Đồng vị phóng xạ (ĐVPX) có thể ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị. Trong chẩn đoán bao gồm cả in vitro và in vivo. In vitro có phương pháp RIA và IRMA để định lượng các nội tiết tố, các dấu ấn ung thư như AFP, CEA... Trong chẩn đoán in vivo điển hình nhất là ghi hình phóng xạ.
1/ Dược chất phóng xạ trong chẩn đoán và điều trị
Nguyên lý của ứng dụng ĐVPX trong y học hạt nhân: Hevesy (giải thưởng Nobel hoá học 1943) cho biết các ĐVPX khi vào cơ thể tham gia vào các quá trình sinh lý (chuyển hoá, phân bố, thải trừ) giống như đồng vị thường, không gây ra các tác dụng dược lý.
ĐVPX + chất mang = dược chất phóng xạ (thuốc phóng xạ) (DCPX). DCPX ở dạng uống hoặc tiêm, có thể ở dạng khí. 133Xe ở dạng khí dùng trong đánh giá thông khí phổi, dạng dung dịch như NaI, dạng keo hạt của các muối vô cơ, dạng huyền phù, nhũ tương của các phân tử hữu cơ...
Tuỳ mục đích, cơ quan cần chẩn đoán mà dùng chất mang khác nhau. Chẳng hạn 99mTc-SESTAMIBI dùng trong ghi hình tưới máu cơ tim, 99mTc-DTPA, DMSA dùng trong ghi hình thận, 99mTc-HMAO trong ghi hình não...
- Các đặc trưng của DCPX:
+ Loại bức xạ: Trong ghi hình bằng thiết bị SPECT (Single Photon Emission Tomography) DCPX lý tưởng là chất phát tia gamma đơn thuần, do phân rã theo kiểu bắt điện tử hoặc do chuyển trạng thái từ cận ổn định về ổn định. Các dược chất có bức xạ alpha và beta sẽ không tốt trong ghi hình vì những bức xạ này có khả năng ion hoá mạnh làm cho các mô bị tổn thương, mặc dù có thể có một số bức xạ xuyên qua được cơ thể nhưng không vào được các thiết bị ghi đo, nên không ghi hình được.
Trong ghi hình bằng thiết bị PET (Positron Emission Tomography) DCPX được dùng nhiều nhất là 18FDG.
+ Năng lượng: để ghi hình tốt trên máy ghi hình SPECT, chất phóng xạ lý tưởng phải có năng lượng bức xạ từ 100 keV đến 250keV, phù hợp với thiết kế của máy SPECT. Mặc dù vậy, thực tế lâm sàng, có những chất có năng lượng cao hơn hoặc thấp hơn vẫn phải dùng, không thay thế được. 201Tl, 133Xe có năng lượng 70 đến 80 keV, 131I và 67Ga có năng lượng 364 keV và 300 keV là những chất hay dùng trong chẩn đoán. Về mặt năng lượng thì thích hợp hơn cả là 99mTc, 111In, 123I.
+ Tính khả dụng: DCPX cần có đời sống không quá ngắn để có thể vận chuyển thuận lợi từ nơi sản xuất tới nơi sử dụng, giá cả phải chăng, phù hợp với điều kiện kinh tế của bệnh nhân.
+ Tỷ số đích - không đích: tỷ số đích - không đích cao mới tốt, nghĩa là DCPX phải vào nhiều ở nơi cần ghi hình ảnh so với các nơi khác trong cơ thể. Nếu tỷ số đích- không đích thấp hơn yêu cầu tối thiểu (tỷ số 5:1 là tối thiểu để ghi hình phẳng, 2:1 là tối thiểu để xạ hình cắt lớp SPECT) thì hình ảnh xạ hình sẽ không có giá trị chẩn đoán vì khó phân biệt giữa vùng bệnh lý và không bệnh lý. Tuỳ cơ quan cần chẩn đoán để lựa chọn chất gắn với phóng xạ thích hợp sao cho chúng phải có tính tập trung đặc hiệu cao. Sự tập trung thuốc phóng xạ vào đích có thể theo các cơ chế sau:
- Vận chuyển tích cực: Trong cơ thể sống, sự phân bố nồng độ một số chất có sự chênh lệch nồng độ do có sự vận chuyển ngược gradient nồng độ, từ nơi có nồng độ thấp đến nơi có nồng độ cao. Nhờ cơ chế này mà iốt phóng xạ khi vào cơ thể có thể tập trung ở tuyến giáp cao hơn hàng trăm lần so với ngoài tuyến.
- Khuếch tán: chẳng hạn khi não có tổn thương, hàng rào máu não bị phá vỡ, thuốc phóng xạ như albumin huyết thanh người đánh dấu 131I hoặc Na99mTcO4 có thể khuếch tán từ mao mạch vào vùng não tổn thương.
- Chuyển hoá: Một số đồng vị phóng xạ ở dạng muối vô cơ hoặc hữu cơ tham gia vào chuyển hoá, chẳng hạn một số hợp chất hữu cơ như deoxyglucosa đánh dấu 18F (18FDG) dùng trong ghi hình cắt lớp não, các khối u trong cơ thể bằng PET dựa trên cơ chế tăng chuyển hoá ở vùng tổn thương. Não là cơ quan tiêu thụ glucose lớn nhất trong cơ thể. Khi một vùng của não có biến đổi về chức năng, giảm tiêu thụ glucose (bệnh Alzheimer, Dementia...) xảy ra trước những biến đổi cấu trúc, PET phát hiện tổn thương sớm hơn.
Tế bào khối u ung thường tiêu thụ glucose nhiều hơn tế bào lành do tăng phân chia tế bào, tăng hoạt tính men hexokinase, tăng hoạt tính của các chất vận chuyển GLUT, do đó FDG sẽ tập trung cao ở khối u, hình ảnh ghi hình phóng xạ là những ổ tập trung phóng xạ cao (ổ nóng). Nhờ vậy mà ghi hình PET bằng FDG phát hiện được các khối u ung thư, phân giai đoạn bệnh cũng như đánh giá hiệu quả điều trị (xạ trị, hóa trị...).

- Lắng đọng: một số chất phóng xạ dạng keo hạt có trọng lượng phân tử và hạt keo rất nặng. Khi các hạt keo đi từ động mạch vào vi mạch trong gian bào do vận tốc dòng máu chậm, chúng sẽ bị lắng đọng. Keo vàng phóng xạ (198Au colloid) có thể dùng ghi hình lách, hệ bạch mạch, điều trị ung thư bạch mạch...
- Đào thải: hai cơ quan đào thải lớn nhất là gan và thận. Người ta dùng những chất thải qua gan gắn với phóng xạ để chẩn đoán chức năng gan mật như Rose Bengal 131I. Thuốc chẩn đoán chức năng thận như Hippuran-131I trước đây hay hiện nay là DTPA, MAG3 đánh dấu 99mTc.
Ngoài ra, còn một số cơ chế khác như thực bào, tắc nghẽn vi mạch tạm thời, miễn dịch (gắn với kháng thể đặc hiệu), chất nhận đặc hiệu... Cũng có một số chất tập trung cao ở khối u mà chưa rõ cơ chế chẳng hạn như 67Ga, 201Tl...
Đặc trưng của một số ĐVPX dùng trong ghi hình SPECT

Có nhiều nguyên nhân làm giảm tỷ số đích - không đích: do DCPX không thích hợp, do kỹ thuật... Đặc biệt phải chú ý nguyên nhân ở cơ thể người bệnh, ví dụ người bị bệnh TG đang dùng các chất có nhiều nội tiết tố T3, T4 hoặc dùng các thuốc cản quang, phải chờ một thời gian cho hết thuốc mới ghi được hình tuyến giáp bằng 131I (tuyến giáp bị phong bế, chất phóng xạ không vào được).
99mTc được coi là một DCPX tốt vì nó có khả năng liên kết với nhiều hợp chất trong điều kiện sinh lý bình thường. 99mTc có thể tạo thành hợp chất với nhiều loại, từ các phân tử đơn giản như pyrophosphat tới các chất hữu cơ nhóm đường như glucoheptonat, từ peptide đến các kháng thể, từ các dạng colloid không hoà tan tới các kháng sinh và nhiều hợp chất khác nữa.
2. Chẩn đoán bệnh in vivo bằng ghi hình phóng xạ
2.1 Hình ảnh YHHN- hình ảnh chức năng – sự phân bố ĐVPX
- Một số phương pháp chẩn đoán hình ảnh y học:
* X quang: phổ biến nhất, ghi lại sự làm yếu chùm tia X (10 – 150keV) khi đi qua cơ thể.
CT: X quang cắt lớp cho phép có được hình ảnh với độ phân giải không gian cao (<1mm).
Cộng hưởng từ: (MRI): hình ảnh sự phân bố mật độ proton trong cơ thể.
Siêu âm: hình ảnh của sóng siêu âm phản hồi.
Xạ hình (Scintigraphy) hay ghi hình phóng xạ là phương pháp ghi hình ảnh sự phân bố của đồng vị phóng xạ bên trong các phủ tạng bằng cách đo hoạt độ phóng xạ của chúng từ bên ngoài cơ thể nhờ máy xạ hình. Trước đây là loại máy xạ hình vạch thẳng có đầu dò di động (Scanner) và máy Gamma camera (đầu dò không di động). Gamma camera có đầu dò lớn, bao quát được một vùng rộng lớn của cơ thể nên có thể ghi đồng thời hoạt độ phóng xạ của toàn phủ tạng. SPECT (Single Photon Emision Computed Tomography) là gamma camera có thể quay 360 độ, cho phép ghi hình cắt lớp được.
Từ những năm 1980, SPECT có vai trò ngày càng to lớn trong chẩn đoán thần kinh, tim mạch, trong chẩn đoán, đánh giá hiệu quả điều trị ung thư, phân giai đoạn bệnh...
Ngày nay, ngoài gamma camera và SPECT, trong Y học hạt nhân còn ứng dụng kỹ thuật PET (Positron Emision Tomography) để ghi hình.
Kết hợp giữa hình ảnh chức năng và hình ảnh cấu trúc nhờ các thiết bị mới đó là SPECT/CT, PET/CT.
Ghi hình không chỉ là phương pháp chẩn đoán hình ảnh đơn thuần về hình thái mà còn đánh giá được chức năng của cơ quan, phủ tạng và một số biến đổi bệnh lý khác.
2.2 Một số chỉ định ghi hình phóng xạ
2.2.1 Ghi hình tuyến giáp
Ghi hình TG thường được chỉ định cho các trường hợp:
- Xác định vị trí, hình dạng, kích thước của tuyến (TG lạc chỗ)
- Xác định tình trạng chức năng của nhân TG (nhân nóng, nhân lạnh).
- Đánh giá trước và sau phẫu thuật ung thư TG để theo dõi điều trị.
- Chẩn đoán phân biệt các u vùng cổ và trung thất.
Dược chất phóng xạ:
- 123I: chất dùng tốt nhất trong chẩn đoán (ghi hình tốt).
Năng lượng: 160 keV. Phát tia gamma đơn thuần, T1/2: 13h.
Liều dùng: 0,2 – 0,4Ci, tiêm tĩnh mạch, có thể uống. Liều hấp thu xạ ở TG: 1% của 131I.
- 131I: phát ra tia gamma (364 keV) và tia beta. T1/2 = 8 ngày.
Liều dùng: 50-100 MicroCi tiêm tĩnh mạch hoặc uống.
Đư ợc dùng nhiều vì thuận tiện và không đắt tiền.
- 99mTc: phát tia gamma đơn thuần (140 keV), T1/2: 6h.
Liều dùng: 5 mCi, tiêm tĩnh mạch.
Ghi hình: phút thứ 15 - 20 sau khi tiêm.
Không hữu cơ hoá được như iốt, nhưng thâm nhập được vào nhân trong những phút đầu, vì vậy một số nhân lạnh với iốt thì có thể là nhân nóng hoặc nhân ấm với 99mTc.
Để phát hiện di căn ung thư TG sau phẫu thuật thì ghi hình bằng 131I, 123I tốt hơn 99mTc. Dùng 99mTc có thể tới 16% âm tính giả. 99mTc phân bố cả vào tuyến nước bọt, có thể vào thực quản, làm cho hình ảnh TG bị nhoè rất khó phân biệt.
201Tl: TG bình thường, adenoma tuyến giáp, adenoma tuyến cận giáp và một số u khác đều tập trung 201Tl. U lành thì thời gian lưu 201Tl trong u ngắn hơn u ác. Lợi ích của 201Tl là không cần phải ngừng điều trị bằng T4 trước khi xạ hình. 201Tl có thể ghi hình được các di căn của ung thư thể nhú khi mà xạ hình bằng iốt phóng xạ không kết quả.

2.2.2 Ghi hình tưới máu cơ tim
Ghi hình tưới máu cơ tim dựa trên nguyên lý chung là một số ĐVPX hoặc một số chất được gắn với ĐVPX khi vào cơ thể theo dòng máu nuôi dưỡng cơ tim và được lưu giữ trong cơ tim một thời gian, chúng phát bức xạ gamma, nhờ đó có thể ghi được hình ảnh sự phân bố các ĐVPX trong cơ tim. Những vùng tưới máu kém hoặc không được tưới máu sẽ giảm hoặc khuyết phóng xạ. Để đánh giá chính xác tình trạng tưới máu cơ tim, người ta thường tiến hành ghi hình ở trạng thái nghỉ và gắng sức. Như vậy, ghi hình tưới máu cơ tim sẽ cho biết tình trạng cấp máu, tình trạng hoạt động và khả năng sống từng vùng của cơ tim.
+ Dược chất phóng xạ dùng cho ghi hình:
-Thallium-201: là chất ghi hình tưới máu cơ tim chuẩn từ 20 năm nay. Tuy nhiên 201Tl có một số nhược điểm. Thời gian bán rã tương đối dài: 73h, phân rã theo cơ chế bắt điện tử nên có nhiều tia X đặc tính năng lượng thấp: 68-83 keV, ghi hình không thuận lợi. Những photon năng lượng thấp đó sẽ bị một số mô của cơ thể làm giảm yếu đáng kể như: thành ngực, vú, cơ hoành, vì vậy sẽ có thể có những chỗ dễ nhầm với ổ thiếu máu của tim.
201Tl thâm nhập tế bào bằng khuếch tán thụ động và phụ thuộc năng lượng ATP. Sự tích tụ 201Tl ở cơ tim phụ thuộc vào dòng máu đến và hoạt năng của cơ tim. Nếu dòng máu đến ít có thể thấy ổ khuyết vì máu không cung cấp đủ hoặc vì các mô thiếu máu không bắt giữ được 201Tl do thiếu men ATP. Trong điều kiện sinh lý bình thường, dòng máu đến nhiều thì cơ tim càng bắt giữ được nhiều 201Tl. Trong những điều kiện như luyện tập gắng sức hoặc tiêm thuốc dãn mạch, dòng máu đến nhiều quá, cơ tim bắt giữ 201Tl sẽ ít hơn, hoặc khi tế bào thiếu oxy thì 201Tl không vào được cơ tim. Nếu cơ tim bị hoại tử hoặc tổn thương nặng, 201Tl cũng không vào được.
- Các chất đánh dấu bằng 99mTc:
Hiện nay, để ghi hình tưới máu cơ tim, người ta hay dùng những chất sau: 99mTc -sestamibi, 99mTc -teboroxim, 99mTc-diphosphin (tetrofosmin).

.99mTc-sestamibi: khu trú vào bên trong các ty lạp thể (mitochondria), sestamibi và tetrofosmin đều tập trung ở cơ tim ít hơn thallium, nhưng lại tồn đọng lâu hơn trong cơ tim, chậm bị thải ra so với thallium. Ngược lại, 99mTc- teboroxim được hấp thu nhiều trong cơ tim nhưng lại bị thải ra nhanh.

chất của acid boronic gắn với dioxim của technetium. Đặc điểm của chất này là hấp thu nhanh vào tim, phổi, nhưng cũng thải ra nhanh, bắt giữ trong gan và thải qua đường gan-mật. Vì vậy phải dùng kỹ thuật ghi hình nhanh. Nếu ghi hình phẳng thì phải trong 5 phút đầu tiên, nếu là SPECT phải dùng loại nhiều đầu dò để ghi hình trong 3-4 phút.
Phân tích kết quả
Bình thường có sự phân bố hoạt độ phóng xạ đồng đều tương đương với việc cơ tim được tưới máu đồng đều cả khi nghỉ cũng như khi gắng sức.
Vùng giảm hoạt độ phóng xạ thường gặp trong thiếu máu cơ tim, mức độ giảm tỉ lệ với mức độ thiếu máu.
Vùng khuyết hoạt độ phóng xạ ứng với vùng được tưới máu ít hoặc không được tưới máu do bị nhồi máu (hoặc sẹo cơ tim).
Nếu ở trạng thái nghỉ hoạt độ phóng xạ phân bố bình thường, còn ở trạng thái gắng sức thấy giảm hoạt độ, thường là vùng cơ tim giảm hoạt động hoặc không hoạt động. Thông tin này rất có ích cho chỉ định can thiệp ngoại khoa hoặc can thiệp mạch vành.
Nếu cả khi gắng sức và khi nghỉ vẫn thấy khuyết hoạt độ phóng xạ: có thể do ổ nhồi máu. Tuy nhiên cần chú ý ở phụ nữ có thành ngực dày dễ nhầm với thiếu máu cơ tim vách liên thất, phần đỉnh của vách liên thất do có cấu tạo dạng sợi nên tưới máu kém hơn các vùng khác.

Ngoài những ứng dụng trên, có thể ghi hình phát hiện các khối u. Theo nguyên lý khối u tăng sinh tế bào, tăng mức chuyển hoá, tăng tưới máu, có các kháng nguyên bề mặt đặc hiệu. Do đó có thể ghi hình khối u bằng 67Ga; 201Tl; 99mTc-MIBI; 18FDG. Chẳng hạn 67Ga gắn với transferin sẽ tích tụ ở rất nhiều khối u ác tính khác nhau: u thần kinh, di căn u thần kinh, các ổ viêm, lymphomas, ung thư phổi, ung thư gan, dạ dày...
2.2.3 Ghi hình thận
Để ghi hình thận người ta thường sử dụng các DCPX phát tia gamma, được hấp thu nhanh ở thận, tham gia vào quá trình lọc ở cầu thận, chế tiết và bài xuất ở ống thận. Chúng được lưu giữ một thời gian đủ dài trong tổ chức thận cho phép có thể ghi lại sự phân bố hoạt tính phóng xạ trong thận.
+ Các chất ghi hình chức năng (Thận đồ đong vị):
- 131I-hippuran, 99mTc-MAG3 và 99mTc-DTPA.131I-hippuran hiện nay không được ứng dụng nhiều, vì phải dùng ống chuẩn trực năng lượng cao và liều dùng không quá 100 MicroCi, do năng lượng gamma lớn, chiếu xạ nhiều cho bệnh nhân. Những lý do trên làm cho hình ảnh ghi được không đạt chất lượng cao.
- 99mTc-MAG3 được dùng ghi hình chức năng thay thế hippuran. Khác với hippuran, MAG3 được hấp thu rất nhanh vào hồng cầu. 99mTc-MAG3 có ưu điểm là cho hình ảnh với chất lượng cao.
99mTc-DTPA thoát ra khỏi huyết tương bằng cách hầu như duy nhất là lọc qua cầu thận, vì vậy là chất đo mức lọc cầu thận (glomerular filtration rate-GFR) tốt nhất.
+ Ghi hình hình thận (Chụp xạ hình thận):
- 99mTc-DMSA (Dimercaptosuccinic acid) và 99mTc-glucoheptonat là những DCPX ghi hình thái, bởi nó được tích tụ trong thận nhờ một cơ chế tương tác hỗn hợp: dòng máu đến, GFR, chế tiết của ống thận và hấp thu của ống thận. Phần lớn DMSA đợc tiết ra từ tế bào ống lượn gần, hoạt độ ở tế bào ống lượn xa và quai Henle là rất ít. Khoảng 30%-50% DMSA được giữ trong nhu mô thận trong vòng 1h, glucoheptonat chỉ được giữ trong nhu mô khoảng 5%-10%.
2.2.4 Ghi hình não
Bình thường, hàng rào máu não làm nhiệm vụ ngăn cản, không cho phần lớn các ion từ máu thâm nhập vào tổ chức não. Hàng rào máu não có thể bị tổn thương do sang chấn, thiếu máu, áp xe, u ung thư... khi đó các chất trong máu có thể thâm nhập vào vùng tổn thương. Nếu dược chất phóng xạ là loại không qua hàng rào máu não lúc bình thường, khi bị tổn thương chúng sẽ xuất hiện trong khoang ngoài tế bào tạo thành “điểm nóng” có hoạt tính phóng xạ cao hơn so với tổ chức xung quanh, cho phép có thể phát hiện qua ghi hình não. Còn nếu dùng các dược chất phóng xạ mà trong điều kiện tổ chức não bình thường chúng vẫn đi qua được, phân bố đều trong tổ chức não thì khi có vùng bị tổn thương sẽ tương ứng với vùng giảm hoặc khuyết phóng xạ.
+ DCPX không thâm nhập BBB:
- 99mTc –pertechnetate: E =140 keV; T1/2 = 6h; liều dùng 15-20 mCi. Chất phóng xạ sẽ tập trung vào đám rối mạch và vì vậy phải phong bế bằng cách cho uống potassium perchlorate (0,75-1g) trong vòng một giờ kể từ khi tiêm DCPX (có tài liệu cho rằng nên uống ngay trước khi tiêm DCPX).
- 99mTc- DTPA: ghi hình tối ưu lúc 0,5 - 1h sau khi tiêm.
- 99mTc-glucoheptonate (GHA): ghi hình tối ưu lúc 1-4h sau khi tiêm.
- 67Ga citrate: E = 92; 187; 296; 388 keV; T1/2 = 78h; liều dùng 3-6 mCi; ghi hình tối u: sau 24-72h, dùng trong trường hợp nghi viêm.
- 201Tl chloride: E = 80; 135; 167 keV; T1/2 = 73h; liều dùng: 2-3 mCi; ghi hình: ngay sau khi tiêm, dùng để phát hiện di căn ung thư. Chất này có thể hiện hình các ung thư gần xương và ở vùng nền sọ mà đôi khi CT khó phân biệt.
- 99mTc phosphonate (MDP, HDP): liều dùng 15-20 mCi, ghi hình lúc 0,5-1h sau khi tiêm, dùng để chẩn đoán nhồi máu.
+ DCPX thâm nhập được vào BBB
- 133Xe: thể khí, E = 81 keV; T1/2 = 127h; liều 0,5 - 10 mCi; ghi hình ngay sau khi đưa vào, dùng để nghiên cứu dòng máu não từng vùng (regional cerebral blood flow - rCBF).
- 123I- iodoamphetamine (IMP) và 123I- HIPDM: E =159 keV; T1/2 =13,3h; liều dùng: 3-5 mCi; ghi hình tối ưu: 0,5 - 1h sau khi tiêm.
- 99mTc- HMPAO (hexamethylpropyleneamine oxime): liều dùng 20 mCi, ghi hình: 0,25-3h.
- 99mTc-N, N'-1,2-ethylenediylbis-L-cysteine diethylester (ECD), còn có tên là ethyl cysteinate dimer: liều dùng 30 mCi, ghi hình 0,25 - 3h sau khi tiêm.
2.2.5 Ghi hình xương
Ghi hình xương được chỉ định để phát hiện vùng tăng sinh xương, gãy xương (nhất là gãy kín trên X quang không phát hiện được); u xương, cốt tuỷ viêm, khớp giả..., Technetium gắn với phosphate (99mTc-MDP) sẽ tập trung cao ở xương. Ung thư xương tăng tưới máu, tăng chuyển hoá, tăng tạo cốt bào, các phân tử MDP đến nhiều hơn, cho nên hoạt tính phóng xạ ở đó sẽ cao hơn (điểm nóng). Ghi hình toàn bộ bộ xương rất có giá trị chẩn đoán ung thư di căn xương.
Câu hỏi ôn tập
1/ ĐVPX - DCPX dùng trong chẩn đoán và điều trị: tính chất, chất tải, cách thức đưa ĐVPX đến cơ quan đích?
2/ Nêu ưu nhược điểm của ghi hình phóng xạ? cho ví dụ cụ thể bằng ghi hình trong chẩn đoán bệnh lý tuyến giáp?
3/ Vai trò của xạ hình trong chẩn đoán, điều trị ung thư?
4/ Vai trò của xạ hình SPECT trong chẩn đoán thiếu máu cơ tim?
Tài liệu tham khảo
1/ Nguyễn Xuân Phách và CS (2004): Giáo trình Y học hạt nhân. Nxb Quân đội
nhân dân.
2/ Bài giảng Y học hạt nhân (2000), Đại học y Hà Nội, Nxb Y học.
3/ Janet F. (2007.) Nuclear Medicine Therapy. INFORMA Healthcare USA Inc.
4/ Baert A.L.; Sartor K (2006).: Diagnostic Nuclear Medicine, Springer Verlag.









