Tóm tắt: Nghiên cứu chất lượng giấc ngủ của 153 bệnh nhân bệnh lý tế bào nguồn tạo máu và 65 bệnh nhân chọn làm nhóm đối chứng, dựa và thanh đánh giá chất lượng giấc ngủ (Pittsbursh Sleep Quality Index –PSQI) nhóm tác giả rút ra một số kết luận:
1- Đặc điểm rối loạn chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân bệnh lý tế bào nguồn tạo máu.
Rối loạn chất lượng giấc ngủ ở bệnh nhân bệnh lý tế bào nguồn tạo máu là 82,35% với chỉ số PSQI trung bình là: 10,92 ± 4,52. Tỷ lệ bệnh nhân có chỉ số PSQI trung bình trên 10 là 61,44% - cao hơn nhóm 2 có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Tỷ lệ rối loạn chất lượng giấc ngủ cao nhất là các bệnh: đa u tủy xương (100%), bệnh u lympho ác tính (93,19%) và bệnh bạch cầu cấp (84,09%). Dạng rối loạn chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân bệnh lý tế bào nguồn tạo máu thường gặp là ác mộng: chiếm 22,22%- cao hơn nhóm 2 có ý nghĩa thống kê với p<0,05
2- Mối liên quan giữa chỉ số PSQI với đặc điểm bệnh, tình trạng thiếu máu và chỉ số toàn trạng ECOG
Chỉ số PSQI trung bình tăng theo mức độ thiếu máu, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chỉ số PSQI giữa bệnh nhân không thiếu máu và những bệnh nhân có thiếu máu. Chỉ số PSQI tăng đồng thời với sự tăng của chỉ số ECOG.
* Bệnh viện 103 ** Cục quân y
Disorders of the sleep quality of patients with hematopoietic stem cells
Dr. Nghiem Thi Minh Chau *. Dr. Nguyen Minh Hieu et al **
Abstract: The quality of sleep study of 153 patients with pathological hematopoietic stem cells and 65 patients selected as the control group, use the rated quality of sleep (Sleep Quality Index-PSQI Pittsbursh) the authors draw some conclusions:
1 - Characteristics of quality of sleep disorders of patients with pathological hematopoietic stem cells.
Quality of sleep disturbances in patients with pathological hematopoietic stem cells is 82.35% with average PSQI index: 10.92 ± 4.52. The percentage of patients with PSQI average index of 10 is 61.44% - higher than group 2 is statistically significant (p <0.05). Prevalence of the highest quality of sleep is the disease: multiple myeloma (100%), malignant lymphoma (93.19%) and acute leukemia (84.09%). Disorder sleep quality of patients with diseases of blood cells is a frequent source of nightmares: accounting for 22.22% - higher than group 2 had statistically significant with p <0.05.
2 - The relationship between the characteristics PSQI index disease, anemia and ECOG status indicators all.
PSQI average index increased the severity of anemia, a significant difference statistically between the PSQI index patients without anemia and in patients with anemia. PSQI index increases with the increase of the index ECOG.
1- Đặt vấn đề
Bệnh lý tế bào nguồn tạo máu hay còn gọi là bệnh lý đơn dòng. Nhóm bệnh lý này bao gồm bệnh lý tại tủy và bệnh lý ngoài tủy [5]. Bệnh nhân thường phải chịu đựng một street rất lớn khi biết được chẩn đoán, điều này là một trong những nguyên nhân gây nên rối loạn chất lượng giấc ngủ cho người bệnh [3].
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), rối loạn giấc ngủ là một vấn đề cực kỳ nghiêm trọng của thế kỷ 21. Rối loạn giấc ngủ gây nhiều hậu quả tai hại đến sức khỏe, tâm lý, khả năng làm việc của bệnh nhân… làm giảm chất lượng cuộc sống, làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả điều trị bệnh chính.
Hiện nay đã có những nghiên cứu về rối loạn giấc ngủ trong một số bệnh lý, nhưng ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về tình trạng rối loạn chất lượng giấc ngủ ở bệnh nhân bệnh lý tế bào nguồn tạo máu, cũng như lượng hóa tình trạng rối loạn chất lượng giấc ngủ ở những bệnh nhân này. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Rối loạn chất lượng giấc ngủ ở bệnh nhân bệnh lý tế bào nguồn tạo máu” nhằm mục tiêu:
- Nghiên cứu đặc điểm rối loạn chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân bệnh lý tế bào nguồn tạo máu dựa vào thang đánh giá chất lượng giấc ngủ- Pittsbursh Sleep Quality Index- PSQI.
- Tìm hiểu mối liên quan giữa chỉ số PSQI với đặc điểm bệnh, tình trạng thiếu máu, chỉ số ECOG của bệnh nhân bệnh lý tế bào nguồn tạo máu.
2- Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân nhân bị bệnh lý tế bào nguồn tạo máu điều trị tại khoa A7 bệnh viện 103 (nhóm nghiên cứu) và bệnh nhân bị bệnh lý nội khoa điều trị tại một số khoa nội (nhóm đối chứng) trong cùng thời gian từ 1/2011- 3/2012 tuổi trên 18, không phân biệt giới tính.
2.1.1- Tiêu chuẩn chọn cho cả 2 nhóm
- Bệnh nhân không bị rối loạn chất lượng giấc ngủ trước khi phát hiện bệnh lý tế bào nguồn tạo máu (khai thác qua các triệu chứng than phiền về thời gian cũng như chất lượng giấc ngủ).
- Bệnh nhân không bị các bệnh tổn thương thực thể ở não, dị tật bẩm sinh, không bị bệnh ung thư khác.
- Bệnh nhân không có các sang chấn tâm lý trước khi điều trị.
2.1.2- Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân bị bệnh các bệnh kết hợp như: tâm thần, tổn thương não do các nguyên nhân, các bệnh nội khoa mức độ nặng, các bệnh ung thư khác
- Bệnh nhân không hợp tác nghiên cứu và không đủ tiêu chuẩn chọn
2.1.3- Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Đề tài được tiến hành 1/2011- 3/2012, tại bệnh viện 103.
- Các kỹ thuật thực hiện trong đề tài nhằm chẩn đoán bệnh lý tế bào nguồn tạo máu được tiến hành bởi các bác sỹ chuyên ngành huyết học và giải phẫu bệnh tại khoa AM7 và Giải phẫu bệnh- Pháp y Bệnh viện 103.
2.2- Phương pháp nghiên cứu
2.2.1- Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
2.2.2- Cỡ mẫu:
Cỡ mẫu cho nghiên cứu ngang được tính theo công thức:

- n: số bệnh nhân cần nghiên cứu
- Z2 (1-a/2) : ngưỡng xác suất ở mức có ý nghĩa thống kê
Z (1-a/2) (với a = 0,05) = 1,96.
- p: Tỷ lệ bệnh nhân dự kiến có rối loạn giấc ngủ trong nhóm nghiên cứu
- d: Độ chính xác mong muốn
Tham khảo một số nghiên cứu trong và ngoài nước, ứng dụng phương pháp thống kê y học, trong nghiên cứu này, các thông số trên được đề xuất áp dụng là: p= 90%, d= 0,05, vậy cỡ mẫu là

2.2.3- Kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu
- Đánh giá chất lượng giấc ngủ theo “Thang đánh giá chất lượng giấc ngủ PSQI”. Sử dụng chỉ số chất lượng giấc ngủ - Pittsburgh Sleep Quality Index- PSQI là một phương pháp chủ quan đánh giá chất lượng và các yếu tố liên quan đến giấc ngủ. Chỉ số PSQI là tổng hợp điểm của một bảng câu hỏi mà người được hỏi tham gia trả lời gồm 4 câu hỏi có kết thúc mở, 14 câu hỏi khi trả lời cần dựa trên tần suất sự kiện và các mức độ tốt xấu khác nhau (sử dụng những từ đi theo cặp có ý nghĩa đối lập như là công cụ…) trên 7 phương diện: Chất lượng giấc ngủ chủ quan, thời gian để đi vào giấc nhủ, hiệu quả giấc ngủ theo thói quen (tỷ lệ toàn bộ thời gian ngủ và thời gian nằm trên giường), các yếu tố ảnh hưởng đến giấc ngủ, việc sử dụng thuốc kích thích giấc ngủ (bao gồm cả thuốc được kê đơn và không kê đơn) và những bất thường về thời gian ngủ trong ngày. Nếu tổng điểm PSQI của bệnh nhân ³ 5- bệnh nhân được đánh giá là chất lượng giấc ngủ kém.
Cách tính điểm: Bảng câu hỏi PSQI bao gồm một đáp án dưới dạng thang điểm, cho điểm trên 7 phương diện. Nhóm câu hỏi thuộc các lĩnh vực sẽ sắp xếp theo thứ tự tăng dần, dao động từ 0 đến 21 điểm. Mức trung bình lớn hơn hoặc bằng 5 điểm sẽ cho thấy rối loạn chất lượng giấc ngủ. Mức điểm càng cao thì chất lượng giấc ngủ càng thấp.
- Đánh giá tổng trạng bệnh nhân bằng chỉ số hoạt động cơ thể theo ECOG (Eastern Cooperative Oncology Group)
2.2.4- Các chỉ tiêu nghiên cứu
- Đặc điểm đối tượng nghiên cứu (tuổi, giới, phân bố độ tuổi)
- Tỷ lệ các bệnh lý trong nhóm bệnh lý tế bào nguồn tạo máu
- Tỷ lệ bệnh nhân rối loạn giấc ngủ theo các nhóm bệnh.
- Mối liên quan giữa chỉ số PSQI với đặc điểm bệnh, chỉ số toàn trạng (ECOG).
2.3- Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê y học bằng phần mềm Excel.
3- Kết quả và bàn luận
3.1- Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1- Tỷ lệ 2 giới, tuổi trung bình của 2 nhóm nghiên cứu

Nhận xét: Tỷ lệ 2 giới và tuổi đời trung bình của 2 nhóm tương đương nhau
Bảng 3.2- Phân bố độ tuổi của các nhóm

Nhận xét: Nhìn chung phân bố độ tuổi của 2 nhóm nghiên cứu tương đương nhau.
3.2- Đặc điểm rối loạn chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân bệnh lý tế bào nguồn tạo máu.
Bảng 3.3- Chỉ số PSQI trung bình ở 2 nhóm

Nhận xét:
- Chỉ số PSQI chung của cả 2 giới ở nhóm 1 (bệnh nhân bị bệnh lý tế bào nguồn tạo máu) cao hơn nhóm 2 (bệnh nhân không bị bệnh lý tế bào nguồn tạo máu) có ý nghĩa thống kê (p<0,05) .
- Chỉ số PSQI riêng cho từng giới ở nhóm 1 cao hơn chỉ số PSQI tương ứng ở nhóm 2, sự khác biệt có ý nghĩa với p<0,05.
- Tỷ lệ bệnh nhân rối loạn chất lượng giấc ngủ ở nhóm 1 cao hơn có nhóm 2 có ý nghĩa thống kê.
- Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chỉ số PSQI giữa 2 giới ở cả 2 nhóm
Bảng 3.4- Mức độ rối loạn chất lượng giấc ngủ ở 2 nhóm nghiên cứu

Nhận xét:
-Tỷ lệ bệnh nhân chưa biểu hiện rối loạn chất lượng giấc ngủ và RLCLGN nhẹ ở nhóm 1 thấp hơn nhóm 2 có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
- Ở mức độ rối loạn chất lượng giấc ngủ vừa và nặng, tỷ lệ bệnh nhân ở nhóm 1 cao hơn nhóm 2, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Đồ thị 3.1- Tỷ lệ các dạng rối loạn chất lượng giấc ngủ của 2 nhóm nghiên cứu
Nhận xét:
- Tỷ lệ bệnh nhân ngủ ngày ở nhóm 2 cao hơn nhóm 1 có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
- Tỷ lệ bệnh nhân bị ác mộng ở nhóm 1 cao hơn nhóm 2 có ý nghĩa thống kê, sự khác biệt với p<0,05.
- Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2 nhóm về rối loạn giấc ngủ dạng mất ngủ đầu giấc hoặc cuối giấc
Bảng 3.5- Tỷ lệ RLCLGN ở nhóm bệnh nhân bệnh lý tế bào nguồn tạo máu.

Nhận xét:
Đa số nhóm bệnh có tỷ lệ rối loạn chất lượng giấc ngủ cao trên 80%, trong đó cao nhất là các bệnh: đa u tủy xương, bệnh u lympho ác tính, bạch cầu cấp (100%; 93,19% và 84,09% theo thứ tự)
3.3- Mối liên quan giữa chỉ số PSQI với mức độ thiếu máu ở 2 nhóm
Bảng 3. 6- Liên quan giữa mức độ thiếu máu và chỉ số PSQI

Nhận xét:
- Ở nhóm 1 chỉ số PSQI có xu hướng tăng dần theo mức độ thiếu máu, có sự khác biệt về chỉ số PSQI giữa bệnh nhân không thiếu máu và những bệnh nhân có thiếu máu ở cả 2 nhóm nghiên cứu
- Ở mức độ thiếu máu nhẹ, chỉ số PSQI ở nhóm 1 vẫn cao hơn nhóm 2 sự khác biệt có ý nghĩa với p<0,05. (Nhóm 2 không có bệnh nhân thiếu máu nặng)
Bảng 3.7- Liên quan giữa chỉ số PSQI và chỉ số ECOG (Eastern Cooperative Oncology Group) của những bệnh nhân có RLCLGN

Nhận xét: Chỉ số PSQI tăng đồng thời với sự tăng của chỉ số ECOG
PHẦN 4- BÀN LUẬN
4.1- Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Rối loạn chất lượng giấc ngủ (RLCLGN) phụ thuộc nhiều yếu tố. Tuổi càng cao nguy cơ rối loạn chất lượng giấc ngủ càng cao, nữ giới thường bị RLCLGN nhiều hơn nam giới [1]. Tác động của môi trường: Khí hậu, tiếng ồn, điều kiện làm việc cũng ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ của con người. Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn nhóm chứng là những bệnh nhân nằm cùng viện, trong cùng thời gian với nhóm bệnh nhân bệnh lý tế bào nguồn để đảm bảo sự giống nhau về một số điều kiện môi trường bên ngoài như: tiếng ồn, điều kiện khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm…), điều kiện sinh hoạt, điều kiện được hưởng sự chăm sóc của y tế…có thể ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân.
Kết quả tại bảng 3.1; bảng 3.2 cho thấy: Tuổi trung bình của cả 2 nhóm là 51,40 ± 18,76 tuổi và 56,2 ± 16,5 tuổi, nhìn chung phân bố độ tuổi của 2 nhóm nghiên cứu tương đương nhau. Ở độ tuổi này bệnh nhân tương đối ổn định về nhiều mặt trong xã hội, nhưng lại có những thay đổi về nội tiết tố, sức khỏe… điều này có thể làm thay đổi chất lượng giấc ngủ. Tuy nhiên, tỷ lệ 2 giới và tuổi đời trung bình của 2 nhóm tương đương nhau. Như vậy 2 nhóm nghiên cứu có đặc điểm tương đối tương đồng nhau nên sự khác nhau về tình trạng rối loạn giấc ngủ không bị ảnh hưởng bởi yếu tố tuổi và giới.
4.2- Đặc điểm rối loạn chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân bệnh lý tế bào nguồn tạo máu.
Kết quả nghiên cứu tại bảng 3.3 cho thấy: Chỉ số PSQI chung của cả 2 giới ở nhóm 1 (bệnh nhân bị bệnh lý tế bào nguồn tạo máu) cao hơn nhóm 2 (bệnh nhân không bị bệnh lý tế bào nguồn tạo máu) có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Tỷ lệ bệnh nhân rối loạn chất lượng giấc ngủ ở nhóm 1 cao hơn có nhóm 2 có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Chỉ số PSQI riêng cho từng giới ở nhóm 1 cao hơn chỉ số PSQI tương ứng ở nhóm 2, sự khác biệt có ý nghĩa với p<0,05. Theo ghi nhận của chúng tôi, chất lượng giấc ngủ kém chiếm tỷ lệ 63,8% ở nhóm 2 và 82,35% ở nhóm 1. Đây là vấn đề cần lứu ý không chỉ với bệnh nhân bệnh lý tế bào nguồn tạo máu mà cả với các bệnh nội khoa khác. Theo Lê Việt Thắng (2009) [6] nghiên cứu trên những bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ cho biết có 95,15% bệnh nhân có chất lượng giấc ngủ kém (PSQI ³5). Từ những kết quả trên cho thấy dự kiến tỷ lệ bệnh nhân rối loạn chất lượng giấc ngủ trong nghiên cứu của chúng tôi là hợp lý và như vậy cỡ mẫu của chúng tôi đủ điều kiện để kết luận những vấn đề được rút ra từ nghiên cứu.
Chất lượng giấc ngủ tốt là một tiêu chí để đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh. Kết quả trên theo chúng tôi là phù hợp vì: mặc dù chưa có nghiên cứu nào trong nước đề cập đến vấn đề rối loạn chất lượng giấc ngủ ở bệnh nhân bệnh lý tế bào nguồn tạo máu, nhưng theo Lê Việt Thắng (2009) [6] nghiên cứu trên những bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ kết luận: thiếu máu liên quan đến tình trạng rối loạn chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân. Đối với bệnh lý tế bào nguồn tạo máu, hầu hết các bệnh nhân đều có thiếu máu ở các mức độ khác nhau, thiếu máu nặng và xuất hiện sớm là đặc điểm của các bệnh lý máu ác tính. Thiếu máu gây nên tình trạng thiếu oxy của các tổ chức, cơ quan tổ chức nào nhạy cảm với tình trạng thiếu oxy thì cơ quan tổ chức đó sẽ biểu hiện triệu chứng sớm. Não là tổ chức nhạy cảm nhất với tình trạng thiếu oxy. Theo chúng tôi, thiếu oxy não là một yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân.
Theo Kussleilaite N và cộng sự (2005) [7], rối loạn chất lượng giấc ngủ thường gặp ở nữ giới với tỷ lệ cao hơn nam giới, tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi, với số lượng 153 bệnh nhân bệnh lý tế bào nguồn tạo máu và 65 bệnh nhân bị các bệnh nội khoa khác thì chưa thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chỉ số PSQI giữa 2 giới ở cả 2 nhóm. Điều này theo chúng tôi có thể do đặc điểm bệnh lý của bệnh nhân, tuổi đời trung bình của bệnh nhân ở cả 2 nhóm đều trên 50 tuổi.
So sánh 2 nhóm bệnh nhân về mức độ rối loạn chất lượng giấc ngủ, kết quả tại bảng 3.4 cho thấy ở nhóm 1: tỷ lệ bệnh nhân có chỉ số PSQI trung bình trên 10 là 61,44%- cao hơn nhóm 2 có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Ở tất cả các mức độ rối loạn chất lượng giấc ngủ, tỷ lệ bệnh nhân ở nhóm 1 đều cao hơn nhóm 2, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,05. Kết quả này phù hợp với ghi nhận tại bảng 3.5- Tỷ lệ rối loạn chất lượng giấc ngủ ở nhóm bệnh nhân bệnh lý tế bào nguồn tạo máu: Đa số các bệnh máu ác tính có tỷ lệ rối loạn chất lượng giấc ngủ cao trên 80%, trong đó cao nhất là các bệnh: đa u tủy xương (100%), bệnh u lympho ác tính (93,19%) và bệnh bạch cầu cấp (84,09%).
Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân. Trong các bệnh lý của tế bào nguồn tạo máu, thiếu máu là vấn đề quan trọng (đã được đề cập và bàn luận ở phần trên). Tình trạng xâm lấn của tế bào ung thư vào các cơ quan tổ chức gây triệu chứng đau đớn cho bệnh nhân là một yếu tố làm rối loạn chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân. Đặc biệt triệu chứng đau trong các bệnh ác tính lại thường tăng về đêm, điều đó càng làm tăng sự trầm trọng của rối loạn giấc ngủ ở người bệnh. 100% bệnh nhân đa u tủy có chất lượng giấc ngủ kém là một minh chứng cho điều này. Ở bệnh nhân đa u tủy xương, đau xương và thiếu máu là những triệu chứng xuất hiện sớm và nghiêm trọng và nó làm ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân từ rất sớm.
Các bệnh nhân bệnh u lympho ác tính cũng có tỷ lệ rối loạn chất lượng giấc ngủ cao (93,19%). Bệnh nhân bị u ympho ác tính ngoài các triệu chứng như sốt liên tục, xuất hiện khối u to nhanh, toàn trạng suy sụp…, bệnh nhân thường tự biết mình bị ung thư sau vài ngày nằm viện, thông tin này đến với bệnh nhân qua nhiều con đường khác nhau, chủ yếu do bệnh nhân tự tìm hiểu qua những người bị bệnh tương tự cùng nằm viện. Việc biết thông tin bệnh của mình, đặc biệt là bệnh ác tính ít nhiều ảnh hưởng đến tâm lý bệnh nhân và là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng rối loạn giấc ngủ. Trong một số nghiên cứu về tâm lý người bệnh ung thư, vấn đề “thông báo tin xấu” cho người bệnh còn nhiều ý kiến khác nhau [3]. Một số ý kiến cho rằng điều này làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, một số khác cho rằng điều này là cần thiết để tránh những “cú sốc tâm lý” cho người bệnh. Tuy vậy, một vấn đề mà các nghiên cứu đều ghi nhận là rối loạn chất lượng giấc ngủ có thể xảy ra ở những mức độ và thời gian kéo dài khác nhau tùy thuộc trạng thái tâm lý của mỗi bệnh nhân.
Bệnh nhân bị bệnh bạch cầu cấp cũng có tỷ lệ rối loạn chất lượng giấc ngủ cao (84,09%). Các bệnh nhân bị bạch cầu cấp cũng có các triệu chứng tương tự như bệnh đa u tủy, cũng có thể chịu stress tâm lý như bệnh nhân u lympho ác tính, tuy nhiên, đa số bệnh nhân bị bệnh bạch cầu cấp có tuổi đời trẻ, chất lượng giấc ngủ ít bị ảnh hưởng do tuổi, do vậy theo chúng tôi, đó có thể là một nguyên nhân làm tỷ lệ rối loạn chất lượng giấc ngủ ở nhóm bệnh nhân này thấp hơn bệnh nhân đa u tủy xương và u lympho ác tính.
Các nhóm bệnh khác tiên lượng bệnh tốt hơn, triệu chứng lâm sàng nhẹ hơn, tiên lượng thời gian sống thêm dài hơn, các bệnh nhân này có tỷ lệ rối loạn chất lượng giấc ngủ thấp hơn. Điều này cũng lý giải tỷ lệ rối loạn giấc ngủ ở nhóm bệnh nhân bị các bệnh nội khoa khác thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh nhân bệnh lý tế bào nguồn tạo máu.
Đa số bệnh nhân rối loạn chất lượng giấc ngủ thường than phiền về vấn đề mất ngủ. Tuy nhiên, ở mỗi bệnh nhân không chỉ mất ngủ mà thường phối hợp nhiều dạng rối loạn giấc ngủ khác nhau. Một số dạng rối loạn giấc ngủ thường gặp là:
- Rối loạn nhịp thức- ngủ: Bình thường con người ngủ vào ban đêm, lao động, hoạt động vào ban ngày. Khi nhịp thức- ngủ đảo ngược (mặc dù thời gian ngủ vẫn đảm bảo), bệnh nhân vẫn cảm giác mệt mỏi và có thể giảm khả năng lao động chân tay và trí óc.
- Khó đi vào giấc ngủ- Mất ngủ đầu giấc: Đây là dạng rối loạn giấc ngủ thường gặp. Nguyên nhân thường gặp là những nguyên nhân cơ thể, môi trường, tâm lý…. Bệnh nhân thường biểu hiện giấc ngủ đắt quãng, khả năng nối lại giấc ngủ của bệnh nhân rất kém.
- Rối loạn thời lượng giấc ngủ: Bệnh nhân có thể biểu hiện 2 dạng: Giấc ngủ ngắn không đủ so với nhu cầu sinh lý hoặc giấc ngủ quá dài, vượt nhu cầu sinh lý, bệnh nhân buồn ngủ đến mức không thể cưỡng lại.
- Rối loạn thời gian và tỷ lệ các pha của giấc ngủ hoặc các giai đoạn của giấc ngủ. Để chẩn đoán chính xác vấn đề này, cần ghi điện não bệnh nhân khi ngủ [2], [3]. Trong nghiên cứu này, chúng tôi không thực hiện được kỹ thuật ghi điện não khi bệnh nhân ngủ nên không có bàn luận gì về vấn đề này.
Nghiên cứu các biểu hiện rối loạn chất lượng giấc ngủ của 2 nhóm nghiên cứu, kết quả đồ thị 3.1 cho thấy: Tỷ lệ bệnh nhân ngủ ngày ở nhóm 2 cao hơn nhóm 1 có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2 nhóm về rối loạn giấc ngủ dạng mất ngủ đầu giấc hoặc cuối giấc. Tỷ lệ bệnh nhân bị ác mộng ở nhóm 1 cao hơn nhóm 2 có ý nghĩa thống kê, sự khác biệt với p<0,05. Theo chúng tôi, điều này có thể do bệnh nhân nhóm 1 chịu stress tâm lý về bệnh tật nặng nề hơn so với nhóm 2, ám ảnh về cái chết có thể là nguyên nhân gây ác mộng cho bệnh nhân.
4.3- Mối liên quan giữa chỉ số PSQI với một số đặc điểm bệnh nhân
Theo kết quả ở bảng 3.6: Nhóm 1: chỉ số PSQI trung bình có xu hướng tăng dần theo mức độ thiếu máu, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chỉ số PSQI giữa bệnh nhân không thiếu máu và những bệnh nhân có thiếu máu ở cả 2 nhóm nghiên cứu. Ở mức độ thiếu máu nhẹ, chỉ số PSQI ở nhóm 1 vẫn cao hơn nhóm 2 sự khác biệt có ý nghĩa với p<0,05. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Lê Việt Thắng (2009) [6], Kussleikaite N và cộng sự (2005) [7] và Pai MF (2007) [8] về mối liên quan giữa thiếu máu với chỉ số PSQI. Thiếu máu gây nên tình trạng thiếu oxy của não, làm giảm hoạt động điện não và gây nên tình trạng rối loạn giấc ngủ.
Ghi nhận tại bảng 3.7 cho thấy: Chỉ số PSQI tăng đồng thời với sự tăng của chỉ số ECOG. Bệnh nhân có chỉ số ECOG càng cao thì thời gian bệnh nhân nằm tại giường trong ngày càng nhiều, điều này làm ảnh hưởng đến giấc ngủ cả về thời lượng, nhịp thức- ngủ cũng như chất lượng giấc ngủ.
KẾT LUẬN
1- Đặc điểm rối loạn chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân bệnh lý tế bào nguồn tạo máu.
- Rối loạn chất lượng giấc ngủ ở bệnh nhân bệnh lý tế bào nguồn tạo máu là 82,35% với chỉ số PSQI trung bình là: 10,92 ± 4,52. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chỉ số PSQI giữa 2 giới trong nhóm 1 (PSQI trung bình của nam giới: 11,09 ± 4,62 và của nữ giới là 11,52 ± 5,03).
- Tỷ lệ bệnh nhân có chỉ số PSQI trung bình trên 10 là 61,44% - cao hơn nhóm 2 có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
- Tỷ lệ rối loạn chất lượng giấc ngủ cao nhất là các bệnh: đa u tủy xương (100%), bệnh u lympho ác tính (93,19%) và bệnh bạch cầu cấp (84,09%).
- Dạng rối loạn chất lượng giấc ngủ thường gặp là ác mộng: 22,22%- cao hơn nhóm 2 có ý nghĩa thống kê với p<0,05
2- Mối liên quan giữa chỉ số PSQI với đặc điểm bệnh, tình trạng thiếu máu và chỉ số toàn trạng ECOG
- Chỉ số PSQI trung bình tăng theo mức độ thiếu máu, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chỉ số PSQI giữa bệnh nhân không thiếu máu và những bệnh nhân có thiếu máu.
- Chỉ số PSQI tăng đồng thời với sự tăng của chỉ số ECOG.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Nguyễn Văn Chương (2004), “Thực hành lâm sàng thần kinh học”, Nhà xuất bản Y học, tr 81- 84.
- Đỗ Công Huỳnh (1987), “Một số chuyên đề sinh lý học”- Học viện Quân y
- Bùi Quang Huy (2010), “Mất ngủ”, Nhà xuất bản Y học, tr 7- 51.
- Lê Văn Đạt Nhân, Đặng Huy Quốc Thịnh, Nguyễn Minh Hùng và cs (2011), “Thông báo tin xấu, ý nghĩa và tầm quan trọng”, Tạp chí ung thư học Việt Nam, số 3, tr 759- 762.
- Đỗ Trung Phấn (2003), “Bệnh lý tế bào nguồn tạo máu”, Nhà xuất bản Y học, tr 11- 44.
- Lê Việt Thắng (2009), “Ảnh hưởng của thiếu máu đến tình trạng rối loạn giấc ngủ ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ”, Tạp chí Y học thực hành- Bộ Y tế 2009, 11 (686): 55-58.
- Kussleilaite N et al (2005), “Sleep disorders and quality of life in patients on hemodialysis”, Medicina, 41 (1): 69- 74.
- Pai MF et al (2007), “Sleep disturbance in chronic hemodialysis patients: the impact of depression and anaemia”, Ren Fail, 29 (6): 673- 677.
TS Nghiêm thị Minh Châu*.
TS Nguyễn Minh Hiếu ** và cs*









