1. KHÁI NIỆM CHUNG
1.1. Định nghĩa
Tâm thần học là một môn học thuộc Y học, chuyên nghiên cứu các biểu hiện lâm sàng, bệnh nguyên, bệnh sinh, các phương pháp điều trị và dự phòng bệnh tâm thần.
1.2. Đối tượng của Tâm thần học
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của Tâm thần học là bệnh tâm thần. Bệnh tâm thần là sự biến đổi chức năng hoạt động của não, gây nên các rối loạn về cảm giác, tri giác, ý thức, tư duy, cảm xúc, chú ý và trí nhớ, từ đó dẫn đến các rối loạn hành vi, tác phong làm cho người bệnh mất sự hoà hợp với xã hội.
1.3. Nội dung của Tâm thần học
1.3.1. Tâm thần học cơ sở:
- Nghiên cứu nguyên nhân và cơ chế phát sinh các bệnh tâm thần.
- Nghiên cứu các triệu chứng của bệnh tâm thần
- Nghiên cứu các nguyên tắc phân loại bệnh tâm thần.
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến diễn biến của bệnh tâm thần.
1.3.2. Tâm thần bệnh học:
Nghiên cứu bệnh sinh, triệu chứng và phương pháp điều trị các bệnh tâm thần cụ thể như bệnh tâm thần phân liệt, bệnh rối loạn cảm xúc, tâm thần do rượu...
1.3.3. Tâm thần học chuyên biệt:
- Tâm thần học trẻ em: chuyên nghiên cứu các bệnh tâm thần ở lứa tuổi nhỏ, lứa tuổi học đường.
- Tâm thần học người già: chuyên nghiên cứu các bệnh tâm thần ở người cao tuổi.
- Tâm thần học Quân sự: chuyên nghiên cứu các đặc điểm bệnh tâm thần ở quân nhân, trong thời bình cũng như trong thời chiến.
- Tâm thần học Pháp y: chuyên nghiên cứu các vấn đề giám định tư pháp tâm thần, những tiêu chuẩn mất năng lực trách nhiệm hành vi...
- Các chuyên ngành khác: chuyên ngành Giám định sức khỏe tâm thần, Dịch tễ học tâm thần, Tâm thần xã hội học, Vệ sinh tâm thần học, Dược lí học Tâm thần, Di truyền học Tâm thần.
1.4. Mối liên quan của Tâm thần học với các môn khoa học khác
1.4.1. Với thần kinh học
Thần kinh học chuyên nghiên cứu những bệnh thực tổn ở hệ thần kinh trung ương gây ra các rối loạn chủ yếu về cảm giác và vận động.
Tâm thần học nghiên cứu về các rối loạn của hoạt động thần kinh cao cấp như cảm xúc, tri giác, tư duy.
1.4.2. Liên quan với các ngành nội và ngoại khoa khác
- Các bệnh mạn tính như hen phế quản, viêm đa khớp dạng thấp, suy tim, phổi phế quản tắc nghẽn mạn tính... là nguyên nhân gây ra trầm cảm thứ phát do bệnh thực tổn.
- Các chấn thương sọ não, trạng thái nhiễm trùng, nhiễm độc, mất máu, đa chấn thương... có thể gây ra các trạng thái loạn thần cấp.
- Lạm dụng rượu gây ra hậu quả nghiêm trọng ở nhiều cơ quan, bệnh nhân có thể phải nhập viện ở nhiều chuyên khoa khác nhau như nội tiêu hóa, tim mạch, tiết niệu, truyền nhiễm, ngoại chấn thương, phẫu thuật thần kinh, ngoại bụng... Các bệnh nhân này đều cần có sự điều trị kết hợp của bác sỹ tâm thần nhằm ngăn chặn và làm giảm nhẹ sảng rượu để giảm tỷ lệ tử vong.
1.4.3. Liên quan với các môn y học cận lâm sàng
- Điện não đồ đóng vai trò quan trọng nhất trong các phương pháp chẩn đoán chức năng để hỗ trợ chẩn đoán bệnh tâm thần. Có thể dùng điện não đồ để phát hiện bệnh động kinh, các ổ tổn thương ở não, tình trạng ức chế, hưng phấn và kích thích của não... Từ đó chúng ta có thể tiên lượng và có hướng điều trị hiệu quả hơn.
- Các xét nghiệm sinh hóa hiện đại như định lượng dopamin, serotonin trong máu, dịch não tủy người bệnh có ý nghĩa lớn lao trong chẩn đoán và tiên lượng một số bệnh như tâm thần phân liệt, trầm cảm.
- Việc định lượng nồng độ thuốc an thần, chống trầm cảm... nhiều khi là cần thiết để phát hiện tình trạng kháng điều trị của bệnh nhân.
1.4.4. Mối liên quan với các môn khoa học xã hội
- Liên quan với Tâm lí Y học: Các trắc nghiệm tâm lý có giá trị hỗ trợ chẩn đoán, đánh giá kết quả điều trị các bệnh tâm thần.
Một số liệu pháp tâm lý như liệu pháp nhận thức-hành vi, liệu pháp tâm lý nhóm, liệu pháp tâm lý cá nhân vẫn đang được áp dụng trong thực tế để điều trị kết hợp với thuốc cho bệnh nhân.
- Liên quan với pháp lí: Bệnh nhân tâm thần có thể phạm tội. Trong nhiều trường hợp, nếu được kết luận là mất năng lực tâm thần trầm trọng (tâm thần phân liệt thể di chứng, thiểu năng trí tuệ mức độ trung bình, động kinh tâm thần, say rượu bệnh lý) bệnh nhân sẽ được miễn trách nhiệm hình sự.
Các trường hợp mất một phần năng lực (tâm thần phân liệt giai đoạn tiến triển, hưng cảm và trầm cảm nặng) thì bệnh nhân được miễn một phần trách nhiệm hình sự.
Một số bệnh tâm thần nặng như tâm thần phân liệt, động kinh có sa sút rõ thì sẽ bị luật pháp cấm kết hôn.
2. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH TÂM THẦN HỌC
2.1. Thế giới
Bệnh tâm thần có lẽ đã xuất hiện rất sớm ngay từ khi bắt đầu có loài người. Sự phản ứng sớm nhất và sơ khai nhất về bệnh tâm thần là người ta cho rằng do ma quỉ ám ảnh, do sự giận dữ của thần thánh, chúa trời gây ra.
Lịch sử ngành Tâm thần mang đậm tính chất văn hoá, triết học và xã hội của các thời đại. Có lúc, những bệnh nhân tâm thần được coi như là hiện thân của quỉ dữ hoặc là những tên phù thuỷ chống lại ý Chúa nên người bệnh tâm thần bị khinh miệt và bị trừng phạt, thậm chí còn bị gông cùm, xiềng xích, bị thiêu sống, bị xoay tròn đến kiệt sức.
Vào thế kỷ XII, có những cơ sở đầu tiên dành cho bệnh nhân tâm thần được xây dựng đó là các trại tập trung trong các tu viện kín. Một số nơi xây dựng các trại tập trung dành riêng cho người "điên" với chế độ quản lí hà khắc và tàn bạo. Mọi khuynh hướng nhằm giải thích bệnh tâm thần theo quan điểm duy vật đều không được chấp nhận.
Đến cuối thế kỷ 18, những tư tưởng tiến bộ về tự do, nhân quyền của triết học duy vật đã tác động tới chế độ phong kiến và uy quyền của nhà thờ. Cuộc đại cách mạng tư sản Pháp năm 1789 thành công là luồng sinh khí mới có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của khoa học, Y học nói chung và Tâm thần học nói riêng. Năm 1793, Philippe Pinel (1745-1826) là người đầu tiên xoá bỏ xiềng xích, trói buộc cho những bệnh nhân tâm thần ở Pháp. Sang thế kỷ thứ 19, Tâm thần học đã có sự phát triển mạnh mẽ.
Vào thế kỷ 20, Tâm thần học ngày càng phát triển tiến bộ vượt bậc, nhất là trong lĩnh vực tổ chức, cứu chữa bệnh nhân tâm thần và nghiên cứu lâm sàng. Năm 1950, Charpentier tổng hợp ra chlorpromazin và năm 1952, J. Delay và J. Deniker (Pháp) lần đầu tiên sử dụng chlorpromazin vào lâm sàng tâm thần cho kết quả tốt đã mở ra một thời kỳ mới cho việc chữa bệnh tâm thần. Từ đó, người ta liên tiếp tổng hợp được nhiều loại thuốc khác nhau, làm xuất hiện ngành Dược lí học tâm thần và mang lại những kết quả kỳ diệu trong điều trị. Vì vậy, người ta nói rằng đây là cuộc cách mạng thứ 2 trong lịch sử ngành Tâm thần. Trên cơ sở đó mà nhiều phương pháp điều trị khác nhau đã ra đời như: liệu pháp tâm lí, liệu pháp lao động và các liệu pháp tái thích ứng xã hội, làm cho bệnh nhân tâm thần ngày càng được điều trị toàn diện hơn.
2.2. Sự phát triển của Tâm thần học ở Việt Nam
Tuệ Tĩnh (thế kỷ thứ XVII) đã nghiên cứu các bệnh thuộc tâm, các chứng mất ngủ, điên cuồng, kém trí nhớ. Ông đã có những khái niệm phân biệt điên và cuồng, điên là vui, cười, nói năng rối loạn, do tâm huyết không đủ mà phát ra nên điều trị bằng an thần dưỡng huyết và cuồng là nói sai, làm sai, không còn lí trí, làm càn do đàm hoả thịnh mà phát ra, nên điều trị bằng thanh hỏa hạ đàm, lợi đại tiện, không ăn no. Ông đã dùng thuốc nam, cây cỏ để trị các bệnh lo sợ, bực tức, cuồng nhiệt, cười nói vô cớ, nói về ma quỉ,...
Hải Thượng Lãn Ông (thế kỷ thứ XVIII) đã luận bàn về y lý, về tâm và thần, về phương pháp tiết dục, về phương pháp an thần bổ tâm, an thần dưỡng tâm. Ông đã sử dụng tình chí để chữa cho những người thất tình.
Cũng do ảnh hưởng của tôn giáo và phong kiến nên tổ tiên ta cũng không tránh khỏi những quan điểm duy tâm thần bí về bệnh tâm thần. Quan niệm cho bệnh nhân tâm thần là do ma quỉ, do âm khí, do tà thuật, nên chữa bằng cúng bái, tế lễ, lên đồng, uống tàn hương, nước thải, đánh bằng roi dâu, tạt nước tiểu vào mặt,... Rất tiếc, cho đến nay ở một số địa phương vẫn tồn tại những hiện tượng này.
Trong thời kỳ thực dân Pháp thống trị, việc điều trị bệnh tâm thần chưa được quan tâm, môn Tâm thần học không có trong chương trình giảng dạy ở trường đại học y khoa Hà Nội. Đến năm 1915, nhà thương “điên” Biên Hoà mới được thành lập, tiếp đến năm 1936, nhà thương “điên” Vôi, Bắc Giang với 400 giường bệnh chủ yếu để quản lí bệnh nhân tâm thần.
Từ năm 1954, nhất là từ khi nước nhà thống đến nay, Đảng và Chính phủ đã quan tâm xây dựng và cải tạo nhiều cơ sở tâm thần trở thành các bệnh viện tâm thần ở trung ương và tuyến tỉnh, hệ thống tổ chức cứu chữa bệnh nhân tâm thần ngày càng được củng cố và phát triển.
3. NGUYÊN NHÂN CỦA CÁC BỆNH TÂM THẦN
3.1. Nguyên nhân di truyền
Đây là nguyên nhân đóng vai trò quan trọng nhất trong các bệnh tâm thần chủ yếu như tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúc, rối loạn lo âu, nghiện rượu, ma túy. Các gen di truyền gây bệnh khi gặp yếu tố môi trường thuận lợi thì bệnh sẽ xuất hiện và phát triển.
- Tâm thần phân liệt: gen gây bệnh nằm ở các nhiễm sắc thể khác nhau. Nhờ các tiến bộ trong giải mã gen người, các tác giả Nhật Bản năm 2009 đã tìm ra các vị trí chính xác của gen gây bệnh. Đây là bệnh có cơ chế tổ hợp gen phức tạp. Gen di truyền trong tâm thần phân liệt bị rối loạn, dẫn đến sự sản xuất quá nhiều chất dẫn truyền thần kinh dopamin ở khe xi náp của vỏ não và các nhân xám dưới vỏ (tăng đến 300%). Từ đó dẫn đến tăng hoạt động quá mức hệ thống dopaminergic, tạo ra các hoang tưởng, ảo giác, rối loạn hành vi... của bệnh nhân.
- Trầm cảm: gien gây bệnh theo cơ chế đa gen. Các gen này chỉ huy việc sản xuất chất dẫn truyền thần kinh serotonin trong não. Khi các gen này bị rối loạn, việc sản xuât serotonin bị đình trệ (có khi chỉ còn bằng 30% người bình thường), vì vậy gây ra các triệu chứng của trầm cảm như khí sắc giảm, mất hết các hứng thú và sở thích, mất ngủ, chán ăn, bi quan, chán nản, chú ý và trí nhớ kém...
- Nghiện rượu: cũng được coi là bệnh có gen di truyền. Chính các gien di truyền này khiến bệnh nhân đam mê rượu, uống rượu nhiều và lâu ngày dẫn đến nghiện rượu.
3.2. Các nguyên nhân thực tổn
3.2.1. Nhiễm khuẩn: các bệnh nhiễm khuẩn trong hộp sọ như viêm não, màng não có thể gây ra sảng, hoang tưởng, ảo thị giác.
Các bệnh nhiễm khuẩn toàn thân có kèm theo nội độc tố (thương hàn) hoặc ngoại độc tố (uốn ván) cũng gây ra các ảo thị, hoang tưởng bị hại, trạng thái kích động...
3.1.2. Nhiễm độc: Rượu, ma túy tác động trực tiếp trên não qua việc thay đổi tính thấm của màng tế bào não (rượu) hoặc qua các điểm tiếp nhận cụ thể (thụ cảm thể morphin) và gây ra các rối loạn tâm thần đặc trưng như hội chứng cai rượu, ma túy.
Các kim loại nặng và một số chất độc như Co, benzen... gây ra trầm cảm cho những người bị nhiễm kéo dài, lâu ngày.
3.1.3. Chấn thương sọ não và các tổn thương khác ở não: Các nguyên nhân này có thể khiến cho bệnh nhân có thể bị trầm cảm, lo âu và động kinh, rối loạn nhân cách.
3.3. Các chấn thương tâm lý
Trái với quan niệm của mọi người, chấn thương tâm lý chỉ đóng vai trò rất khiên tốn trong nguyên nhân gây ra bệnh tâm thần.
- Các stress (thảm họa thiên nhiên như sóng thần, động đất, núi lửa phun, hoặc thảm họa nhân tạo như các trận đánh ác liệt, tử vong rất nhiều, nạn nhân của các vụ bắt cóc, bị tra tấn, bị hãm hiếp, tai nạn giao thông nghiêm trọng...) có thể gây ra phản ứng stress cấp hoặc hiếm hơn là rối loạn stress sau sang chấn.
- Mất bố, mẹ trước năm 11 tuổi được coi là nguyên nhân gây ra trầm cảm.
- Các bệnh rối loạn cảm xúc thường phối hợp với stress khi khởi phát. Nhưng các chấn thương tâm lý này chỉ đóng vai trò là yếu tố thuận lợi cho bệnh ở cơn khởi phát mà thôi. Nghĩa là không có chấn thương tâm lý thì bệnh vẫn cứ xảy ra và tái phát.
4. PHÂN LOẠI CÁC BỆNH TÂM THẦN
Phân loại bệnh tâm thần là vấn đề quan trọng. Hiện trên thế giới đang áp dụng song song 2 hệ thống phân loại độc lập với nhau. Đó là bảng phân loại bệnh của Tổ chức Y tế Thế giới (ICD 10) năm 1992 và bảng phân loại bệnh của Hội Tâm thần học Mỹ (DSM -5) năm 2014. Nhìn chung, hai hệ thống phân loại này tuy có một số khác biệt nhưng không mâu thuẫn với nhau. Ở Việt Nam, bảng phân loại bệnh của Tổ chức Y tế Thế giới ICD 10 được sử dụng chính thức trong Ngành Tâm thần.
Theo ICD-10, các rối loạn tâm thần được xếp vào phần F từ F00-F99.
F00-F09: Các rối loạn tâm thần thực tổn bao gồm cả rối loạn tâm thần triệu chứng.
F10-F19: Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất tác động tâm thần.
F20-F29: Bệnh TTPL, các rối loạn loại phân liệt và các rối loạn hoang tưởng.
F30-F39: Rối loạn khí sắc (cảm xúc).
F40-F48: Các rối loạn bệnh tâm căn có liên quan đến stress và dạng cơ thể.
F50-F59: Các hội chứng hành vi kết hợp với các rối loạn sinh lý và các nhân tố cơ thể.
F60-F69: Các rối loạn nhân cách và hành vi ở người thành niên.
F70-F79: Chậm phát triển tâm thần.
F80-F89: Các rối loạn về phát triển tâm lý.
F90-F98: Các rối loạn hành vi và cảm xúc thường khởi phát ở tuổi trẻ em và thanh thiếu niên.
F99: Rối loạn tâm thần không biệt định khác: mục này không khuyến khích, chỉ dùng khi không thể sử dụng một mã số nào khác từ F00-F98.
Câu hỏi ôn tập
1. Nêu mối quan hệ giữa Tâm thần học và Thần kinh học ?
2. Nêu mối quan hệ giữa Tâm thần học và các bệnh nội khoa ?
3. Tại sao căn nguyên di truyền đóng vai trò quan trọng nhất trong các nguyên nhân gây ra bệnh tâm thần ?
4. Vai trò của chấn thương tâm lý trong bệnh tâm thần?
Tài liệu tham khảo
1. Tâm thần học và Tâm lí học Y học, NXB QĐND, 2007, tr. 17 - 29










