TÓM TẮT
Mục tiêu: tìm hiểu đặc điểm lâm sàng và tỷ lệ mắc trầm cảm (TC) ở bệnh nhân (BN) ung thư (UT) mới chẩn đoán. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang 264 BN UT mới được chẩn đoán. Kết quả: tỷ lệ TC: 57,7%, trong đó, TC nhẹ 32,2%, TC vừa 18,8% và TC nặng 6,1%. Nhóm BN lao động chân tay mắc TC chiếm tỷ lệ thấp hơn nhóm lao động trí óc (58,2% so với 61,5%), (p < 0,0001). BN UT giai đoạn I, tỷ lệ mắc TC thấp (47,1%) và không có TC nặng, ngược lại giai đoạn III, IV tỷ lệ mắc TC cao, mức độ và tỷ lệ TC nặng tăng dần theo giai đoạn bệnh.
* Từ khóa: Trầm cảm; Ung thư.
Research on Depressive Syndrome in Patient with Newly Diagnosed Cancer
Summary
Objectives: To identify clinical characteristics and rate of depression in patients with newly diagnosed cancer. Subjects and method: A prospective and cross-sectional study on 264 patients with newly diagnosed cancer. Results: The rate of depression was 57.7%, including 32.2% mild depression, 18.8% morderate depression and severe depression was found in 6.1%. The rate of depression of manual labor patients was lower than intellectual work group (58.2 compared with 61.5), p < 0.0001. Patients with stage I cancer, the incidence of depression (47.1%) and no severe depression, with stage III, IV high incidence of depression, level and incidence of depresstion increases with cancer staging.
* Key words: Depresstion; Cancer.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư là bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong hàng đầu trong số các bệnh không lây nhiễm. BN UT thường phải điều trị lâu dài, chi phí tốn kém nhưng hiệu quả thấp. Ngày nay, nhờ vào hiểu biết và tiến bộ của khoa học và công nghệ, điều trị UT đã đạt hiệu quả đáng kể, nhưng do bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn muộn nên tỷ lệ khỏi bệnh vẫn rất thấp. Vì vậy, hầu hết BN và gia đình thường rơi vào trạng thái lo lắng, sợ hãi. Tình trạng này kéo dài sẽ khiến BN mắc hội chứng TC.
Nhiều nghiên cứu cho thấy hầu hết các trường hợp khi được chẩn đoán UT đều rất căng thẳng, lo lắng kéo dài, đau buồn khi biết mình bị bệnh hiểm nghèo. Điều này khiến cho bệnh ngày thêm trầm trọng. Người thầy thuốc phải làm gì và phải thông báo tình trạng bệnh đó như thế nào để có lợi nhất cho người bệnh và gia đình của họ.
Tình trạng TC ở BN UT do nhiều nguyên nhân: do khối UT gây ra, chấn thương tâm lý, do các biện pháp điều trị UT như hóa chất, tia xạ...
Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ TC ở BN UT rất cao, có thể lên tới 60 - 80%, với biểu hiện và mức độ khác nhau. Các triệu chứng thường gặp: khí sắc giảm, nét mặt rất đơn điệu, BN mất hết hứng thú và sở thích vốn có của mình, mệt mỏi hay mất năng lượng, chán ăn, khó ngủ, ngủ không sâu hoặc không có khả năng ngủ, khó tập trung, khó ghi nhớ, hoặc đưa ra quyết định, thậm chí có BN muốn nhanh chóng kết thúc cuộc đời của mình.
Các bác sỹ đều nhận thấy tình trạng TC ở BN UT khiến bệnh cảnh lâm sàng phức tạp hơn, khó điều trị hơn, nguy cơ tử vong cao hơn. Vì vậy, phát hiện sớm và điều trị hội chứng TC cho BN là điều mà các bác sỹ UT cần phải quan tâm. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Do vậy, chúng tôi tiến hành đề tài với mục tiêu: Tìm hiểu đặc điểm, tỷ lệ mắc TC ở BN UT mới chẩn đoán.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu.
- 264 BN UT mới được chẩn đoán, điều trị nội trú tại Khoa Ung bướu, Bệnh viện Quân y 103.
- Thời gian: từ tháng 03 đến 12- 2012.
* Tiêu chuẩn chọn mẫu:
- BN > 18 tuổi.
- BN có quá trình tiến triển của bệnh lý UT trên lâm sàng, được chẩn đoán xác định bằng kết quả giải phẫu bệnh lý.
- BN đồng ý tham gia phỏng vấn và trả lời các câu hỏi.
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- BN quá yếu, không đủ khả năng hoàn thành bảng câu hỏi phỏng vấn.
- BN hợp tác không tốt, trả lời không đầy đủ các câu hỏi.
2. Phương pháp nghiên cứu.
* Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang.
- Thu thập số liệu theo mẫu thống nhất.
- Hình thức thu thập số liệu: thực hiện phỏng vấn, khám và đánh giá trực tiếp trên BN.
- Đánh giá trầm cảm.
Sử dụng thang đánh giá trầm cảm rút gọn của BECK (BDI) gồm 21 đề mục được đánh số từ 1 - 21, mỗi đề mục có 3 câu lựa chọn. Hướng dẫn BN, trong mỗi đề mục chọn ra 1 câu mô tả gần giống nhất tình trạng mà BN cảm thấy trong 1 tuần. BN hoặc bác sỹ khoanh tròn vào câu trả lời và không được bỏ sót đề mục nào.
Tổng thang điểm 63 điểm (21 đề mục x 3 điểm).
Thang điểm BECK được tính như sau:
+ Nghiệm pháp BECK: < 14 điểm: không TC.
+ Nghiệm pháp BECK: từ 14 - 19 điểm: TC nhẹ.
+ Nghiệm pháp BECK: từ 19 - 29 điểm: TC vừa.
+ Nghiệm pháp BECK: ≥ 30 điểm: TC nặng.
+ Điểm từ đề mục 1 - 15 chiếm ưu thế, là biểu hiện TC nội sinh.
+ Nếu số điểm từ đề mục 16 - 21 chiếm ưu thế, đó là biểu hiện TC tâm căn hay TC cơ thể.
- Xử lý số liệu: bằng chương trình tính toán chuyên dụng SPSS 15.0 (Stastical Package for Social Sciences 15.0).
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Một BN UT có thể cảm thấy mất kiểm soát cuộc sống do những thay đổi trong cơ thể. Họ đau khổ, lo sợ, nghĩ đến cái chết, hoặc tất cả những điều chưa biết phía trước.
Trầm cảm ở BN UT do nhiều nguyên nhân như: chấn thương tâm lý, khối UT gây ra, do các biện pháp điều trị UT như hóa chất, tia xạ… Đánh giá, phát hiện TC sớm để điều trị, dự phòng nhằm nâng cao chất lượng sống cho người bệnh, đồng thời góp phần tăng hiệu quả điều trị bệnh UT.
Nghiên cứu ở Mỹ cho thấy 35 - 50% BN UT có rối loạn tâm thần, khoảng 66% BN lo âu và TC, trong đó 15% có TC nặng. Ở Việt Nam, theo Bùi Quang Huy, khoảng 85% BN UT có những biểu hiện TC. Trong nghiên này, chúng tôi sử dụng thang đánh giá trẩm cảm rút gọn của BECK (BDI).
* Đặc điểm của nhóm nghiên cứu: 264 BN có tuổi trung bình 53,5 ± 12,3, trong đó, nam 54,5 ± 14,2, nữ 51,7 ± 13,4 tuổi. BN nam 63,6%, nữ 36,4% (tỷ lệ nam/nữ là 1,7/1).
Tỷ lệ mắc chung ở cả 2 giới cao nhất là UT phổi (19,0%), tiếp đến là dạ dày (17,18%), gan (15,2%), ở nữ cao nhất là UT vú (25,9%),
* Đặc điểm nơi cư trú của nhóm nghiên cứu (n = 264 BN):
Thành thị: 107 BN (40,5%); nông thôn: 157 BN (59,5%).
BN ở khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị và khu vực miền núi có tỷ lệ thấp.
* Đặc điểm nghề nghiệp của nhóm nghiên cứu (n = 264 BN):
Lao động tay chân: 142 BN (53,8%); lao động trí óc: 57 BN (21,6%); hưu trí và người cao tuổi: 65 BN (24,6%)
BN lao động chân tay chiếm tỷ lệ cao nhất, nhóm lao động trí óc và người hưu trí, người cao tuổi tương đương nhau.
Bảng 1: Tỷ lệ phân theo giai đoạn bệnh của nhóm nghiên cứu.

Trong nhóm nghiên cứu, BN phát hiện bệnh ở giai muộn, giai đoạn III và IV chiếm 63,8%.
* Một số triệu chứng TC thường gặp ở nhóm nghiên cứu:
Cảm giác buồn chán: 187 BN (70,8%); rối loạn giấc ngủ: 185 BN (70,1%); hồi hộp, lo lắng: 175 BN (66,3%); khí sắc giảm: 156 BN (59,1%); chán ăn, ăn không ngon: 149 BN (56,4%); giảm hoạt động: 131 BN (49,6%); giảm chú ý và trí nhớ: 123 BN (46,6%); mất hứng thú và sở thích: 118 BN (44,7%); bi quan về tương lai: 87 BN (32,9%); tự ti, mặc cảm: 64 BN (24,2%).
Các triệu chứng thường gặp trong nghiên cứu:
- Khí sắc giảm: nét mặt của BN rất đơn điệu do buồn rầu vì mắc bệnh nan y.
- Mất hứng thú và sở thích: BN mất hết các sở thích vốn có của mình, với họ cuộc đời là những tháng ngày thật nặng nề, vô vị.
- Mệt mỏi, buồn chán (70,8%): BN luôn than phiền mệt mỏi, lúc nào cũng thấy buồn chán. Điều này có thể lý giải do khối u ác tính phát triển, BN ăn uống kém, mất ngủ, do lo phải phẫu thuật, dùng thuốc chống UT, chạy tia xạ, chi phí tốn kém...
- Mất ngủ, khó ngủ, ngủ không ngon giấc (70,1%): BN khó ngủ, hay thức giấc giữa chừng, ngủ dậy sớm (khoảng 2 - 3 giờ sáng) mà không ngủ lại được, một số BN mất ngủ hoàn toàn khi biết mắc bệnh UT.
- Thường xuyên hồi hộp, lo lắng quá mức (66,3%): BN luôn lo lắng về bệnh tật, thường hồi hộp, bồn chồn có lúc đứng ngồi không yên. Họ luôn cho rằng bệnh của mình rất nặng, không thể chữa khỏi... Do quá lo lắng về bệnh tật, họ không còn quan tâm gì đến các vấn đề khác đang diễn ra trong cuộc sống.
- Chán ăn, ăn không có cảm giác ngon miệng (56,4%): BN thường ăn ít, không ngon và sút cân, thậm chí nhiều BN có cảm giác buồn nôn.
- Giảm hoạt động (49,6%): BN giảm hứng thú với công việc, không muốn hoạt động, uể oải, mệt mỏi, có lúc cảm thấy như vô lực.
- Giảm sự tập trung và trí nhớ kém (46,6%): BN giảm khả năng tập trung chú ý và giảm sút trí nhớ, đặc biệt nhớ gần rất kém. Người thân của họ thường than phiền rằng BN nói trước quên sau, để đâu quên đó.
- Bi quan, chán nản (32,9%): BN luôn trong tình trạng bi quan, chán nản, cho rằng bệnh UT không thể điều trị khỏi, tương lai mờ mịt, cuộc sống của mình đã hết, mọi thành quả mà bao năm họ gây dựng phút chốc đã tiêu tan.
- Tự ti, mặc cảm (24,2%): BN cảm thấy mình trở nên vô ích, là gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Kết quả này phù hợp với nghiên cứu rối loạn TC và lo âu ở 60 BN UT dạ dày của Trịnh Quỳnh Giang (2005).
Bảng 2: Kết quả đánh giá TC theo nghiệm pháp BECK của nhóm nghiên cứu.

Số BN TC chiếm 57,7%, trong đó, 6,1% BN TC nặng, nhẹ 32,2% và vừa 18,6%. Trịnh Quỳnh Giang gặp TC nhẹ 35%, vừa 30% (tổng số 65%) cao hơn nghiên cứu của chúng tôi, nhưng tác giả lại không gặp TC nặng.
Bảng 3: Kết quả đánh giá TC theo nghề nghiệp ở nhóm nghiên cứu.

Ở nhóm lao động chân tay, không TC chiếm tỷ lệ cao nhất (47,2%), nhóm lao động trí óc, người hưu trí và người cao tuổi tương đương nhau. Ở nhóm TC nhẹ, cả 3 nhóm có tỷ lệ tương đương nhau. Đối với mức độ TC vừa và nặng, nhóm người lao đồng trí óc và người hưu trí chiếm tỷ lệ cao hơn so với nhóm người lao động chân tay, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001).
Bảng 4: Kết quả đánh giá TC theo giới của nhóm nghiên cứu.

Phân tích so sánh mức độ TC theo giới ở nhóm nghiên cứu thấy tỷ lệ không TC và TC nhẹ ở nam cao hơn nữ (p < 0,05), ngược lại, mức độ TC vừa và nặng ở nữ cao hơn nam, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01).
Bảng 5: Tỷ lệ BN TC theo giai đoạn UT của nhóm nghiên cứu.

Theo giai đoạn bệnh, nhóm BN UT giai đoạn I tỷ lệ không TC chiếm tỷ lệ cao (52,9%) và không có BN nào TC nặng, ngược lại nhóm BN UT giai đoạn IV, tỷ lệ TC nặng chiếm tỷ lệ cao nhất (18,5%). So sánh về tỷ lệ và mức độ TC thấy: tỷ lệ TC nặng tăng dần theo giai đoạn bệnh, so sánh mức độ TC với các giai đoạn bệnh thấy khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu khác, giai đoạn bệnh càng muộn thì tỷ lệ TC càng cao và mức độ TC càng nặng.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu hội chứng TC trên 264 BN UT mới được chẩn đoán, chúng tôi rút ra một số kết luận:
- Các triệu chứng TC hay gặp ở BN UT là: mệt mỏi, buồn chán (70,8%), rối loạn giấc ngủ (70,1%), khí sắc giảm (59,1%) và chán ăn (56,4%).
- Tỷ lệ TC ở BN UT 57,7%, trong đó, TC nhẹ 32,2%, TC vừa 18,8% và TC nặng 6,1%.
- Nhóm BN lao động chân tay bị TC chiếm tỷ lệ thấp hơn nhóm lao động trí óc (58,2% so với 61,5%), p < 0,0001. Mức độ TC vừa và nặng ở nhóm lao động trí óc và người hưu trí chiếm tỷ lệ cao hơn so với nhóm lao động chân tay, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001).
- Theo giai đoạn bệnh, nhóm BN UT giai đoạn I, tỷ lệ không mắc TC cao (52,9%) và không có TC nặng, ngược lại, nhóm BN UT giai đoạn IV, tỷ lệ TC nặng chiếm tỷ lệ cao nhất (18,5%), mức độ và tỷ lệ TC nặng tăng dần theo giai đoạn bệnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế Việt Nam. Những hướng dẫn về chăm sóc giảm nhẹ cho BN UT và AIDS, Quyết định số 3483/QD-BYT. 2006.
2. Nguyễn Bá Đức. Chăm sóc và điiều trị triệu chứng cho BN UT. Nhà xuất bản Y học. 2009, tr.11-51.
3. Trịnh Quỳnh Giang. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn TC và lo âu ở BN UT dạ dày. Luận văn Thạc sỹ Y học. Học viện Quân y. 2005.
4. Cam Ngọc Thúy và CS. Quan điểm của BN và thân nhân trong việc cung cấp thông tin cho BN UT. Tạp chí Y học TP. HCM. 2010, 4 (4), tr.781-788.
5. Beck AT, Ward CH, Mendelson M, Mock J, Erbaugh J. An inventory for measuring depression. Psychiatry. 1961, 4 (6), pp.71-561.
6. Blazeby JM, Alderson D, Winstone K, Steyn R, Hammerlid E, Arraras J, et al Development of an EORTC questionnaire module to be used in quality of life assessment for patients with oesophageal cancer. European Journal of Cancer. 1996, 32 (11), pp.7-1912.
7. Fayers P, Bottomley A. Quality of life research within the EORTC-the EORTC QLQ-C30". European Journal of Cancer, 2002, 38, pp.33-125.
8. Breitbart W, Rosenfeld B, Tobias K, Pessin H, Ku GY, Yuan J, Wolchok J. Depression, cytokines, and pancreatic cancer. Psychooncology, doi: 10.1002/pon.3422 2013.
9. Que JC, Sy Ortin TT et al. Depressive symptoms among cancer patients in a Philippine tertiary hospital: Prevalence, Factors, and Influence on Health-Related Quality of Life. J Palliat Med. 2013, 16 (10), pp.1280-1284.
10. Reyes-Gibby CC, Anderson KO, Morrow PK, Shete S, Hassan S. Depressive symptoms and health-related quality of life breast in cancer survivors. J Womens Health. 2012, 21 (3), pp.311-318.
Nguyễn Kim Lưu*; Dương Trung Kiên**









