Tóm tắt
Nghiên cứu nhằm xác định độc tính cấp và đánh giá độc tính bán cấp của bài thuốc DQXH-08 trên chuột. Kết quả cho thấy :
- Với liều tối đa 23,81g/kg (số lượng tối đa chuột có thể uống được) không gây chết chuột trắng sau 72 giờ, chưa xác định được LD50
- Với tổng liều 133,33 g/kg thể trọng dùng liên tục trong 7 ngày không gây chết chuột trong 12 ngày theo dõi. Trọng lượng cơ thể cũng như hình ảnh mô bệnh của gan, lách, thận ở các lô chuột nghiên cứu không thấy biến đổi so với lô chứng
Từ khoá: Đột quỵ xuất huyết não; bài thuốc DQXH - 08, độc tính cấp và bán cấp.
Summary
The study was carried out to identify the acute and subacute toxicity of remedy on white mice. With the maximum oral mouse dose 23.81g per kg of weight, there were no death, so the LD50 was not identified. With the total dose of 133,33g per kg in seven consecutive days, there were no death mice, average weights of total body, liver, spleen and kidney were not significantly different from the control group. No injuries were found in macro and micropathology
Key words: Hemorrhagic stroke; DQXH-08 remedy; Acute, subacute toxicity.
Đặt vấn đề
Đột quỵ não theo Tổ chức Y tế thế giới là một hội chứng lâm sàng được đặc trưng bởi sự mất cấp tính chức năng của não thường khu trú, tồn tại trên 24 giờ hoặc tử vong trong vòng 24 giờ, thương tổn thần kinh tương ứng vùng mạch máu nuôi dưỡng bị tổn thương, không do chấn thương. Đây là bệnh lý có tỷ lệ tử vong cao đứng thứ ba sau bệnh ung thư và tim mach và là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế . Đột quị chảy máu não (ĐQCMN) là một thể trong đột quị não, do vỡ mạch máu, máu chảy vào tổ chức não gây nên. Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, việc chẩn đoán và điều trị bệnh này có hiệu quả cao hơn. Nhằm phát huy vai trò của YHCT trong giai đoạn cấp tính của bệnh, chúng tôi tiến hành xây dựng và nghiên cứu bài thuốc “DQXH - 08” để điều trị bệnh ĐQCMN giai đoạn cấp tính nhằm xác định liều độc cấp và bán cấp của bài thuốc trên động vật thí nghiệm.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1. Chất liệu nghiên cứu
Bài thuốc gồm 18 vị thuốc: Đan sâm, Thủy xương bồ, Hoàng kỳ, Quy vỹ, Bạch truật, Ngũ vị tử, Thiên ma, Câu đằng, Hoàng cầm, Đỗ trọng, Bạch cương tàm, Đại hoàng, Sa nhân, Tam thất, Hồng hoa, Ngưu tất, Trạch tả, Thạch quyết minh.
Bài thuốc được sử dụng dưới dạng thang thuốc sắc, được chiết bằng dây truyền chiết thuốc đóng túi tự động của Hàn Quốc tại Khoa Y học Cổ truyền Bệnh viện 103, Học viện quân y, 240 ml dung dịch tương đương với 240 gam dược liệu thô. Dược liệu được Khoa Dược, Bệnh viện 103 bào chế và cung cấp theo tiêu chuẩn của Dược điển Việt Nam.
2. Đối tượng nghiên cứu
- 120 Chuột nhắt trắng Mus musculus. Trọng lượng 20 ± 2 gam, khoẻ mạnh, không phân biệt giống, bảo đảm các chỉ tiêu sinh lý bình thường. Chuột do Trung tâm nuôi dưỡng động vật thực nghiệm Học viện Quân y cung cấp.
- Chuột được chia thành 2 nhóm, mỗi nhóm chia thành 6 lô, mỗi lô 10 con.
3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu thực nghiệm tại trung tâm Nghiên cứu Độc học Quân sự, Học viện Quân y theo phương pháp của Abraham và Turner R (1965)
+ Phương pháp gây độc tính cấp:
- Chia chuột nhắt thành 6 lô bằng nhau, mỗi lô 10 con.
- Cho chuột uống chế phẩm thuốc một lần duy nhất trong ngày theo các liều tăng dần (liều khởi đầu 0,3g) từ lô 2 đến lô 6. Theo dõi tỷ lệ chuột sống và chết trong 72 giờ. Nhóm đối chứng (lô 1) cho uống nước cất 1 lần 0,2ml/ngày.
+ Phương pháp gây độc bán cấp tính:
Chuột được chia thành các lô như gây độc cấp tính. Cho chuột uống chế phẩm làm 7 lần, mỗi ngày một lần vào một thời gian cố định trong ngày theo các liều tăng dần như lô gây nhiễm độc cấp tính. Theo dõi tỷ lệ chuột sống chết trong 12 ngày (7 ngày trong quá trình gây độc và 5 ngày sau khi gây độc). Nhóm chứng (lô 1) cho uống nước cất 1 lần 0,2ml/ngày.
Tính toán kết quả theo trọng lượng thô của thang thuốc.
Các số liệu được phân tích và xử lý bằng phương pháp thống kê y học, sử dụng phần mềm SPSS 15.0.
Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Kết quả xác định độc tính cấp

Trọng lượng trung bình chuột từ lô 1 đến lô 6 khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Cho chuột uống chế phẩm thuốc với liều khởi đầu 0,3g và tăng dần từ lô 2 đến lô 6 thì chúng tôi thấy với liều 23,81g/kg thể trọng (Số lượng tối đa chuột có thể uống được) không gây chết cho chuột nhắt trắng trong 72 giờ. Vì chuột không chết nên không xác định được LD50 . Một chất được coi là không độc nếu như LD50 của nó lớn hơn 15gam/kg thể trọng [2]. Kết quả nghiên cứu độc tính của bài thuốc cho thấy với liều 23,81 gam/kg thể trọng chuột nhắt trắng vẫn chưa chết, vì thế bài thuốc DQXH-08 không xác định được LD50, có thể coi bài thuốc không có độc tính.
2. Kết quả xác định độc tính bán cấp

Trọng lượng trung bình chuột từ lô 1 đến lô 6 khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Cho chuột uống chế phẩm thuốc với liều khởi đầu 0,2g và tăng dần từ lô 2 đến lô 6 thì chúng tôi thấy với liều tổng liều 133,33 gam/kg thể trọng dùng liên tục trong 7 ngày không gây chết chuột nhắt trắng trong 12 ngày. Tất cả các con chuột sống bình thường,da mượt, không có các biểu hiện bệnh lý.
So sánh với các kết quả của một số tác giả như Nguyễn Văn Hồng (2004) nghiên cứu tác dụng không mong muốn của cao lỏng AAMS điều trị ngoại tâm thu thất; Dương Quang Hiến, Nguyễn Hồng Sơn (2007) nghiên cứu tính an toàn của bài thuốc Tục cốt trên động vật thực nghiệm cho thấy chưa phát hiện được dấu hiệu gây độc của các thuốc trên và các tác giả cũng chưa tìm được liều LD50 và liều độc bán cấp của chế phẩm.

Sau 12 ngày uống thuốc trọng lượng của chuột từ lô 2 (dùng liều thuốc thấp nhất) đến lô 6 (dùng liều thuốc cao nhất) tại các thời điểm nghiên cứu khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với chuột ở lô 1 cho uống nước cất (với p > 0,05).
Sau 12 ngày chuột được giải phẫu để đánh giá về trọng lượng các phủ tạng gan, lách (tính cho 10g trọng lượng cơ thể) và vi thể của gan, lách.

Sau khi dùng chế phẩm 7 ngày liên tục và theo dõi 5 ngày, các chỉ số về trọng lượng gan, lách, thận của chuột trong lô 2 đến lô 6 thay đổi chưa có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng và nhóm dùng thuốc cùng thời điểm (với p>0,05).
Hình ảnh đại thể gan, lách, thận không thấy thay đổi bất thường so với lo chứng. Xét nghiệm giải phẫu bệnh mô gan, lách, thận không phát hiện các thay đổi cấu trúc trên tiêu bản, chứng tỏ chế phẩm “DQXH - 08” không có độc tính với gan, lách, thận.
KẾT LUẬN
Qua kết quả nghiên cứu độc tính cấp và bán cấp của chế phẩm “DQXH - 08” trên 120 chuột nhắt trắng thuần chủng dòng Swiss chúng tôi rút ra kết luận sau:
1. Chưa phát hiện được liều LD50 của chế phẩm “DQXH - 08” khi cho chuột uống với liều tối đa (23,81 g/kg thể trọng) không thấy chuột chết trong 72 giờ theo dõi.
2. Cho chuột uống chế phẩm “DQXH - 08” với tổng liều 133,33 g/kg thể trọng, liên tục trong 7 ngày và theo dõi tiếp trong 5 ngày sau uống thuốc 100% số chuột vẫn sống khoẻ mạnh bình thường. Trọng lượng trung bình toàn bộ cơ thể và trọng lượng trung bình các tạng tính theo 10 g trọng lượng chuột khác biệt chưa có ý nghĩa so với lô chứng. Hình ảnh giải phẫu bệnh đại thể và vi thể của gan, lách, thận ở các lô chuột nghiên cứu không có biến đổi so với lô chứng.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Y tế. Hướng dẫn, nghiên cứu đánh giá tính an toàn và hiệu lực thuốc cổ truyền Việt Nam. Nhà xuất bản Y học. Hà Nộ., 1996.
2. Đỗ Đàm Trung. Phương pháp xác định độc tính cấp của thuốc. Nhà xuất bản Y học. Hà Nội. 1996.
3. Ngô Như Hòa. Thống kê trong nghiên cứu y học. Nhà xuất bản Y học. Hà Nội. 1998, tr. 186-192.
4. Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung, Nguyễn Thượng Dong và cs. Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật. Hà Nội. 2004.
5. Campaniel F., Bonmassar E., Fioretti M.C., et al. Corrlation between in vitro and in vivo studies of immunstimulating artivity in a mouse bacterial infertion model. International Journal of Immunotherapy. 1998. Vol. 4, N02.
TS. Trần Quốc Bảo
BS CKII: Vũ Huy Hải









