Trang chủ Bài giảng chuyên ngành Chuyên ngành Ngoại khoa Răng - Hàm - Mặt Biến dạng môi mũi sau tạo hình khe hở môi một bên

Biến dạng môi mũi sau tạo hình khe hở môi một bên

T6, 09/10/2020

I. ĐẠI CƯƠNG

1.1. Nguyên nhân của những biến dạng môi, mũi sau tạo hình KHM

1.1.1. Nguyên nhân khách quan ( do các thầy thuốc )

Một trong những nguyên nhân dẫn đến những biến dạng môi mũi sau tạo hình KHM phải kể đến là do thầy thuốc, do trình độ tay nghề không đồng đều, nên có những thao tác kỹ thuật chưa chuẩn mực làm sai lệch các mốc giải phẫu trong lúc phẫu thuật. Cắt bỏ tổ chức hai bên bờ khe hở nhiều, bóc tách hạn chế làm cho môi sau mổ chịu một sức căng lớn dễ toác, sẹo sau này dãn to, hàm trên càng bị thụt lùi ra sau.

1.1.2. Nguyên nhân chủ quan (do tự thân bệnh nhân)

- Ngay sau mổ môi kỳ đầu: Do BN quá nhỏ không gìn giữ vết mổ tốt, làm tuột chỉ, nhiễm trùng gây toác vết mổ.

- Môi, mũi bị biến dạng dần dần trong quá trình phát trình phát triển của cơ thể BN. Sự hiện diện của sẹo ở môi và sự can thiệp quá mức vào sụn mũi ở thì tạo hình môi đầu tiên dẫn đến sự phát triển không đồng đều giữa hai bên mũi và môi sau phẫu thuật. Qúa trình biến đổi này diễn ra kéo dài cho đến năm 16-18 tuổi.

1.2. Phân loại biến dạng môi trên, mũi sau tạo hình khe hở môi

1.2.1. Phân loại theo thời điểm bị biến dạng

* Biến dạng nguyên phát: Là những biến dạng vẫn còn tồn tại mà trong phẫu thuật kỳ đầu chưa được sửa chữa.

* Biến dạng thứ phát: Chủ yếu là những biến dạng phát triển như sẹo co kéo, hàm trên bên khe hở thụt lùi ra sau.

1.2.2.Phân loại theo mức độ tổn thương giải phẫu

Jackson I.T và CS.(1990) đã trình bày một cách tỷ mỉ những biến dạng của môi và mũi sau tạo hình KHM một bên dựa trên hình thái của sẹo, thiếu hoặc thừa da môi, chiều cao môi, làn môi đỏ, cơ vòng môi, lệch lạc các mốc giải phẫu…

1.2.3.Phân loại theo mức độ biến dạng môi, mũi

Kozin I.A.(1978) căn cứ vào mức độ biến dạng của môi mũi phân loại

* Biến dạng độ I: Biến dạng môi hoặc mũi đơn thuần

* Biến dạng độ II: Biến dạng môi và mũi, không có biến dạng cung hàm

* Biến dạng độ III: Biến dạng môi, mũi kết hợp với biến dạng cung răng và

xương hàm trên

Assuncao A.G.A.(1992) đưa ra một bảng phân loại biến dạng môi rất chi tiết và tỷ mỉ dựa trên biến dạng môi, làn môi đỏ và sẹo.

II. NHỮNG KỸ THUẬT SỬA CHỮA BIẾN DẠNG MÔI, MŨI SAU PHẪU THUẬT TẠO HÌNH KHM  MỘT BÊN

2.1. Tuổi thích hợp cho sửa chữa những biến dạng môi mũi

Trong khi những biến dạng môi sửa chữa ở tuổi nào cũng được thì lựa chọn tuổi để sửa chữa những biến dạng mũi sau tạo hình KHM vẫn còn tranh cãi xoay quanh vấn đề can thiệp vào thời điểm đó có ảnh hưởng hay không đến sự phát triển của sụn mũi.

Can thiệp vào mũi ngay tại thời điểm phẫu thuật kỳ đầu, Boo-chai K.(1987), Sugihara T và CS.(1993) cho rằng nó không ảnh hưởng tới sự phát triển của sụn mũi.

Millard D.R.(1982) cho rằng ở độ 4-6 tuổi, sụn cánh mũi đã được phát triển đầy đủ vì thế có thể sử trí ở tuổi này.

Bardach J và Salyer K.E.(1987) lại muốn sửa chữa kỳ hai  ở tuổi 10 đến 12

Li Hong-Li và C.S.(1987) cho rằng phẫu thuật sửa chữa muộn, có thể lấy sụn vành tai, sụn sườn để ghép vào bên hở ở những trường hợp có chỉ định ghép, mà không sợ ảnh hưởng tới sự phát triển của sụn sau này.

Một lý do khác nữa mà những nhà phẫu thuật không muốn sửa chữa mũi sớm vì sợ phải đụng đến vách ngăn mũi. Sarnat B.G.(1967), Vetter U và C.S (1983)thấy nếu cắt sụn vách ngăn mũi sẽ ảnh hưởng trầm trọng đến sự phát triển của hàm, trong khi đó sự lệch lạc vị trí của sụn không ảnh hưởng đến sự phát triển của hàm.

Cronin T.D và C.S.(1988) khuyên sửa chữa các biến dạng kỳ hai ở tuổi từ 13 - 19 là tốt nhất, những trường hợp nặng thì có thể sửa chữa sớm hơn.

Nghiên cứu của Takato T và C.S (1995) cho thấy nếu can thiệp sửa chữa mũi sớm kết quả lúc đầu rất thoả đáng và hợp lý, nhưng khi bệnh nhân bước vào tuổi thanh niên, lại bộc lộ những nét không tương đồng, dễ dàng nhận biết.

Joos U.(1995) cho rằng chỉ cần hồi phục tốt cơ vòng môi và mũi bên cũng đã góp phần làm cho  mặt, mũi phát triển tốt và cân đối hơn.

2.2. Những kỹ thuật cơ bản trong sửa chữa biến dạng môi

2.2.1. Sẹo xấu đơn thuần

- Cắt bỏ toàn bộ tổ chức sẹo xấu, bóc tách dưới da khâu kéo lại da che phủ.

- Cắt bỏ sẹo xấu kết hợp với sửa chữa thiếu chiều cao da môi ít, cung môi bị co kéo hoặc lệch có thể sử dụng các đường rạch lượn sóng của Pfeifer G.(1973). Nhưng thông thường nhất là sử dụng các kỹ thuật tạo hình chữ Z, V-Y để giải quyết lệch lạc cung Cupidon và đồng thời làm tăng chiều cao da môi, Với kỹ thuật này ta có thể thu được kết quả tốt, mặc dù các đường rạch rích rắc qua đường viền giải phẫu bình thường của môi

- Khi sẹo xấu cùng với những thiếu hụt cơ vòng môi, thiếu chiều cao da hoặc toàn thể môi, cần sửa sẹo cùng với mở lại toàn bộ môi để tạo hình lại từ đầu.

- Sẹo xấu, dãn và lõm phía dưới: Chúng ta có thể tiến hành kỹ thuật cắt bỏ lớp phía trên của sẹo và sau đó vùi chúng xuống dưới để tăng sự nhô ra của gờ nhân trung {kiểu “áo bỏ ngoài quần” của Stal S và Spira M (1984)}(Hình 1). Phẫu thuật này chỉ được làm khi sẹo nằm ngay trên cột nhân trung.

2.2.2. Sửa chữa chiều cao môi, da môi

* Thừa chiều da cao môi và cao môi

Thừa chiều da cao môi thường xuất hiện sau tạo hình môi bằng phương pháp Tennison. Biến dạng này được sửa chữa bằng cách cắt bỏ một vạt tam giác nhỏ ngang, dày toàn bộ ở phần trên của môi, phía dưới ngưỡng của lỗ mũi. Tessier P và C.S.(1984)đã mô tả một đường rạch hình chêm dầy toàn bộ của tổ chức môi ngay phía dưới mũi tuỳ theo độ thừa. Park B.Y và CS.(1996) đã đặt lại vạt tam giác trở lại vị trí cũ của nó, để sửa chữa chiều cao môi thừa sau phẫu thuật tạo hình KHM một bên bằng phương pháp Tennison. (Hình 2)

Thừa chiều cao môi, da môi cũng có thể xuất hiện sau khi tạo hình KHM một bên bằng phương pháp xoay-đẩy (điều này rất hiếm). Sửa chữa sai sót này bằng cách cắt bỏ toàn bộ da hình lưỡi liềm ngang ngay sát chân cánh mũi (Hình 3&4)

*  Thiếu chiều cao môi, da môi (Hình 5; 6.)

Thiếu chiều cao môi, da môi là do sự co kéo của sẹo theo chiều thẳng đứng  thường liên quan tới phẫu thuật tạo hình KHM theo phương pháp đường thẳng hoặc đường cong nhỏ. Trong phẫu thuật  bằng vạt xoay - đẩy cũng gặp ngắn chiều cao da và cao môi, nhất là với KHM rộng {Millard D.R.(1968)}. Nhưng theo tác giả, đây chỉ là biểu hiện tạm thời, thiếu chiều cao da và môi là do xoay các vạt không đầy đủ, mở rộng đường rạch ngang qua nền của trụ mũi, rạch cắt không đủ để đặt lại vị trí và độ dài của lớp cơ. Thiếu hụt này có thể xử trí bằng cách cắt bỏ sẹo và xoay lại vạt bằng đường cắt lùi về phía sau để tăng xoay xuống dưới của phần môi bên trong. Trong phẫu thuật tạo hình môi bằng vạt tam giác, thiếu chiều cao môi cũng xảy ra, nhưng rất ít gặp. Để sửa chữa Randall P.(1986) dùng một đường cắt rất mỏng hình tam giác ngay tại đường rạch phía trên và phía dưới và đẩy hai vạt tam giác vào phía trong. Park C và Lew J.D.(1989) lại đưa ra một kỹ thuật làm tăng chiều cao da môi bằng cách tạo ra một vạt tam giác rộng hơn lúc đầu bởi vạt xoay kế cận. Man-li và C.S(1987) kết hợp vạt xoay đẩy và vạt tam giác để sửa chữa ngắn chiều cao da môi.

 

 

2.2.3. Sửa chữa thiếu hụt chiều dài môi.

Thiếu hụt chiều dài môi ít khi xảy ra sau tạo hình KHM một bên, mức độ thiếu hụt có thể là tuyệt đối do cắt bỏ tổ chức hai bên bờ khe hở quá nhiều trong lúc phẫu thuật kỳ đầu có thể sửa chữa bằng cách dùng vạt Abbé . Nếu xác định thiếu chiều cao môi chỉ là tương đối do thụt hàm trên về phía sau, cần phẫu thuật tạo hình mở và kéo dãn xương hàm trên theo kiểu Le Fort I hoặc ghép xương kết hợp sau chỉnh đẩy xương.

2.2.4. Sửa chữa biến dạng của cơ vòng môi

Ngày nay, việc hồi phục cơ vòng môi trong phẫu thuật KHM kỳ đầu rất được chú trọng. Việc xác định vị trí giải phẫu của cơ ở người bình thường và trên những bệnh nhân có KHM là hết sức quan trọng. Sai lầm chủ yếu khi phẫu thuật là do bộc lộ chưa hết những chỗ bám sai của cơ, khâu nối hai đầu cơ vòng môi chưa đúng vị trí, sự đan cài của cơ chưa hoàn chỉnh, cơ không đủ độ dầy và độ dài. Delaire J và C.S.(1987) chỉ ra rằng việc hồi phục tốt cấu trúc của hai cơ này là yếu tố quyết định hình dáng của xương tầng giữa mặt và hàm trên. Abramo A.C.và C.S.(1991) đã đề xuất một kỹ thuật giải phóng điểm bám bất thường của cơ vòng môi khỏi mép của KH, sau đó khâu đan cài các vạt cơ với nhau (Hình 7). Bằng cách này cơ được hồi phục tốt hơn, cột nhân trung sẽ được hồi phục tương đối giống bình thường.

2.2.5. Sửa chữa những thay đổi các điểm mốc môi trên

Nhân trung, cung Cupidon như một cái mốc thể hiện đặc trưng hình dáng của môi trên. Sự mất cân đối nhân trung  hay gặp nhất và là kết quả của xắp xếp môi và làn môi đỏ kém trong phẫu thuật kỳ đầu. Cung Cupidon biến dạng bao gồm: lệch hếch lên trên, dãn rộng do căng quá mức, khía hình chữ V là kết quả của sự gắn dính kém, biến dạng do các vạt không cân hoặc co kéo của sẹo {Tessier P và C.S.(1984)}

Khi chỉ có sắp xếp sai và biến dạng là nhỏ có thể xử dụng kỹ thuật tạo hình chữ Z, đường rạch hình quả chám không đều để sửa chữa tại chỗ. (Hình 8a&8b). Có thể ghép phức hợp sụn-da, hoặc sụn vành tai được cấy dưới da để hồi phục gờ và lõm nhân trung.

2.2.6. Sửa chữa những biến dạng làn môi đỏ

* Thiếu hụt làn môi đỏ

Biến dạng thông thường nhất của làn môi đỏ sau tạo hình KHM một bên là:

làn môi đỏ bị kéo hếch lên phía da môi, khía hình chữ V của làn môi đỏ, làn môi đỏ không gắn đúng các mép, mỏng hoặc mất bờ làn môi, biến dạng kiểu "huýt sáo" (tuy ít gặp).

Các kỹ thuật được dùng để sửa chữa thiếu hụt làn môi đỏ là: Tạo hình chữ Z, đẩy kiểu V-Y, vạt xoay niêm mạc kết hợp khâu thu kéo lại cơ. Việc xoay hoặc đẩy vạt niêm mạc môi đòi hỏi phải cẩn thận, không đặt niêm mạc ướt vào vùng niêm mạc khô. Cũng có thể bù thiếu hụt làn môi đỏ chiều thẳng đứng bởi xoay vạt niêm mạc môi một góc rộng từ 1800 hoặc 900 {Ginestet J.G.(1976)}. Lõm, thiếu làn môi đỏ có thể được làm mất đi bởi một vạt của tổ chức làn môi đỏ bên thừa, lấy bỏ lớp thượng bì,  luồn xuống dưới, ngay phía dưới chỗ khuyết {Rodgers C.M (1989)}.

Biến dạng kiểu "huýt sáo" thường gặp sau tạo hình KHM hai bên, còn ở KHM một bên rất ít gặp. Khi thiếu tổ chức nhỏ, chỉ ở làn môi đỏ và niêm mạc thì tạo hình theo kiểu V-Y .(Hình 9; 10; 11.)

Tạo hình KHM một bên bằng các vạt xoay đẩy đôi khi thừa ra một lượng làn môi đỏ do việc đẩy của niêm mạc môi trên liên quan tới niêm mạc tiền đình hàm trên. Điều này có thể sửa chữa đơn giản bằng cách cắt bỏ đi phần thừa hình quả trám dọc theo chỗ giáp môi khô và môi ướt (Hình 12).

* Thiếu hụt rãnh tiền đình miệng:

Thiếu hụt rãnh tiền đình miệng (ít gặp sau phẫu thuật KHM một bên) do sai lầm trong khi khâu đính các điểm mốc ở phía niêm mạc. Biến dạng này sẽ làm khó khăn cho chỉnh hình, phục hình răng và hạn chế chức năng của môi. Sự thiếu hụt có thể được giải phóng bằng cách bóc tách rộng và sử dụng các vạt đẩy niêm mạc có nền ở phía trên, kết hợp với vạt chữ Z, vạt đẩy V-Y, kể cả ghép niêm mạc hoặc ghép da dầy chẻ đôi (Hình 13). Việc cố định tạo ra  độ sâu của rãnh là cần thiết sau tạo hình lại rãnh, do đó nó chỉ được làm khi trẻ từ 4-6 tuổi (chúng có thể hợp tác cùng bác sỹ). ở các bệnh nhân có KH xương ổ răng và các lỗ thủng thông ngách tiền đình lên mũi, việc tạo hình rãnh cần được tiến hành với sửa chữa môi, tạo hình lợi và ghép xương ổ răng.

Nhìn chung  biến dạng môi sau tạo hình KHM có thể đơn giản, chỉ một phần giải phẫu của môi, nhưng cũng có thể là một phức hợp. Khi sửa chữa những biến dạng môi, điều quan trọng nhất là xác định các biến dạng, sủa chữa cục bộ hay đồng bộ, cố gắng hạn chế tối đa việc cắt bỏ tổ chức, mà cần sử dụng linh hoạt các thủ thuật tạo hình cơ bản, sắp xếp lại các vị trí, hình thái của môi bị lệch lạc về đúng vị trí giải phẫu của chúng .

2.3.Những kỹ thuật sửa chữa biến dạng mũi

Quá trình sửa chữa kỳ 2 tuỳ theo mức độ phức tạp của các biến dạng và khả năng có thể giải quyết; không thể có đầy đủ những tiêu chuẩn cho tất cả những biến dạng mũi trong KHM và cũng không có tất cả những biến dạng trên cùng một bệnh nhân. Theo Salyer K.E(1986) thì sự lựa chọn phương pháp phẫu thuật phụ thuộc vào mức độ trầm trọng của các biến dạng, kinh nghiệm và sự thành thạo của phẫu thuật viên.

Để phục hồi sự cân đối mũi, sụn cánh mũi phải được thay đổi bằng việc đặt lại vị trí, treo lên, biến đổi kích thước bằng ghép sụn làm giảm khối lượng mà không ảnh hưởng tới hình thể mũi. Trên cơ sở ứng dụng những kỹ thuật của Blair V.P.(1925); Gillies H.(1932); Berkeley W.T.(1959); Rohrich R.I và Tabbetts J.B(1987) đưa ra những ưu và nhược điểm của các đường rạch bộc lộ sụn cánh mũi.

* Đường rạch phía ngoài, giải phóng và dịch chuyển cả thuỳ mũi (Hình 14)

Đã được rất nhiều tác giả trước đó mô tả và sử dụng, sau này Dibbell D.G.(1982); Kirschbaum J.D và CS.(1992) đã dùng đường rạch phía ngoài bộc lộ toàn bộ phức hợp sụn-niêm mạc mũi để xoay toàn bộ sụn cánh bên khe hở bị thấp vào trong và lên trên về phía bên lành.

Đường rạch phía ngoài, bên cạnh việc xoay toàn bộ thuỳ mũi, còn được thiết kế để bộc lộ cột giữa sụn cánh mũi và vùng vòm cánh mũi. Crikelair G.F và C.S.(1959) khuyên nên dùng trong những tình huống phẫu thuật trong mũi không thành công kỳ đầu. Erich J.B.(1953) và Figi F.A(1956) giới thiệu đường rạch “cánh chim bay” tại đầu đỉnh mũi (Hình 14). Mazzola R.F.(1996) dùng đường rạch phía ngoài sát viền lỗ mũi kết hợp ngang qua trụ mũi ở các mức khác nhau để đến gần sụn cánh mũi và ít nhìn thấy sẹo. Nakajima T và C.S.(1998) cho rằng ở KHM một bên, biến dạng mũi thường thấy ở cả hai bên và dùng đường rạch phía ngoài ở cả hai bên.

Bất lợi chính của đường rạch phía ngoài là để lại một sẹo bộc lộ ở ngay đỉnh, ảnh hưởng thẩm mỹ hiện nay ít dùng.

 

 

 

 

 

*  Đường rạch phía trong, dịch chuyển và treo sụn cánh mũi (Hình 14)

Phẫu thuật bộc lộ đầy đủ để giải phóng sụn cánh mũi khỏi tiền đình và da phía ngoài là cần thiết để sửa chữa biến dạng cánh mũi. Điều này có thể đạt được qua đường rạch phía trong. Kazanajian V.H.(1939) đã mô tả việc nâng cột giữa của cả hai sụn cánh mũi gắn chặt với phía dưới lưng mũi để cố định cánh mũi. Broadben T.R và C.S.(1984) sử dụng đường rạch phía trong đã được mô tả bởi Gillies H và C.S.(1932) thấy đường rạch này cũng có thể bộc lộ đầy đủ vùng vòm mũi, cột bên và cột giữa, mặc dù không hoàn toàn như đường rạch phía ngoài. Việc xắp xếp lại tổ chức phần mềm ở đường rạch phía trong ít chính xác hơn đường rạch phía ngoài, nhưng sẹo lại được giấu kín đáo hơn.

Dù đường rạch ở ngoài hay ở trong, việc sắp xếp các phần cánh mũi bên KH ở đúng vị trí giải phẫu của chúng sau khi giải phóng và di chuyển mới là chủ yếu. Kết quả của phẫu thuật sửa chữa tuỳ thuộc mức độ của những biến dạng mũi, độ dầy mỏng của sụn cánh mũi bên KH, sự di chuyển của tổ chức phần mềm, mức độ tổn thương những cấu trúc sụn trong lúc giải phóng sụn, hoặc trước khi cắt bỏ sẹo{Rohrich R.J.và C.S.(1987).

Bộc lộ hoàn toàn sụn cánh biến dạng cả hai cột bên và khâu vào vòm mũi làm cho trụ mũi được nâng cao thêm là những kỹ thuật quan trọng nhất trong kỹ thuật sửa chữa này. Mc Indoe I.H và Rees T.D.(1959) đã mô tả quá trình bộc lộ cả hai sụn cánh, khâu hai vòm cánh với nhau và với góc vách ngăn, cộng thêm mũi khâu trên cúc đệm qua da riêng từng phần, một nòng cao su cố định ở lỗ mũi hai bên làm tăng cường sức chống đỡ này. Ezrokhin V.M.(1995) cũng đã tách và dịch chuyển sụn cánh mũi ở 44 bệnh nhân, cho kết quả tốt là 90%.

Rạch cắt, giải phóng và đặt lại vị trí của sụn cánh mũi (Hình 15)

Từ năm 1938, Humby G đã đề xuất đường rạch cắt và dịch chuyển một phần cột bên của sụn cánh mũi bên không hở, vắt qua đường giữa để làm tăng cột bên - bên hở.

Brown J.B và Mc Dowell F (1941) đã chia cắt cột bên-bên hở và đặt lại nó ngang qua đường giữa, qua cột bên và vòm cánh mũi bên không hở. Nó được treo với vòm cánh bên đối diện thông qua đường rạch phía trong mũi.

Dùng đường rạch phía ngoài, Barsky A.J.(1950) đã giải phóng, tạo một vạt sụn từ phía sau của cột bên ở bên khe hở khâu treo vào sụn bên - trên, bên không hở.

Erich J.B.(1953) cắt cột giữa ở bên khe hở qua đường rạch phía ngoài và treo vùng vòm cánh với vòm bên đối diện. Whilow D.R và Constable J.O.(1973) dùng đường rạch phía ngoài của Figi và tạo vạt có cánh từ sụn cánh mũi hai bên bắt chéo nhau, được treo bằng  mũi khâu qua da trên cúc đệm.

2.4. Kỹ thuật sửa chữa những biến dạng khác sau tạo hình KHM một bên

Cutting C.B và C.S.(1989) phát hiện thấy sau tạo hình KHM tổ chức che phủ sụn cánh mũi mất cân đối, khác nhau giữa các phương pháp phẫu thuật và cả giữa bên có khe hở và bên không hở. Sau khi can thiệp vào sụn mũi, đặt lại vị trí của các sụn, hiển nhiên là da và niêm mạc che phủ không đáp ứng được với sụn lúc này. Cho B.C và C.S.(1998) cho rằng sửa chữa những biến dạng phần xương và sụn cần phải tiến hành đồng thời với sửa chữa phần mềm của mũi.

Nhiều phương pháp đã được đề xuất để khắc phục nhược điểm này:

Tạo một vạt tam giác có chân nuôi ở phía trên của trụ mũi bên hở (Hình 16) hoặc phía trên cánh mũi (Hình 17) quặt chèn vào khuyết hổng niêm mạc phía trong đỉnh mũi. Vạt này có tác dụng tăng cạnh bên của trụ mũi, làm cho lỗ mũi cân đối hơn. Nhưng sau một thời gian sẹo co kéo, viền lỗ mũi không đẹp.

Gubisch W(1998) đưa ra một giải pháp để giải quyết vấn đề này bằng ba vạt quặt ngược ở ngay chính đỉnh của góc trụ-cánh mũi làm cho viền lỗ mũi cân đối, cong và đẹp.

* Các thủ thuật tạo hình niêm mạc và nếp niêm mạc tiền đình mũi

Niêm mạc phía trong tiền đình mũi bên KH bị thiếu lôi kéo đỉnh mũi xuống dưới và làm cho phía trong lỗ mũi bị hẹp. Sau khi sụn cánh mũi được bộc lộ và di chuyển, niêm mạc mũi cũng phải được giải phóng cho tương xứng với dịch chuyển sụn. Thiếu hụt ở niêm mạc tiền đình mũi được đóng kín lại bằng các thủ thuật tạo hình chữ Z, V-Y, hoặc ghép da hoặc phức hợp sụn-da

Việc sửa chữa nếp niêm mạc tiền đình mũi bằng cách rạch sụn cánh mũi từ vùng này và giữ lại da và lớp niêm mạc lót đã được báo cáo bởi Salyer K.E(1986) [115] (Hình 18). Nakajima T và C.S.(1986) đã cải biên kỹ thuật tạo hình chữ Z nếp niêm mạc tiền đình mũi của Straith C.L.(1946) nhằm tránh sự căng thít của vùng này và thiếu hổng được ghép bằng niêm mạc hoặc da dầy chẻ đôi (Hình 19).

Tạo hình chữ Z sẽ giảm bớt co kéo đỉnh mũi và mở rộng thêm đường thông khí của mũi ngoài. Potter J.(1954) công bố kỹ  thuật V-Y của nếp niêm mạc này, dịch chuyển niêm mạc màng sụn dính với sụn cánh mũi. Armstrong G.T và C.S.(1997) đã báo cáo những kết quả của việc sắp xếp lại nếp niêm mạc tiền đình ngay tại thời điểm tạo hình môi - mũi kỳ đầu, bằng cách sử dụng vạt hình chữ L ở phần bên KH và đặt nó vào niêm mạc tiền đình để sửa chữa thiếu hụt này.

Tài liệu tham khảo:

- Bài giảng Răng hàm mặt tập 1,2,3 Trường Đại học y Hà nội.

- Bài giảng Phẫu thuật Hàm mặt. Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân. 2010.

- Bài giảng Phẫu thuật Tạo hình. Nhà xuất bản y học. Năm 2005.

 

Tiến sĩ BSCKII  Lê Đức Tuấn

 

Dịch vụ thiết kế website wordpress