinh theo yêu cầu của các trường Đại học của Mỹ, châu Âu…

 

* Tất cả các xét nghiệm thực hiện tại BMK Vi sinh, Bệnh viện QY 103 là xét nghiệm IVD (IVD là hệ thống đồng bộ thiết kế riêng cho chẩn đoán y khoa trên người, bao gồm cấu trúc phòng XN - Hệ thống máy - Hóa chất có chứng nhận Quốc tế IVD và kết quả được Ngoại kiểm từ một cơ quan Quốc tế hoặc Quốc gia chuyên trách). Xét nghiệm có chứng nhận IVD chuyên biệt cho mục đích chẩn đoán trên người và có kiểm chứng nên có độ tin cậy và độ ổn định cao, có thể liên thông với các Bệnh viện ở các quốc gia khác nhau.

 

KÝ HIỆU CHUẨN IVD VỚI HÓA CHẤT VÀ THIẾT BỊ

 

 

Thông tin liên hệ: Đường dây nóng của Khoa Vi sinh: 0981.600.106    (hoặc)

  • PGS. TS Nguyễn Thái Sơn: Chủ nhiệm Bộ môn – Khoa: 0982.040.796
  • PGS. TS Lê Thu Hồng: Phó chủ nhiệm Bộ môn – Khoa: 0989.389.185

Danh sách cán bộ, giảng viên tư vấn về công tác xét nghiệm

TT

Học hàm, học vị, họ tên

Công việc đảm nhiệm

Email

PGS.TS. Nguyễn Thái Sơn

Chủ nhiệm Bộ môn kiêm Chủ nhiệm Khoa

ntson65@yahoo.com

PGS.TS. Lê Thu Hồng

Phó Chủ nhiệm Bộ môn-Khoa

lethuhong103@gmail.com

ThS.BS. Hà Thị Thu Vân

Trưởng phòng Nuôi cấy vi khuẩn và thử nghiệm kháng sinh.

havan864@gmail.com

ThS. BS. Nguyễn Văn An

Trưởng phòng Sinh học phân tử (hiện đang làm NCS tại Nhật Bản)

ank59hvqy@gmail.com

ThS. BS. Nguyễn Lê Vân

Trưởng phòng xét nghiệm khẳng định HIV

levanv103@gmail.com

ThS.CN. Hoàng Thị Huyền Trang

Cán bộ phòng Sinh học phân tử

tranghip.2512@gmail.com

 

ThS.BS. Nguyễn Minh Hải

Cán bộ phòng Sinh học phân tử

huongtuhvqy@gmail.com

BS. Nguyễn Hùng Cường

Tổ trưởng Quản lý chất lượng xét nghiệm

nguyencuong41188@gmail.com

BS. Hoàng Xuân Quảng

Trưởng phòng xét nghiệm Lao

hoangquang1011@gmail.com

 

MỘT SỐ XÉT NGHIỆM CHUYÊN SÂU VÀ Ý NGHĨA

Các xét nghiệm chẩn đoán và phục vụ điều trị viêm gan B

HBsAg: Chẩn đoán nhiễm HBV bằng xét nghiệm phát hiện sự có mặt của kháng nguyên HBsAg.

HBsAg-quanti: Định lượng nồng độ kháng nguyên HBsAg (HBsAg quanti) dùng để theo dõi điều trị và tiên lượng tiến triển của virus viêm gan B.

Anti-HBs: Xét nghiệm Anti-HBs thường được dùng để theo dõi sự thành công của tiêm phòng viêm gan B. Sự hiện diện của Anti-HBs đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nhiễm virus viêm gan B (HBV). Sự hiện diện của Anti-HBs sau khi nhiễm cấp tính và kháng nguyên bề mặt HBsAg của virus viêm gan B biến mất là dấu hiệu khỏi bệnh. Phát hiện Anti-HBs ở cá thể không biểu hiện triệu chứng có thể là biểu hiện của việc bị phơi nhiễm trước đó với HBV.

HBeAg: Kháng nguyên e của virus viêm gan B (HBeAg) là một sản phẩm của gen pre-C/C tìm thấy trong tế bào gan trong quá trình phát triển của virus viêm gan B. HBeAg có thể được phát hiện trong giai đoạn đầu của nhiễm virus viêm gan B, sau khi kháng nguyên bề mặt HBsAg xuất hiện. Nồng độ HBeAg tăng nhanh khi virus đang tái bản trong giai đoạn cấp tính. Việc phát hiện HBeAg có liên quan đến sự hiện diện của số lượng lớn virus viêm gan B. Vì thế xét nghiệm HBeAg có ý nghĩa kết hợp với xét nghiệm kháng thể kháng HBe (Anti-HBe) trong theo dõi diễn biến nhiễm HBV.

Anti-HBe: Trong giai đoạn hồi phục sau viêm gan B cấp tính, HBeAg là dấu ấn huyết thanh đầu tiên chuyển thành âm tính và được thay thế bằng kháng thể kháng HBe tương ứng (Anti HBe). Sự chuyển đổi huyết thanh kháng nguyên/kháng thể HBe được dùng như chỉ thị việc đáp ứng virus khi điều trị bệnh nhân bị viêm gan B mãn tính.

- Anti-HBc: Lõi virut của HBV gồm axit nucleic, một DNA polymerase, và một kháng nguyên nucleoprotein. Lõi được tổng hợp trong một số ít tế bào gan nhiễm virut và được lắp ráp trong nhân của tế bào gan dưới hình thức một cấu trúc lõi có đường kính 27 nm. Kháng nguyên lõi VG B (HBcAg) không trực tiếp phát hiện được trong huyết thanh vì vỏ ngoài HBsAg bao quanh nó. Trong trường hợp này HBcAg chỉ được phát hiện sau khi tinh khiết các hạt HBV và tẩy bỏ đi vỏ lipit. Hơn nữa, bất cứ HBcAg nào xuất hiện cũng sẽ phản ứng với kháng thể lưu hành, tạo thành phức hợp kháng nguyên-kháng thể làm cho HBcAg không thể được phát hiện. Tuy nhiên, HBcAg có thể được nhận dạng trong các mẫu sinh thiết gan bằng các kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang và sự phát hiện mô hóa học của kháng nguyên này đôi khi được dùng như một dấu ấn của sao chép virut.

Anti-HBc là dấu ấn phơi nhiễm HBV rõ ràng về mặt huyết thanh. Nồng độ cao anti-HBc xuất hiện sớm trong nhiễm virut cho thấy một thời kỳ sao chép virut hoạt động. Kháng thể được phát hiện trong huyết thanh sau khi xuất hiện HBsAg trong vòng 1-2 tuần, thường trước khi khởi phát các triệu chứng và trước khi ALT tăng lên và tồn tại trong huyết thanh trong suốt thời gian bệnh và hồi phục. Anti-HBc có thể tồn tại ở BN đã bình phục ngay cả sau khi anti-HBs không còn phát hiện nữa. Nồng độ của anti-HBc thay đổi đáng kể ở các BN nhiễm virut. Những người có một bệnh sử nhiễm virut và hồi phục nhiều năm trước đây thường có hoạt tính anti-HBc thấp hơn ở BN đang nhiễm virut mạn. Anti-HBc sớm nhất trong bệnh cấp tính chủ yếu là kháng thể IgM. IgG và IgA anti-HBc cũng hiện diện cùng một lúc nhưng có hoạt tính thấp hơn. Nồng độ của IgG anti-HBc tiếp tục tăng lên trong giai đoạn hồi phục ban đầu. Tuy nhiên, anti-HBc huyết thanh không phải là kháng thể bảo vệ. Anti-HBc đơn độc trong huyết thanh có thể xảy ra trong 3 khung cảnh khác nhau:

  • Các phản ứng dương giả được tạo nên bởi các tín hiệu yếu của tình trạng anti-HBc(+) vì sự có mặt của các thành phần giống IgM trong mẫu xét nghiệm.
  • Một vài BN nhiễm HBV mạn có anti-HBc và không có HBsAg trong huyết thanh.
  • Một vài trường hợp có thời kỳ cửa sổ kéo dài trong đó HBsAg đã biến mất và các dấu ấn được phát hiện là anti-HBc và anti-HBs, thường phải sau nhiều tháng đến nhiều năm.

Anti-HBc đã được dùng như một dấu ấn dịch tễ để sàng lọc người cho máu có nguy cơ cao. Trong vài quốc gia, anti-HBc được dùng để xét nghiệm máu người cho nhằm xác định các đơn vị máu có nguy cơ truyền nhiễm HBV "ẩn".  Theo một số nghiên cứu cho thấy nhiễm HBV "ẩn" ở các đối tượng chỉ có dấu ấn huyết thanh HBV duy nhất là là anti-HBc.

- IgM anti-HBc: Các xét nghiệm IgM anti-HBc được dùng trong chẩn đoán bệnh cấp tính. Người ta ước tính khoảng 10% trường hợp nhiễm VG B cấp không phát hiện được nếu chỉ dùng HBsAg như là dấu ấn duy nhất. Ngưỡng dương tính cao IgM anti-HBc trong vòng 3 đến 6 tháng sau khi phát bệnh cấp tính. Sự hiện diện của IgM anti-HBc trong huyết thanh pha loãng 1/5.000 có thể giúp chẩn đoán VG B cấp. IgM anti-HBc(-) trong huyết thanh pha loãng 1/5.000 loại trừ chẩn đoán VG B cấp khá chắc chắn.

- HBV-DNA: Xác định nồng độ HBV-DNA huyết thanh là một xét nghiệm đánh giá BN VG B mạn, vì là một trong các yếu tố dự báo tổn thương gan tiến triển cũng như đáp ứng với điều trị. Mức độ HBV-DNA trong huyết thanh phản ánh trực tiếp tình trạng sao chép virut trong tế bào gan. Xét nghiệm đo tải lượng HBV-DNA định kỳ mỗi 3 tháng giúp theo dõi hiệu quả điều trị viêm gan B khi dùng thuốc kháng virus.

Các xét nghiệm chẩn đoán và phục vụ điều trị viêm gan C

Anti-HCV dương tính: cho biết đã từng nhiễm virus HCV, muốn khẳng định hiện nhiễm thì phải xét nghiệm HCV-core antigen hoặc HCV-RNA.

HCV-RNA: Khẳng định nhiễm HCV, xét nghiệm định lượng giúp theo dõi điều trị và tiên lượng tình trạng nhiễm HCV.

HCV-Ag (HCV-core antigen): là xét nghiệm miễn dịch vi hạt hóa phát quang để định lượng kháng nguyên lõi của virus viêm gan C trong huyết thanh và huyết tương người. Xét nghiệm HCV-Ag được sử dụng khẳng định nhiễm viêm gan C (HCV) và theo dõi tình trạng nhiễm của người bệnh để chẫn đoán xem người bệnh đã khỏi hoặc phát triển thành mạn tính. Định lượng HCV-Ag có giá trị tương đương HCV-RNA nhưng thời gian nhanh hơn (trả KQ trong ngày so với HCV-RNA sau 2 ngày). Ở bệnh nhân nhiễm HCV theo đường máu hay ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch như đang chạy thận hay bị đồng nhiễm “HIV- HCV”, HCV-Ag có thể là marker huyết thanh duy nhất để phát hiện nhiễm HCV do đáp ứng trễ với các kháng thể đặc hiệu HCV để chẩn đoán viêm gan cấp hay mạn tính.

 

CMV (Cytomegalovirus)

Cytomegalovirus (CMV) thuộc họ virus Herpes, một virus gây bệnh khá phổ biến ở nam giới, thường nhẹ và không biểu hiện triệu chứng. Tuy nhiên, ở phụ nữ mang thai, trẻ sơ sinh và các cá thể bị suy giảm miễn dịch nhiễm CMV sẽ dẫn đến nguy cơ ảnh hưởng tình trạng sức khỏe. Nhiễm trong tử cung có thể làm xuất hiện các di chứng với các mức độ nặng nhẹ khác nhau như: chậm phát triển trí tuệ, viêm hắc võng mạc, mất thính giác và các vấn đề thần kinh. Vì vậy, việc xác định nhiễm CMV nguyên phát rất quan trọng đối với phụ nữ mang thai. Nhiễm CMV ở trẻ em có thể xảy ra do mẹ truyền sang con trong giai đoạn mang thai, trong khi sinh do virus truyền qua cổ tử cung hoặc qua sữa mẹ trong giai đoạn cho con bú. Các cá thể và trẻ sơ sinh chưa có kháng thể có thể nhiễm CMV qua các chế phẩm máu hoặc tiếp xúc với cá thể bị nhiễm.

Với các trường hợp ghép tạng, nhiễm CMV dù là nguyên phát hay tái nhiễm đều nguy hiểm do người bệnh dùng thuốc ức chế miễn dịch nên CMV dễ bùng phát bệnh gây nguy cơ tử vong cao nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.


Ý nghĩa các marker trong xét nghiệm CMV

CMV IgG Avidity: xác định ái lực gắn của các kháng thể IgG kháng virus CMV trong huyết thanh và huyết tương người. IgG Avidity có ái lực yếu khi nhiễm lần đầu nhưng ái lực gắn với kháng nguyên tăng mạnh ở các trường hợp tái nhiễm.

Xét nghiệm CMV IgM, CMV IgG và CMV IgG Avidity được thực hiện trên thiết bị hiện đại (máy Architect i200SR) theo nguyên lý vi hạt hóa phát quang cho độ chính xác cao.

DENGUE Combo NS1+IgM+IgG

Sốt xuất huyết là một bệnh do các virus Dengue được lây truyền bởi muỗi Aedes aegypti Aedes albopictus phổ biến nhất ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của thế giới. Việc chẩn đoán sớm sốt xuất huyết Dengue thường phải dựa vào các xét nghiệm kháng thể Dengue IgM và IgG. Tuy nhiên, kháng thể Dengue IgM thường xuất hiện muộn vào ngày thứ 3-4 và Dengue IgG thường xuất hiện vào ngày thứ 14 sau khi nhiễm Dengue nguyên phát, nên việc chẩn đoán thường chậm.

Gần đây, kháng nguyên Dengue NS1 (NS1 antigen) được cho là một dấu ấn sinh học mới cho chẩn đoán sớm nhiễm virus Dengue. NS1 là 1 glycoprotein có tính bảo tồn cao, tồn tại trong huyết thanh của bệnh nhân nhiễm vi rút Dengue với nồng độ cao tại giai đoạn lâm sàng sớm của bệnh. Kháng nguyên NS1 được tìm thấy từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 9 sau khi sốt trong mẫu của bệnh nhân nhiễm virus Dengue nguyên phát hoặc thứ phát, có thể phát hiện trước khi hình thành các kháng thể Dengue IgM và IgG. Xét nghiệm kháng nguyên Dengue huyết thanh có độ nhạy 92,4% và có độ đặc hiệu là 98,4%.

Ý nghĩa các marker trong xét nghiệm DENGUE Combo NS1+IgM+IgG:

QUANTIFERON-TB Gold Plus (QFT-Plus)

QuantiFERON-TB Gold (QFT) là xét nghiệm máu định lượng interferon-gamma được tiết ra bởi tế bào Lympho sau khi ủ qua đêm với kháng nguyên đặc hiệu của vi khuẩn lao (ESAT6/CFP10), có thể đánh giá đáp ứng miễn dịch trung gian tế bào, được đánh giá là có độ đặc hiệu cao hơn TST trong chẩn đoán nhiễm lao tiềm ẩn.

QFT là một xét nghiệm hiện đại thay thế cho thử nghiệm tuberculin da cổ điển (TST hoặc Mantoux) và đã được cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) cho phép đưa vào sử dụng từ năm 2001, được sử dụng với mục đích sàng lọc, phát hiện chính xác những người nhiễm lao tiềm ẩn hoặc đã nhiễm lao đang tiến triển sang thể lao hoạt động. Xét nghiệm thế hệ mới (QFT-Plus) còn đánh giá được cả tình trạng miễn dịch và bội nhiễm nếu có của bệnh nhân để có hướng điều trị phù hợp.

Chỉ định:

- Bệnh nhân có nguy cơ tiến triển thành lao hoạt động

- Người có nguy cơ cao nhiễm lao tiềm ẩn (như học sinh/ sinh viên, trẻ em, những người mắc HIV/AIDS, khách du lịch)

- Để chẩn đoán loại trừ các nguyên nhân do lao

 

13.12. Xét nghiệm phát hiện kháng nguyên cúm A/B

Đây là loại xét nghiệm nhanh dựa trên nguyên lý sắc ký miễn dịch nhằm phát hiện kháng nguyên vi rút cúm typ A và typ B trực tiếp từ bệnh phẩm tăm bông lấy từ mũi/ họng của bệnh nhân nghi ngờ nhiễm virut cúm.

Xét nghiệm có độ nhậy 91,8% và độ đặc hiệu 98,9%.

Chỉ định: Bệnh nhân có biểu hiện sốt, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, sổ mũi, đau họng và ho; Ho thường nặng và kéo dài, có thể kèm theo các triệu chứng đường tiêu hóa (buồn nôn, nôn, ỉa chảy), đặc biệt ở trẻ em.


Dịch vụ thiết kế website wordpress