Bệnh lý thần kinh vùng hàm mặt

T6, 09/10/2020

1. PHẦN MỞ ĐẦU

Bệnh lý thần kinh vùng hàm mặt rất đa dạng và phức tạp, nhưng thường gặp trên lâm sàng hơn cả là bệnh lý của dây thần kinh V và dây thần kinh VII. Dây thần kinh V là dây thần kinh hỗn hợp. Các nhánh vận động của dây V chi phối tất cả các cơ nhai, còn các nhánh cảm giác của nó thì chi phối cảm giác các vùng trên mặt và khoang miệng. Ở ngoại vị dây thần kinh V chia làm 3 nhánh chính: hai nhánh trên chỉ có các dây cảm giác, còn nhánh thứ ba gồm cả các nhánh cảm giác và vận động.

Dây thần kinh VII là dây thần kinh chủ yếu chi phối vận động của các cơ bám da mặt. Sau khi đi ra khỏi nền sọ, dây thần kinh VII chia ra một nhánh thần kinh tai sau để chi phối vùng chẩm và sau tai, sau đó cho hai nhánh vào thân sau cơ nhị thân và cơ trâm lưỡi. Ở tuyến mang tai dây thần kinh VII chia ra hai nhánh chính: nhánh thái dương mặt và nhánh cổ mặt. Những nhánh này lại được phân chia ra thành nhánh nhỏ hơn hình thành đám rối mang tai. Từ đám rối mang tai cho ra các nhánh: nhánh thái dương, nhánh gò má, nhánh má, nhánh mép và cổ.

Nguyên nhân dẫn đến bệnh lý của thần kinh V và thần kinh VII có thể chia ra làm ba nhánh sau:

- Bệnh lý viêm dây thần kinh.

- Chấn thương, vết thương dây thần kinh.

- Thoái hóa dây thần kinh.

Trong ba vấn đề trên thì chấn thương là nguyên nhân được xác định rõ ràng và dễ, còn do viêm và thoái hóa dây thần kinh có khi rất khó xác định hoặc hai loại này cùng kết hợp mà biểu hiện trên lâm sàng cũng gần giống nhau.

 

2. BỆNH LÝ CỦA DÂY THẦN KINH V.

2.1. Đau dây thần kinh V.

Đau dây thần kinh V là biểu hiện những rối loạn cảm giác thể hiện bằng triệu chứng đau rất khác nhau ở vùng mà nhánh thần kinh đó chi phối. Tham gia vào cảm giác đau của dây thần kinh V được chia ra hai phần: trung ương và ngoại vi. Phần trung ương từ hạch Gasser lên cầu não, rồi lên vỏ não; còn phần ngoại vi từ hạch Gasser trở ra.

Bản chất của đau dây thần kinh V là do bị tổn thương các sợi cảm giác và sợi thần kinh thực vật. Khi có một kích thích xuất hiện ở một vị trí nào đó của hệ thống xúc giác sẽ tạo nên những xung động đau. Những xung động này được truyền đến vùng não trung gian (cầu não) và đến các nhân cảm giác của vỏ đại não. Sự hình thành cảm giác đau xảy ra ở vỏ đại não. Để đáp ứng với những hưng phấn đau ở vỏ đại não phải có những thay đổi nhất định ở một vùng nào đó. Khi có những kích thích đau kéo dài, ở vỏ đại não sẽ hình thành một ổ kích thích liên tục bị hưng phấn và làm cho bệnh nhân cảm giác đau thường xuyên liên tục.

2.1.1. Bệnh căn và bệnh sinh:

Chưa có quan điểm thống nhất về đau dây thần kinh V. Người ta chia đau dây thần kinh V ra hai hình thái:

- Đau dây thần kinh V nguyên phát: là loại đau thần kinh nhưng không thấy có những thay đổi giải phẫu hoặc rối loạn chức năng nào dẫn đến đau.

- Đau dây thần kinh V triệu chứng (đau thứ phát): là triệu chứng của các quá trình bệnh lý xảy ra ở ngay dây thần kinh hay ở tổ chức kế cận hoặc cơ quan có liên quan.

Nhiều tác giả cho rằng không có ranh giới giữa các dạng đau dây thần kinh V, mà tất cả chỉ thể hiện triệu chứng đau mà sự phát sinh của nó có thể rất khác nhau. Nó có thể xuất hiện do có sự thay đổi nào đó ở thần kinh ngoại vi hay ở thần kinh trung ương của dây thần kinh V.

Ngày nay đau dây thần kinh V được coi là một bệnh do nhiều căn nguyên, trong đó người ta kể đến: Hẹp lỗ xương chỗ thần kinh thoát ra; viêm dính màng não cứng ở vùng gần hạch Gasser; rối loạn vận chuyển dịch não tủy do viêm khoang dưới nhện cũ, do sự biến đổi các phần tử keo trong nhánh thần kinh và bệnh lý của cơ quan nhai.

Ở tuổi già đau dây thần kinh V thường phát sinh do thay đổi mạch máu nuôi dưỡng vỏ và sợi thần kinh bên trong. Đây là hậu quả của sự rối loạn quá trình cung cấp máu ở tuổi già. Quá trình này kéo dài sẽ dẫn đến teo dây thần kinh ngoại vi làm thay đổi lớp vỏ bọc ngoài và giảm số lượng sợi thần kinh ở bên trong. Thay vào đó là tổ chức liên kết đệm tăng sinh gây nên hiện tượng xơ cứng dây thần kinh.

2.1.2. Lâm sàng của đau dây thần kinh V:

* Đau dây thần kinh V là một bệnh mãn tính kéo dài mà biểu hiện chủ yếu là rối loạn cảm giác đau.

- Đau thành từng cơn: Lúc đầu cơn đau còn thưa, khoảng cách thời gian giữa hai cơn đau còn ngắn, sau cơn đau mau dần, từ chỗ 2 - 3 ngày một cơn, tăng lên 1 ngày một cơn, rồi đến 2 - 3 cơn một ngày. Đến giai đoạn cuối có thể thấy đau liên tục.

- Thời gian đau: Đau không nhất thiết vào một thời gian nào trong ngày, nhưng qua quan sát trên lâm sàng người ta thấy đau nhiều về đêm. Thời gian kéo dài của mỗi cơn đau cũng tăng dần từ một vài phút đến 20 - 30 phút một cơn cho đến đau kéo dài liên tục.

- Cường độ đau: Cường độ đau cũng khác nhau tùy theo từng giai đoạn, lúc đầu đau ít bệnh nhân có thể chịu đựng được, sau tăng dần lên đến mức đau như dao cắt, như đâm khoan, đau bỏng rát, đau như có dòng điện chạy qua.

Trong cơn đau bệnh nhân phải dùng tay ôm lấy mặt nhăn nhó liên tục. Ngoài cơn đau bệnh nhân cảm thấy nhẹ nhõm dễ chịu.

- Vị trí đau: Nhìn chung vị trí đau tương ứng với vùng mà nhánh thần kinh bị tổn thương chi phối. Khi ấn mạnh vào nhánh thần kinh bị tổn thương thấy cơn đau có thể tạm ngừng lại hoặc hết đau đột ngột. Khi bệnh đã kéo dài, có những cơn đau liên tục thì vị trí đau rất khó xác định. Lúc này đau có thể lan ra vùng lân cận, lan xuyên theo các hướng khác nhau, lan lên đầu rất khó xác định vùng chi phối cảm giác. Cần chú ý một số bệnh nhân cảm giác đau lan vào một số răng lành, làm cho cả bệnh nhân và bác sĩ nha khoa nhầm với cơn đau tủy cấp hay viêm quanh cuống cấp, nên đã dẫn đến xử lý tủy hoặc nhổ răng không đúng chỉ định. Sau khi điều trị răng bệnh nhân vẫn còn nguyên cảm giác đau.

* Đau kèm theo những rối loạn thần kinh thực vật: Ở nửa mặt đau thấy đỏ mặt, ra nhiều mồ hôi một cách rõ rệt so với bên không đau. Chảy nước mắt ở mắt cùng bên, có khi kèm theo đồng tử giãn. Tăng tiết nước bọt và nước mũi cùng bên, có khi bệnh nhân có cảm giác nề, tê bì một nửa mặt.

* Để chẩn đoán định khu nghi ngờ bị tổn thương, người ta tiến hành phong bế kiểm tra nhánh thần kinh đó bằng dung dịch Novocain 1%. Sau khi phong bế đau sẽ hết hoặc giảm hẳn trong thời gian thuốc còn tác dụng. Cần chú ý không được chọc mũi kim vào trong dây thần kinh mà chỉ phong bế xung quanh dây để tránh gây tổn thương cũng làm cho đau tăng lên.

2.1.3. Điều trị đau dây thần kinh V:

Điều trị đau dây thần kinh V được chia ra làm hai phương pháp: Điều trị bảo tồn và điều trị phẫu thuật:

a) Điều trị bảo tồn: Có thể áp dụng kết hợp các phương pháp sau:

- Dùng các thuốc chống viêm giảm đau toàn thân trong điều trị hội chứng dây rễ thần kinh.

- Cắt hoặc giảm quá trình dẫn truyền cảm giác đau từ ổ kích thích ngoại vi lên trung ương để cắt cung phản xạ đau. Phương pháp này có thể tiến hành:

+ Phong bế Novocain hoặc Lidocain nồng độ 0,5 - 1%. Theo Vedensky thì chỉ nên dùng thuốc có nồng độ thấp, không nên dùng loại 1,5 - 2% vì thấy kết quả kém. Người ta phong bế vào nhánh thần kinh chi phối vùng đau 5 - 10ml Novocain 0,5 - 1% và tiêm 2 - 3 lần trong một tuần. Mỗi đợt điều trị tiêm 15 - 20 lần. Theo một số tác giả cho biết có khi không đạt được kết quả ngay sau khi tiêm mà có khi 2 - 3 tuần sau khi ngừng tiêm mới có kết quả tốt.

+ Sử dụng thuốc làm giảm dẫn truyền ở các xi-nap.

Tegretol: liều dùng 100mg - 500mg/ngày. Dùng trong 2-3 tuần. Cần phải theo dõi công thức máu khi dùng thuốc.

Phelepcin: cũng dùng liều như Tegretol.

Có bệnh nhân có kết quả tốt với Tegretol, nhưng cũng có bệnh nhân có kết quả tốt với Phelepcin. Chỉ dùng một loại, không dùng kết hợp 2 loại trên.

Dùng kèm với Tegretol hoặc Phelepcin liều Pipolphen 0,025 × ½ ống, tiêm bắp sẽ tăng tácdụng của thuốc.

b) Điều trị phẫu thuật: Thực chất là sử dụng phương pháp phá hủy nhánh của V bị viêm:

- Tiêm xơ nhánh thần kinh V bằng cồn: Tiêm vào trong nhánh dây thần kinh V cồn 80% có pha Novocain hoặc Lidocain 2-4% để gây thoái hóa xơ dây thần kinh làm mất dẫn truyền cảm giác. Phương pháp này cũng được gọi là phương pháp cắt dây thần kinh bằng hóa chất. Liều tiêm 0,5ml cồn 80% đã pha Novocain 2%. Phải tiêm đúng trong dây thần kinh, nếu tiêm ngoài dây sẽ gây dính và kích thích càng làm cho đau tăng lên.

- Tiêm gây bỏng phá hủy dây thần kinh bằng 1 ml nước cất 2 lần đun sôi ở 100oC.

- Cắt phá hủy nhánh thần kinh V bằng cách bộc lộ dây, cắt đoạn và đốt đầu xa bằng dao điện hoặc hóa chất. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ thực hiện được ở cơ sở chuyên khoa có kết hợp với chuyên khoa phẫu thuật thần kinh.

2.2. VIÊM DÂY THẦN KINH V.

Trong lâm sàng, viêm dây thần kinh V có thể xảy ra do những nguyên nhân sau:

- Do viêm nhiễm tổ chức phần mềm hoặc xương có liên quan tại chỗ.

- Do nhiễm trùng toàn thân: sau bệnh cúm, sởi và một số bệnh virus khác.

- Do nhiễm độc hóa chất mãn tính, đặc biệt là nhiễm độc kim loại nặng như chì.

- Do chấn thương cơ học gây dập nát hoặc bị chèn ép bởi các mảnh xương gãy.

- Do trạng thái dị ứng với các yếu tố khác nhau. Đặc biệt chú ý đến những người có mang hàm giả hay gây phản ứng dị ứng của cơ thể.

2.2.1. Lâm sàng của viêm dây thần kinh V.

- Đau liên tục ở nhánh thần kinh chi phối khu vực. Đau tự phát thường xuyên âm ỉ, đau tăng khi tỳ ép vào nhánh thần kinh chi phối. Đau không thành cơn, không có cơn đau kịch phát.

- Kèm theo đau có những rối loạn cảm giác khác như tê ở một nhóm răng, tê ở bờ lợi, môi trên hoặc môi dưới... Đôi khi có hiện tượng dị cảm như kiến bò ở một vùng nào đó hoặc những cảm giác khó chịu khác.

- Khám thần kinh thấy có rối loạn cảm giác ở dạng tăng hoặc giảm liên tục. Những thay đổi cảm giác này rất khác nhau tùy thời điểm khám và tùy vị trí.

- Khi viêm dây thần kinh V rất hay có phản ứng của các răng liên quan. Thử phản ứng tủy răng bằng dòng điện có thể thấy giảm hoặc mất hẳn phản ứng tủy răng ở vùng thần kinh bị tổn thương chi phối.

- Ấn vào các điểm thoát ra, hoặc trên đường đi của các nhánh thần kinh thấy có điểm đau (điểm Valex). Nếu phong bế nhánh thần kinh bị viêm cùng giảm đau hoặc hết đau tạm thời.

2.2.2. Điều trị:

Điều trị viêm dây thần kinh V cần phải căn cứ vào các yếu tố gây bệnh và thực hiện các liệu pháp điều trị chống viêm.

a) Điều trị theo nguyên nhân:

- Điều trị các bệnh nhiễm trùng tại chỗ và lân cận, ngăn chặn lan tràn các ổ mủ vào vùng có nhánh dây thần kinh V. Chích tháo mủ kịp thời các ổ áp xe vùng hàm mặt.

- Điều trị tốt các bệnh nhiễm virus, tránh những biến chứng toàn thân do virus gây nên.

- Phòng tránh nhiễm các chất độc hóa học và kim loại nặng. Khi đã bị nhiễm độc cần được điều trị kịp thời và đúng phương pháp để tránh để lại hậu quả lâu dài.

Gỡ dính thần kinh, giải phóng chèn ép do các mảnh xương vụn gây thương tổn dập nát dây thần kinh V, nhất là nhánh thần kinh dưới ổ mắt.

b) Điều trị chống viêm: Gồm các biện pháp sau:

- Vật lý trị liệu: Có thể áp dụng các biện pháp sau:

+ Dùng sóng ngắn và hồng ngoại trong những trường hợp viêm nhiễm trùng tại chỗ.

+ Kích thích thần kinh bằng dòng điện một chiều: dưới tác dụng của dòng điện quá trình trao đổi chất sẽ tăng lên ở mô thần kinh và pH thay đổi chuyển hướng kiềm và quá trình tái sinh tổ chức thần kinh tăng lên.

+ Điện phân vitamin B1, Novocain, hoặc châm cứu (thủy châm) cũng có tác dụng điều trị viêm dây thần kinh V.

- Sử dụng các thuốc chống viêm giảm đau kết hợp với vitamin nhóm B liều cao.

Nhìn chung, viêm dây thần kinh V nếu được điều trị kịp thời hợp lý thường cho kết quả khả quan, có thể khỏi hoàn toàn.

3. BỆNH LÝ DÂY THẦN KINH VII

Trên lâm sàng hay gặp các loại tổn thương dây thần kinh mặt (dây thần kinh VII) ở mức độ khác nhau, trong số đó hay gặp hơn cả là “Viêm dây thần kinh” và “Chấn thương dây thần kinh VII” do các quá trình bệnh lý hay các nguyên nhân chấn thương khác nhau. Do dây thần kinh VII bị tổn thương nên xảy ra hiện tượng rối loạn vận động dưới dạng liệt nhẹ hoặc liệt hoàn toàn các cơ bám da mặt (cơ biểu hiện nét mặt).

Dây thần kinh mặt sau khi ra khỏi các ống và lỗ ở khu vực nền sọ đã chia ra một nhánh thần kinh tai sau chi phối các cơ vùng chẩm và tai.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tiếp theo là nhánh cho thân sau cơ nhị thân và một nhánh cho cơ trâm lưỡi. Ở tuyến nước bọt mang tai, thần kinh VII thường được chia ra hai nhánh chính là: nhánh thái dương mặt và nhánh cổ mặt. Hai nhánh này chia ra các nhánh ngang tạo thành đám rối mang tai. Từ đám rối mang tai cho ra các nhánh thái dương, nhánh gò má, nhánh má, nhánh mép và nhánh cổ. Tùy theo mức độ tổn thương của dây hay các nhánh mà trên lâm sàng có biểu hiện liệt các nhóm cơ bám da mặt ở mức độ khác nhau.

3.1. VIÊM DÂY THẦN KINH VII NGUYÊN PHÁT (LIỆT BELL).

Bệnh thường xảy ra đột ngột sau một số bệnh nhiễm khuẩn cấp như: Cúm, nhiễm các loại virus cấp, viêm họng cấp. Trong những trường hợp thường tiên lượng tốt, sau 1 - 3 tuần các triệu chứng dây thần kinh VII tạm thời sẽ hết cùng với thoái lui dần các bệnh chính.

Rối loạn chức năng thần kinh VII còn gặp trong các trường hợp nhiễm trùng ở xung quanh có liên quan dây thần kinh: viêm màng não, viêm màng nhện, viêm mủ tai giữa. Đôi khi viêm thần kinh mặt xảy ra ngay sau nhổ răng hàm lớn.

3.1.1. Triệu chứng lâm sàng:

Biểu hiện chủ yếu là liệt các cơ bám da mặt cùng bên ở mức độ khác nhau, không thể biểu hiện được nét mặt cục bộ hoặc toàn bộ. Các triệu chứng chính thường gặp là:

- Rãnh mũi má phẳng, mép sệ thấp, thường chảy nước bọt ra mép bên liệt.

- Miệng méo, mép bên lành bị kéo xếch lên cao ra ngoài.

- Mắt bên liệt nhắm không kín, khe mi rộng hơn bên lành.

- Mắt các nếp nhăn tự nhiên bên liệt.

- Cùng với những biểu hiện trên, đôi khi còn thấy có rối loạn cảm giác vị giác lưỡi cùng bên, tăng tiết nước bọt hoặc khô mắt. Một số tác giả còn thấy triệu chứng đau mặt xuất hiện ở những trường hợp liệt nhẹ. Người ta giải thích hiện tượng này bằng sự liên quan giữa dây thần kinh VII và dây thần kinh V.

3.1.2. Điều trị viêm dây thần kinh VII nguyên phát:

- Điều trị theo nguyên nhân: Trước hết người ta điều trị giải quyết các bệnh chính là nguyên nhân gây ra viêm dây thần kinh VII.

- Điều trị triệu chứng: Dùng các loại chống viêm, giảm phù nề, giảm đau (nếu cần).

- Liệu pháp vitamin nhóm B liều cao.

- Lý liệu pháp: Gồm các biện pháp: xoa bóp, chườm nóng tại chỗ (đắp Paraphin), dùng dòng điện một chiều kích thích các cơ bị liệt. Qua 5-6 ngày có thể điện phân hoặc dùng sóng ngắn.

Nhìn chung, viêm dây thần kinh VII nguyên phát điều trị thường đạt kết quả tốt nếu giải quyết tốt các nguyên nhân. Một số trường hợp viêm do biến chứng viêm màng não, viêm màng nhện hay viêm tai giữa thường để lại hậu quả nặng nề, một số trường hợp phải can thiệp phẫu thuật (Trình bày ở phần sau).

3. TỔN THƯƠNG DÂY THẦN KINH VII GÂY LIỆT MẶT NGOẠI VI

3.2.1. Nguyên nhân:

+ Sau viêm thần kinh VII không hồi phục.

+ Do chấn thương, vết thương vùng mang tai do dao chém, do vết thương gây dập nát và đứt dây thần kinh, do các loại hỏa khí gây dập nát hoặc mất đoạn.

+ Do phẫu thuật tuyến mang tai gây tổn thương một số nhánh (trong cắt u tuyến) hay cắt bỏ cả dây thần kinh VII cùng tuyến mang tai (trong K tuyến mang tai).

+ Do biến chứng trong phẫu thuật viêm tai xương chũm mạn tính hay một số phẫu thuật khác liên quan đến xương đá.

3.2.2. Lâm sàng:

Là triệu chứng dây thần kinh VII ngoại vi không hồi phục. Nếu tổn thương trước tuyến mang tai sẽ liệt toàn bộ nửa mặt. Nếu tổn thương sau tuyến có thể liệt toàn bộ hoặc liệt cục bộ tùy theo nhánh thần kinh bị thương tổn.

3.2.3. Các phương pháp điều trị phẫu thuật:

* Khâu nối thần kinh:

Cần tiến hành sớm ngay sau khi bị chấn thương, vết thương gây đứt thần kinh. Khâu nối càng sớm kết quả càng tốt. Những biến chứng gây đứt thần kinh (hoặc các nhánh) cần khâu nối ngay trong phẫu thuật.

Đối với những trường hợp mất đoạn dây thần kinh không còn khả năng phẫu tích kéo hai đầu áp sát để khâu nối, người ta tiến hành ghép dây thần kinh VII bằng một đoạn dây thần kinh hiển ngoài. Việc khâu nối hay ghép dây thần kinh cần tiến hành dưới kính hiển vi phẫu thuật với kỹ thuật vi phẫu.

* Các phương pháp phẫu thuật tạo hình da:

Các phương pháp này chủ yếu tác động trên da bên bị liệt bằng các thủ thuật tạo hình nhằm tạo nên sự cân đối tạm thời cho các cơ quan bộ phận bị lệch lạc. Những thủ thuật tạo hình thường được áp dụng gồm:

- Khâu thu hẹp khe mi bên mắt bị liệt không nhắm kín. Kết quả chỉ tạo được sự cân đối hai mắt khi ở tư thế tĩnh, còn khi nhắm mắt khe mi vẫn còn hở một phần.

- Tạo hình bằng vạt da xoay từ rãnh mũi má bên liệt đã bị trễ xuống dưới. Kết quả của phẫu thuật này cũng rất hạn chế.

- Làm phẫu thuật căng da mặt cục bộ bên liệt để hỗ trợ cho thủ thuật trên.

* Các thủ thuật kéo treo tĩnh:

Các phương pháp tạo hình da thường đem lại kết quả rất ít, nên một số tác giả đã sử dụng các dải cân đùi để kéo và treo các cơ bên liệt gồm:

- Hai dải cân đùi xẻ đôi kéo thu hẹp khe mi.

- Dùng cân đùi xẻ đôi cố định vào cơ vòng môi từ mép bên lành sang mép bên liệt, co kéo treo mép lên hướng cung gò má hoặc vào rễ cân thái dương ở gần mỏng vẹt. Kỹ thuật này thường kết hợp với thủ thuật tạo hình vạt da xoay rãnh mũi má. Phương pháp này thường đem lại kết quả khả quan hơn.

* Các thủ thuật treo động:

Phương pháp này không sử dụng cân đùi mà sử dụng các cơ cắn, cơ thái dương để treo. Người ta tách một phần cơ, cắt đứt đầu xa, xoay xuống hoặc sang bên khâu dính vào các cơ vòng môi, cơ mút bên liệt để kéo chính cho cân đối. Do một phần các cơ thái dương hoặc cơ cắn vẫn còn sự chỉ huy của thần kinh (nhánh vận động của dây thần kinh V) nên khi các cơ này vận động sẽ kéo theo môi, mép, má bên liệt vận động tạo cho bệnh nhân có biểu hiện nét mặt ở một mứcđộ nào đó. Tuy nhiên phương pháp này cũng chỉ đạt ở mức độ nhất định do số lượng cơ lấy hạn chế, độ dài cơ không thể đưa qua mép bên lành và sau một thời gian các dải cơ có thể bị xơ hóa dần do dính hoặc nhánh thần kinh chi phối không còn tác dụng.

* Tạo hình vi phẫu thần kinh - cơ:

Đây là phương pháp sử dụng kỹ thuật vi phẫu để nối ghép thần kinh có kết hợp tạo hình ghép cơ để phục hồi cơ bám da mặt chính giúp cho bệnh nhân thể hiện nét mặt. Kỹ thuật này được thực hiện tùy theo mức độ tổn thương thần kinh và mức độ thoái hóa các cơ biểu hiện nét mặt, tùy theo thời gian thương tổn thần kinh dài hay ngắn.

- Trường hợp 1: với những tổn thương thần kinh còn mới, các cơ biểu hiện nét mặt chưa thoái hóa, còn đáp ứng với kích thích của dòng điện một chiều, người ta tiến hành phẫu thuậtở các mức độ sau:

+ Nối lại hai đầu dây thần kinh bị đứt nếu có thể bằng kỹ thuật vi phẫu.

+ Ghép lại đoạn thần kinh vào giữa hai đầu dây đứt nếu không thể kéo nối trước tiếp hai đầu đứt.

- Trường hợp 2: Nếu dây thần kinh VII tổn thương không cho ghép nối hoặc ghép thần kinh trực tiếp cùng bên mà cơ biểu hiện nét mặt còn tốt thì tiến hành ghép thần kinh xuyên mặt: lấy một đoạn dây thần kinh hiển ngoài; bộc lộ một nhánh dây thần kinh VII bên lành (nhánh này không đóng vai trò quan trọng đối với cơ); khâu nối đầu gần đoạn dây hiển ngoài vào đầu của nhánh thần kinh mặt. Tạo một đường hầm từ chỗ nối thần kinh xuyên ngang qua dưới da môi trên sang bên bị liệt dây thần kinh VII. Tách đầu xa đoạn thần kinh hiển ngoài đã được luồn sang bên liệt, bộc lộ các cơ bám da mặt và cơ vòng môi, khâu dính các phần nhánh thần kinh ở đầu dây đã được tách ra vào các cơ này. Đợi một thời gian thần kinh phục hồi sẽ chỉ huy vận động của các cơ thể hiện nét mặt đã được đính thần kinh vào.

- Trường hợp 3: Khi dây tổn thương đã bị thoái hóa, kèm theo thoái hóa các cơ bám da mặt không hồi phục phải kết hợp nối ghép thần kinh xuyên mặt với ghép cơ.

+ Kỹ thuật nối ghép thần kinh xuyên mặt được tiến hành như mô tả ở trên.

+ Kỹ thuật ghép cơ để thay thế cho một số cơ bám da mặt được thực hiện như sau: Bộc lộ đùi, lấy cơ thon lên, một đầu cơ gắn vào một vị trí cố định, đầu kia chia ra các nhánh khâu dính vào cơ vòng môi và một số cơ bám da khác. (cơ mút, cơ cười...). Khâu dính đầu dây thần kinh xuyên mặt vào cơ thon đã được chuẩn bị. Sau 6 tháng - 1 năm thần kinh hồi phục sẽ chỉ huy cơ thon giúp cho bệnh nhân phục hồi khả năng biểu hiện nét mặt.

 

Tài liệu tham khảo:

- Bài giảng Răng hàm mặt tập 1,2,3 Trường Đại học y Hà nội.

- Giáo trình: Phẫu thuật Hàm mặt. Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân. 2010.

 

TS. BSCKII. Lê Đức Tuấn

Dịch vụ thiết kế website wordpress